LUẬN VĂN: Tỉnh uỷ bắc giang lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông Trong giai đoạn hiện nay - Pdf 15

LUẬN VĂN: Tỉnh uỷ bắc giang lãnh đạo phát triển
giáo dục phổ thông Trong giai đoạn hiện nay
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

đào tạo ngày càng đa dạng và mở rộng hơn, nhiều hỡnh thức giỏo dục được triển khai
như: chính quy, tại chức, giáo dục thường xuyên, giáo dục từ xa Chất lượng giỏo dục ở
cỏc cấp học và trỡnh độ đào tạo có chuyển biến. Nội dung dạy học và kiến thức của học
sinh phổ thông đó cú tiến bộ, toàn diện hơn. Trỡnh độ hiểu biết, năng lực tiếp cận tri thức
mới của học sinh, sinh viên được nõng cao. Cụng tỏc quản lý chất lượng giáo dục được
đặc biệt chú trọng
Tuy nhiên đứng trước yêu cầu thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước và hội nhập hợp tác quốc tế, đũi hỏi nguồn nhân lực phải có chất
lượng cao, thỡ nền giỏo dục nước nhà nói chung và giáo dục phổ thông núi riờng cũn bộc
lộ nhiều mặt bất cập, yếu kộm. Chúng ta đang đứng trước nhiều thách thức lớn. Cơ cấu
hệ thống giáo dục quốc dân chưa đồng bộ, thiếu tính liờn thụng giữa cỏc cấp học và cỏc
trỡnh độ đào tạo. Chất lượng và hiệu quả của giáo dục đào tạo cũn hạn chế về kiến thức,
kỹ năng, phương pháp tư duy khoa học cũn thấp hơn so với trỡnh độ của các nước tiên
tiến trong khu vực. Nội dung giáo dục tuy được đổi mới nhưng cũn nhiều mặt hạn chế.
Đội ngũ giáo viên và cỏn bộ quản lý giỏo dục cũn nhiều điểm bất cập, chưa đáp ứng được
nhiệm vụ giáo dục trong thời kỳ mới Với đũi hỏi từ thực tiễn hiện nay, Đảng cần tăng
cường hơn nữa sự lónh đạo đối với công tác giáo dục và đào tạo.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển về kinh tế - xó hội, ngành giáo dục,
đào tạo tỉnh Bắc Giang đó đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Quy mô cơ sở giáo dục
đào tạo ngày càng được mở rộng; đa dạng hoỏ loại hỡnh đào tạo, đáp ứng nhu cầu học
tập của người dân. Chất lượng giáo dục từng bước được nâng lên ở tất cả các cấp học. Tỷ
lệ học sinh lên lớp và đỗ vào các trường đại học, cao đẳng năm sau cao hơn năm trước.
Bắc Giang là tỉnh được xếp thứ 10 trong các tỉnh, thành phố của toàn quốc về chất lượng
giáo dục. Đội ngũ giáo viên cơ bản đáp ứng được yêu cầu giảng dạy
Bắc Giang cách Thủ đô Hà Nội 50 km về phía Bắc và nằm trên hành lang kinh tế
Hà Nội - Hải Phũng - Quảng Ninh nên có điều kiện phát triển kinh tế công nghiệp trong
tương lai gần. Những năm gần đây, nguồn vốn FDI được đầu tư vào tỉnh, thu hỳt hàng

nghỡn lao động địa phương. Yêu cầu đặt ra đối với địa phương là phải đáp ứng yêu cầu
chất lượng nguồn nhân lực. Vỡ vậy Tỉnh uỷ Bắc Giang đó đặc biệt quan tâm phát triển

XB.01553/XB-QLXD 1/7/1999.
- Đỗ Mười "Phát triển mạnh giáo dục-đào tạo phục vụ đắc lực sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước" , Nxb Giỏo dục - mó số:8G230M6.
- Nguyễn Trọng Bảo (1996), Gia đình, nhà trường, xã hội với việc phát hiện, tuyển
chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ người tài, Nxb Giáo dục, Hà Nội;
- Phạm Minh Hạc (1966), Phát triển giáo dục - phát triển con người - phục vụ phát
triển kinh tế xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội;
- Vũ Đình Cự (chủ biên) (1999), Giáo dục hướng tới thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội;
- Nguyễn Hữu Châu (1999), Về định hướng chiến lược giáo dục đầu thế kỷ XXI của
một số nước trên thế giới, Viện Khoa học giáo dục;
- Phạm Minh Hạc (1997), Giáo dục nhân cách. Đào tạo nhân lực, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội;
- Phạm Minh Hạc (1999), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội;
- Phạm Minh Hạc (2001), Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
- Nguyễn Đăng Tiến (chủ biên) (1996), Lịch sử giáo dục Việt Nam, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
- Luận cứ khoa học cho vịêc đổi mới chớnh sỏch xó hội, (1994) Chương trỡnh khoa
học- cụng nghệ cấp nhà nước KX.04.
- Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 (2002) Nxb Giáo dục, Hà Nội.
- Đặng Hữu "Phỏt triển kinh tế tri thức, rỳt ngắn quỏ trỡnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước" (2001), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
-"Phát triển giáo dục đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, từng bước phát triển kinh tế trí thức". Kỷ yếu hội thảo khoa
học: Kinh tế tri thức với đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam trong thập niên đầu của thế

kỷ XXI. Đại học Kinh tế Quốc dân, 8/2002
- Nguyễn Thị Bỡnh (2008) Suy nghĩ về chiến lược con người trong giai đoạn mới".

- Nguyễn Thành Phương (1998), Đảng bộ An Giang thực hiện đường lối giáo dục
trong thời kỳ đổi mới (1986 - 1996), Luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh;
Các đề tài, cụng trỡnh nghiờn cứu, bài viết nờu trờn đó phõn tớch khỏ đầy đủ
thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục- đào tạo ở nước ta hiện nay. Tuy
nhiờn cũng cũn nhiều ý kiến khỏc nhau về quan điểm, phương pháp, cách thức nâng
cao chất lượng giáo dục đào tạo, chưa có đề tài nào đi sâu khảo sát, nghiên cứu một
cách toàn diện, cú hệ thống về sự lónh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang đối với giáo
dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Trên cơ sở những phân tích lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất một số giải pháp
có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Bắc Giang
đối với phát triển giáo dục phổ thông đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá của tỉnh giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Phân tích làm rõ vị trí, vai trò khách quan, tính tất yếu về sự lãnh đạo của Đảng đối
với phát triển giáo dục phổ thông trong cách mạng xã hội chủ nghĩa;
- Đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên nhân của ưu điểm, khuyết điểm và bài học
kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Bắc Giang đối với phát triển giáo dục phổ thông;
- Đề xuất những giải pháp có tính khả thi, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ
Bắc Giang đối với phát triển giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là sự lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông của Tỉnh uỷ Bắc
Giang.
Luận văn tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Bắc Giang đối với phát triển
giáo dục phổ thông, trong thời gian từ năm 2000 đến nay. Những giải pháp đưa ra có giá

trị đến năm 2015 và 2020.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn Chương 1
TỈNH UỶ BẮC GIANG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG HIỆN NAY
– Cơ sở Lí LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. QUAN NIỆM, VỊ TRÍ, VAI TRề CỦA GIÁO DỤC VÀ GIÁO DỤC PHỔ THễNG
1.1.1. Quan niệm, vị trí, vai trũ của giỏo dục
Hiện nay trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về giáo dục. Theo từ điển
Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà nẵng, Trung tâm từ điển học, Hà Nội -
Đà Nẵng xuất bản năm 2006, giáo dục có hai nghĩa chính:
Thứ nhất (là động từ) chỉ “ hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự
phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó làm cho đối tượng ấy dần dần có
được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra. Thứ hai (là danh từ) chỉ “hệ thống
các biện pháp và cơ quan giảng dạy- giáo dục của một nước [65, tr.394].
Trước C.Mỏc, cỏc nhà xó hội học cũn nhầm lẫn hoặc cố tỡnh đánh đồng hiện tượng
giáo dục của con người với hoạt động bản năng tự nhiên của sinh vật. Tiếp thu tri thức
của khoa học, C.Mác và F.Ănghen lý giải nguồn gốc loài người và nguồn gốc tri thức
(trong đú cú nguồn gốc của giỏo dục). Trong xó hội nguyờn thuỷ, con người có nhu cầu
truyền thụ và lĩnh hội tri thức giữa cỏc thành viờn trong cụng xó thị tộc - hiện tượng giáo
dục xuất hiện, là giáo dục nguyên thuỷ với đặc điểm là giỏo dục bỡnh đẳng cho mọi
người. Quỏ trỡnh giỏo dục nảy sinh chớnh trong quỏ trỡnh lao động sản xuất và quan hệ
xó hội. Mỗi người lao động vừa là người dạy vừa là người học. Giáo dục chính là những
tri thức cần thiết cho đời sống như kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm chống sự đe doạ
của thiên nhiên.
Cuối thời kỳ cụng xó thị tộc, do xuất hiện kẻ giàu, người nghèo nên giáo dục mất đi
tớnh bỡnh đẳng mà thay vào đó là giáo dục mang tính giai cấp, thể hiện ở mục đích, nội
dung, phương phỏp, hỡnh thức, tớnh chất của nền giỏo dục, của phạm trự giỏo dục.

sinh để buộc học sinh phải suy luận - đó chính là phương pháp, là con đường để trẻ nhận
thức thế giới tốt nhất.
Tômát Morơ quan niệm giỏo dục phải bỡnh đẳng cho mọi trẻ em, giáo dục bằng

tiếng mẹ đẻ và coi trọng tự nhiên. Giáo dục đề cao phương phỏp trực quan, thớ nghiệm
và thực hành trong quỏ trỡnh dạy học cho học sinh. Đồng thời giáo dục phát triển trẻ em
về nhiều mặt như: thể chất, đạo đức, trí tuệ và kỹ năng lao động.
J.A.Comenxki quan niệm giáo dục phải phù hợp với tự nhiên; con người là thực thể
của tự nhiên, mà tự nhiên diễn ra theo quy luật của nó nên giáo dục con người cũng phải
tuõn theo quy luật của tự nhiờn. Mỗi khi xõy dựng lý luận giỏo dục hoặc tổ chức cỏc hoạt
động giáo dục thực tiễn, ông luôn đối chiếu với sinh hoạt của cỏ cây, hoa lá xem phù hợp
với tự nhiên hay không. Ông quan niệm sự phù hợp với quy luật tự nhiên của trẻ em thể
hiện ở các giai đoạn phát triển theo lứa tuổi. Ông là người đầu tiên trong lịch sử tổ chức
học sinh theo lớp và học theo bài. Chương trỡnh giỏo dục của học sinh được ấn định với
nội dung nhất định và được chia thành bài. Trong quỏ trỡnh học tập được chia thành năm
học. Ông quan niệm nguyên tắc dạy học phải mang tính trực quan, dạy học phải vừa sức,
có hệ thống, liên tục, thực tiễn và phải đảm bảo tính bền vững. Quan niệm đó của ông
đến nay cũn nguyờn giỏ trị.
J.J.Ruxô đưa ra quan điểm: Giáo dục tự nhiên và tự do. Muốn giáo dục con người
phải căn cứ vào đặc điểm tự nhiờn của chỳng, trong quỏ trỡnh giỏo dục khụng được áp
đặt trẻ về phía người lớn mà phải căn cứ vào đặc điểm tự nhiên của trẻ để giáo dục và
giáo dục trẻ một cách tự do. Ông chia trẻ em thành bốn thời kỳ lứa tuổi và mỗi thời kỳ có
đặc điểm riờng của chỳng. Vỡ vậy giỏo dục phải tuõn theo sự phỏt triển của từng thời kỳ
lứa tuổi.
Quan niệm giáo dục theo mụ hỡnh: “Nhà trường mới” của Reddie được áp dụng
đầu tiên ở nước Anh sau đó lan sang Mỹ, Pháp, Bỉ, Thuỵ Sỹ, rồi trở thành hiện tượng
quốc tế rộng rói. “Nhà trường mới” coi trọng hoạt động thể dục thể thao, tăng cường
luyện tập, đi dạo, quan sát. Lý luận đi sau thực tiễn. Việc giảng dạy phải dựa vào hoạt
động cá nhân, đáp ứng hứng thú của trẻ em, gọi là phương pháp tích cực và tự do; mỗi
ngày trẻ em học hai môn và giảng dạy ngoại ngữ bằng phương phỏp trực tiếp. Tổ chức

nghĩa là dạy, giáo dục và thực tiễn về tất cả các ngành sản xuất chủ yếu, cho các trẻ em
trai, gái từ 16 tuổi trở xuống; kết hợp chặt chẽ công tác giáo dục với công tác lao động
sản xuất xó hội; nhà nước đài thọ cho toàn thể học sinh các khoản chi phí về ăn, mặc và

các dụng cụ học tập. V.I. Lê nin làm phong phú thêm tư tưởng giáo dục kỹ thuật tổng hợp
do Mác nêu lên bằng sự chỉ dẫn cụ thể, đó là: Giáo dục kỹ thuật tổng hợp là vấn đề có
tính nguyờn tắc của nền giỏo dục xó hội chủ nghĩa; tránh chuyên môn hoá quá sớm, đồng
thời mở rộng các môn học phổ thông trong các trường chuyên; sử dụng mọi lực lượng xó
hội vào việc giỏo dục kỹ thuật tổng hợp, mở bảo tàng, triển lóm về giỏo dục khoa học kỹ
thuật.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp giáo dục. Trong
bất kỳ giai đoạn cách mạng nào, dù ở trong hoàn cảnh nào, Người cũng là chiến sỹ tiên
phong đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra
đấu tranh giành tự do, độc lập, giải phóng họ khỏi ách áp bức, bóc lột và thống trị của
thực dân phong kiến; khỏi sự ràng buộc của hệ tư tưởng, tập quán lạc hậu, vươn lên làm
chủ văn hoá, làm chủ vận mệnh và tương lai của chớnh mỡnh.
Cùng với thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám, Người đó khai sinh nền giỏo
dục mới, tiến bộ, một nền giỏo dục dân tộc, khoa học và đại chúng, đặt nền móng cho
nền quốc học nhân dân của chúng ta. Hồ Chí Minh quan niệm rằng: Một dân tộc dốt là
một dân tộc yếu. Vỡ vậy ngay từ buổi đầu mới giành được độc lập trong bộn bề khó khăn
của kinh tế và đời sống, thù trong và giặc ngoài, Người đó kờu gọi toàn dõn ra sức thực
hiện đồng thời ba nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp bách là diệt giặc đói, giặc dốt và
giặc ngoại xâm. Nhờ vậy, sau khi cách mạng thành công không lâu, chúng ta từng bước
thanh toán được giặc dốt; động viên toàn dân tham gia tích cực vào công việc kháng
chiến và kiến quốc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là người đề xướng nhiều chủ trương đúng đắn về giáo
dục như: phổ cập giáo dục sơ học, từng bước nõng cao trỡnh độ học vấn phổ thông cho
người lao động, đào tạo cán bộ, đào tạo nhân tài trong các giai cấp, các tầng lớp, các dân
tộc để thực hiện sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và của dân tộc.
Trong suốt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, toàn Đảng, toàn

trường thích ứng với nội dung, phương pháp của bậc giáo dục này.
Theo quan niệm của J.J.Ruxô, muốn giáo dục con người phải căn cứ vào đặc điểm
tự nhiờn của chỳng, vỡ vậy giáo dục phải tuân theo sự phát triển của trẻ để giáo dục trẻ.

Ông cho rằng bậc giáo dục phổ thông từ 11 đến 15 tuổi. Đây là thời kỳ dạy chữ, là thời trí
dục. Ông đó cho nhiều chỉ dẫn quan trọng về dạy học cho trẻ em bằng phương pháp thực
nghiệm.
Hiện nay ở nước ta, giáo dục phổ thông gồm giáo dục tiểu học được thực hiện trong
5 năm học, từ lớp một đến lớp năm. Tuổi của học sinh vào lớp một là 6 tuổi. Giáo dục
phổ thông là cấp học không những bắt đầu dạy kiến thức khoa học cơ bản mà quan trọng
là dạy học sinh cách làm người cả về đạo đức, nhân cách Giáo dục trung học cơ sở
được thực hiện trong 4 năm học, từ lớp 6 đến lớp 9. Học sinh vào học lớp 6 phải hoàn
thành chương trỡnh tiểu học, cú tuổi là 11. Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện
trong 3 năm học, từ lớp 10 đến lớp 12. Học sinh vào học lớp 10 phải có bằng tốt nghiệp
trung học cơ sở, có tuổi là 15. Giỏo dục tiểu học nhằm giỳp học sinh hỡnh thành những
cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn, lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và
các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở. Giáo dục trung học cơ sở
giỳp học sinh củng cố và phỏt triển những kết quả của giỏo dục tiểu học; cú trỡnh độ học
vấn phổ thụng ở trỡnh độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp
để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Nội dung giáo dục phổ thông phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn diện,
hướng nghiệp và cú hệ thống, gắn với thực tiễn cuộc sống, phự hợp với tõm sinh lý lứa
tuổi học sinh. Giáo dục phổ thông đảm bảo cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết
về tự nhiờn, xó hội và con người; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tớnh toỏn;
cú thúi quen rốn luyện thõn thể, giữ gỡn vệ sinh; cú hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm
nhạc, mỹ thuật; phát triển những nội dung đó học ở bậc học dưới, bảo đảm cho học sinh
có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toỏn, lịch sử dõn tộc, những kiến thức
khỏc về khoa học xó hội, khoa học tự nhiờn, phỏp luật, tin học, ngoại ngữ, có hiểu biết
tối thiểu về kỹ thuật hướng nghiệp. Ngoài nội dung chủ yếu nhằm đảm bảo kiến thức phổ
thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho học sinh, giáo dục phổ thông cũn cú nội dung

dục cú ý nghĩa quyết định thực hiện thành công sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
Đảng và Nhà nước ta đó từ lõu nhận thức rất rừ vai trũ, vị trớ của giỏo dục và ngày

càng chăm lo sự nghiệp giáo dục. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lấn thứ VII của
Đảng khẳng định: “Khoa học và giáo dục đúng vai trũ then chốt trong toàn bộ sự nghiệp
xõy dựng chủ nghĩa xó hội và bảo vệ Tổ quốc, là một động lực đưa đất nước thoát ra khỏi
nghèo nàn, lạc hậu, vươn lờn trỡnh độ tiên tiến của thế giới” [16, tr.79]. Hội nghị lần thứ
tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoỏ VII tiếp tục chỉ rừ: Phải coi đầu tư cho giáo
dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi
trước và phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế - xó hội.
Đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp giáo dục – đào tạo, khoa học và công nghệ, coi đó là
quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đó nhấn
mạnh: “Thực sự coi giáo dục- đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhận thức sâu sắc giáo dục-
đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phỏt
triển xó hội, đầu tư cho giáo dục- đào tạo là đầu tư cho phát triển” [18, tr.29].
Với tư cách là một thành tố cơ bản của nền văn hoá dân tộc, giáo dục có một vị trí
trọng yếu hàng đầu trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ X của Đảng đó xỏc định: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công
nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước” [20, tr.94-95]. Giáo dục và đào tạo là điều kiện phát huy nguồn lực con
người - yếu tố cơ bản để phỏt triển xó hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Dưới sự lónh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chế độ xó hội mà nhõn dõn ta kiờn trỡ
lựa chọn và xõy dựng là chế độ xó hội chủ nghĩa. Sự nghiệp giáo dục mà chúng ta xây dựng
là sự nghiệp giáo dục xó hội chủ nghĩa, có nhiệm vụ đào tạo ra các thế hệ công dân trung
thành với sự nghiệp cách mạng, có đầy đủ tài năng, phẩm chất và bản lĩnh để vượt qua
những thách thức, đưa đất nước tiến lên theo kịp trào lưu phát triển chung của khu vực và
quốc tế.
Giỏo dục ngày càng cú ý nghĩa quyết định trong việc làm thay đổi nền sản xuất vật

xây dựng nền văn hoá mới, lối sống và nhõn cỏch mới của toàn xó hội. Sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước khụng chỉ là quỏ trỡnh đổi mới về khoa học công nghệ,
hiện đại hoá, thị trường hoỏ nền sản xuất xó hội mà cũn là quỏ trỡnh chuyển đổi tõm lý,

phong tục, tập quỏn, lối sống thớch ứng với nhịp độ và tốc độ của xó hội cụng nghiệp và
thị trường.
Như vậy, giáo dục có tác động to lớn tới toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của xó
hội. Phỏt triển giỏo dục là cơ sở để thực hiện chiến lược phỏt triển kinh tế - xó hội, xõy dựng
chiến lược con người của Đảng và Nhà nước ta. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lờn chủ nghĩa xó hội, Đảng ta khẳng định quan điểm cơ bản để xây dựng và phát triển
sự nghiệp giáo dục là:
Giáo dục và đào tạo gắn liền với sự nghiệp phát triển kinh tế, phát triển
khoa học, kỹ thuật, xây dựng nền văn hoá mới và con người mới. Nhà nước có
chính sách toàn diện thực hiện giáo dục phổ cập phù hợp với yêu cầu và khả
năng của nền kinh tế, phát triển năng khiếu, bồi dưỡng nhân tài [15, tr.13].
Các dân tộc trên thế giới luôn đặt ra câu hỏi sẽ đi lên như thế nào? Vị thế của mỗi
dân tộc ở đâu trong thế giới này. Ngày nay, tất cả đang chung một câu trả lời: Tri thức.
Chỉ có điều trả lời câu hỏi đó, đối với mỗi dân tộc lại mang một sức nặng khác nhau,
mang một độ cấp thiết khác nhau. Có dân tộc dùng tri thức để bảo vệ vị thế hàng đầu. Có
dân tộc dùng tri thức để vươn lên tranh đoạt vị thế cao hơn, có dân tộc dùng tri thức để
không tụt lại đằng sau. Thế giới đang có những nhóm quốc gia vượt lên phía trước, có
những nhóm tụt lại phía sau. Đâu là sự khác biệt? Câu trả lời: trỡnh độ giáo dục.
Trên thế giới không phải mọi dân tộc đều được tự nhiên ban tặng một cách công
bằng. Có quốc gia ở xứ băng giá quanh năm, có quốc gia ở vùng sa mạc khô cằn. Nhưng
lịch sử chứng minh đó không phải là rào cản để ngăn cản một dân tộc vươn lên. Thực tế
đó chứng minh rằng những quốc gia càng được thiên nhiên ưu đói thỡ càng cú nguy cơ
tụt hậu. Không ở đâu nhiều dầu lửa hơn các nước Trung Đông, nhưng chưa có quốc gia
nào ở đó vượt lên để gia nhập nhóm “các quốc gia phát triển” mà vẫn dừng lại mói ở “các
nước đang phát triển”. Không đâu đất đai rộng lớn hơn châu Phi, nhưng hầu hết các quốc
gia ở đó vẫn đang ở mức “kém phát triển”. Trong khi đó Nhật Bản, Phần Lan, Hàn Quốc,

dục và đào tạo là vấn đề sống còn của một quốc gia, dân tộc.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, giáo dục Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn bởi nền giáo dục
của Pháp. Tuy nhiên nhiều bậc cao minh đề ra triết lý giỏo dục mới, coi giỏo dục là yếu

tố giải quyết thực trạng nghốo hốn, lạc hậu của đất nước. Bản điều trần của Nguyễn
Trường Tộ, Bùi Viện dâng lên vua Tự Đức, trong đó khẳng định: Hưng dân trí - Chấn
dân khí - Hậu dân sinh. Nhiều nhà yêu nước khi đó coi nguyên nhân sâu xa làm mất nước
là do dân trí thấp - kết quả của một nền giáo dục chỉ dành cho 1% số dân được thụ hưởng.
Do vậy các nhà yêu nước đề ra yêu cầu coi giáo dục là đũn bẩy chủ lực, với thiờn chức là
nõng cao dõn trớ.
Việt Nam không giành lại độc lập bằng con đường “hưng dõn trớ” mà bằng khởi
nghĩa vũ trang khi dõn trớ vẫn cũn quỏ thấp. Từ khi giành lại độc lập (1945), đó cú hơn
sáu thập kỷ để nền giáo dục mới được xây dựng và vận hành. Giáo dục luôn được Đảng
và Nhà nước quan tâm, coi là quốc sách hàng đầu. Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con
người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, có sức khoẻ, thẩm mỹ và
nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dõn tộc và chủ nghĩa xó hội, hỡnh thành và
bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
* Vị trớ, vai trũ, tính chất, đặc điểm của giáo dục phổ thông Bắc Giang
Với tư cách là thành tố của giáo dục đào tạo, giáo dục phổ thông có vị trí trọng yếu
hàng đầu trong chiến lược phát triển giáo dục- đào tạo của tỉnh. Dưới sự lónh đạo của
Tỉnh uỷ, sự chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, giáo dục phổ thông Bắc
Giang có nhiệm vụ giáo dục học sinh trung thành với sự nghiệp cách mạng, có đầy đủ tài
năng, phẩm chất và bản lĩnh, yêu Tổ quốc, yêu quê hương, yêu đồng bào.
Giáo dục phổ thông tỉnh Bắc Giang là cấp học trong hệ thống giáo dục, đào tạo của
tỉnh, thực hiện chương trỡnh giáo dục phổ thông của toàn quốc; chịu sự quản lý điều
hành của chính quyền địa phương, đồng thời chịu sự quản lý chuyờn mụn, chương trỡnh
giỏo dục của Bộ Giỏo dục và Đào tạo.
Giáo dục phổ thông tỉnh Bắc Giang là một cấp học của nền giáo dục cả nước, có
các bậc học: Giáo dục tiểu học; giáo dục trung học cơ sở, giáo dục trung học phổ thông.

hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc
sống lao động
Trong các yếu tố để phát triển kinh tế- xó hội của cả nước cũng như của Bắc Giang gồm:

Khoa học công nghệ, tài nguyờn, vốn, nguồn nhõn lực, thỡ yếu tố nguồn nhõn lực cú vai trũ
quyết định. Nguồn nhân lực là một yếu tố của lực lượng sản xuất, yếu tố quyết định sự phỏt
triển kinh tế - xó hội của quốc gia. Nhưng vấn đề là phải có nguồn nhân lực chất lượng cao,
làm chủ được khoa học kỹ thuật, phát minh sáng kiến, phát minh khoa học - điều đó chỉ có khi
nguồn nhân lực được giáo dục có chất lượng từ bậc học giáo dục phổ thông.
Phát triển giáo dục phổ thông tỉnh Bắc Giang là yếu tố quyết định sự phát triển
ngành giáo dục của tỉnh theo hướng chuẩn hoá, hiện đại húa, xõy dựng xó hội học tập,
đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Đồng thời cú vai trũ đặc biệt quan trọng trong
việc hỡnh thành nhõn cỏch ban đầu và lý tưởng của học sinh, giúp học sinh trở thành
người có đạo đức, có trí tuệ, nền tảng vững chắc cho tương lai, là một nhân tố trong chiến
lược con người của Đảng.
Giáo dục phổ thông Bắc Giang là bộ phận không thể tách rời của hệ thống giáo dục
Việt Nam, do đó nó cũng có những tính chất của nền giáo dục chung, đó là tính xó hội
chủ nghĩa, tính nhân dân, tính dân tộc, tính khoa học và tính hiện đại. Tuy nhiên do giáo
dục phổ thông chịu sự quyết định bởi nền kinh tế và tính văn hoá của tỉnh nên có những
tính chất, đặc điểm riêng.
Nhiệm vụ giáo dục phổ thông của tỉnh là giáo dục học sinh có đạo đức trong sáng, có
tri thức phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân. Nội dung chương trỡnh của giáo dục phổ thông
Bắc Giang phải thực hiện đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Cấp uỷ đảng, chính
quyền và các cơ quan chức năng phải nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chủ trương của
Đảng; sự quản lý điều hành của Chính phủ và chương trỡnh giảng dạy của Bộ Giỏo dục và
Đào tạo.
Tỉnh uỷ cú trỏch nhiệm lónh đạo hệ thống chính trị ở tỉnh phát triển giáo dục phổ
thông bảo đảm tất cả người dân được học tập, tạo cơ hội để mọi người có điều kiện học
tập và phát triển năng lực cá nhân. Đồng thời xây dựng cơ sở vật chất và cỏc loại hỡnh
giỏo dục để tạo nhiều cơ hội cho việc học tập suốt đời của người dân địa phương.

nâng cao chất lượng giáo dục ở các huyện miền núi, để giáo dục phổ thông phát triển
toàn diện.
1.2. QUAN NIỆM, NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA TỈNH

Trích đoạn Phương hướng và những vấn đề đặt ra nhằm tăng cường sự lónh đạo của Tỉnh uỷ Bắc Giang đối với phát triển giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA TỈNH UỶ BẮC GIANG ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG GIA Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức đối với cán bộ, đảng viên và nhân dõn về vai trũ của giáo dục phổ thông trong sự nghiệp phỏt Nâng cao chất lượng các nghị quyết của Tỉnh uỷ về phát triển giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đạ Lónh đạo xây dựng đội ngũ giỏo viờn và cỏn bộ quản lý
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status