Tài liệu Luận văn: Những biện pháp cơ bản để tăng cường huy động vốn đầu tư trong nước phục vụ cho phát triển kinh tế Việt nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 10

LUẬN VĂN

Đề tài “Những biện pháp cơ
bản để tăng cường huy động
vốn đầu tư trong nước phục
vụ cho phát triển kinh tế Việt
nam trong giai đoạn hiện
nay”
LỜI MỞ ĐẦU

Trong giai đoạn hiện nay, vốn là một hoạt động vật chất quan trọng
cho mọi hoạt động của nền kinh tế. Nhu cầu về vốn đang nổi lên như một
vấn đề cấp bách. Đầu tư và tăng trưởng vốn là một cặp phạm trù của tăng
trưởng kinh tế, để thực hiện chiến lược phát triển nền kinh tế trong giai
đoạn hiện nay ở nước ta cần đến một lượng vốn lớn.
Vốn cho phát triển kinh tế- xã hội luôn là vấn đề quan trọng và cấp
bách trong cuộc sống hiện nay và nhiều năm tới ở nước ta. Đương nhiên để
duy trì những thành quả đã đạt được của nền kinh tế nhờ mấy năm đổi mới
vừa qua, giữ vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao, tránh cho đất nước rơi

thời gian cũng như khả năng có hạn, cho nên bài viết này không tránh khỏi
những thiếu xót . Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy, cô và của các
bạn.
Hà nội, ngày 10/ 2/2003
Sinh viên thực hiện.
Đinh Thị Thu Huyền PHẦN I:
CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN ĐỂ HUY ĐỘNG NGUỒN
VỐN
I/ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VỐN PHỤC VỤ CHO PHÁT TRIỂN KINH
TẾ VIỆT NAM.
Trước hết, vốn là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển sản xuất,
đồng thời là cơ sở để phân phối lợi nhuận và đánh giá hiệu qủa các hoạt
động kinh tế, nó bao gồm những nguồn vật tư và tài sản trong các doanh
nghiệp, nguồn tiền mặt hoặc các tài sản khác dự trữ trong dân. Vì vậy,
chính sách tạo vốn cơ bản phải tuân thủ nguyên tắc lợi ích của người có
vốn và do đó, việc sử dụng vốn nhất thiết phải tuân thủ nguyên tắc hiệu quả
kinh tế.
Mục tiêu của chính sách tạo vốn trước hết và chủ yếu là tạo ra môi
trường kinh tế và tiền đề pháp lý đẻe biến mọi nguồn tiền tệ thành tư bản
sinh lợi và tăng trưởng trong quá trình tái sản xuất xã hôị. Các nguồn chủ
yếu bao gồm :vốn đầu tư kinh tế của nhà nước, vốn tự có của các doanh
nghiệp, vốn bằng tiền và tiền nhàn rỗi của dân cư và vốn của các doanh
nghiệp và tổ choc tài chính quốc tế.
Trong giai đoạn hiện nay vốn là yếu tố vật chất quan trọng nhất cho
tăng trưởng. Để tao ra tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 7-8% thì cần tích luỹ
một lượng vốn từ 20- 25% GDP. Nếu trong những năm tới mục tiêu tăng
trưởng kinh tế là hai con số trong vài thập niên tới thì cần thì tỷ lệ tích luỹ

đạt được chiến lược hiệu quả kinh tế - xã hội đề ra.
Đầu tư phát triển phải đảm bảo được các yêu cầu sau:
Phải được tính bền vững trong đầu tư phát triển, tức là tự bản thân nó
phải có mầm mống cho tăng trưởng trong tương lai, nhằm sử dụng tài
nguyên một cách hợp lý để không ngừng khai thác lợi thế so sánh của tiềm
năng đất nước. - Sử dụng nguồn vốn đầu tư phát triển phải có hiệu quả để tái tạo và
phát triển các nguồn vốn, tạo tiền đề cho việc huy động vốn ở giai đoạn
tiếp theo.
- Nền kinh tế Việt nam có xuất phát điểm thấp, thu nhập bình quân
đầu người khoảng 300 đô la/ năm, lại nằm trong khu vực ASEAN có tốc độ
tăng trưởng cao, nên Việt nam phảt duy trì tốc độ tăng trưởng cao để đuổi
kịp các nước trong khu vực trong vài thập niên, mặc dù chịu tác đông nhất
định của cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực .
Vì vậy Chính phủ phải có kế hoạch,huy động vốn phù hợp với khả
năng phát triển của nền kinh tế, tập quán tiêu dùng và tiết kiệm của nhân
dân.
trong việc duy trì và phát triển nền kinh tế, nếu không có vốn thì mọi
hoạt động sản xuất kinh doanh không thể thực hiện được.
. Vốn đầu tư:
- Khái niệm: Vốn đầu tư là những chi phí để tái sản xuất tài sản cố
định bao gồm các chi phí để thay thế những tài sản cố định bị thải loại để
tăng mới các tài sản cố định và để gia tăng các tài sản cố định tồn kho.
- Các hình thức đầu tư:
+ Đầu tư trực tiếp.
+ Đầu tư gián tiếp.
. Cơ cấu vốn đầu tư:
a. Nguồn vốn trong nước bao gồm các loại vốn chủ yếu sau:

-Thu lợi tức cổ phần của Nhà nước.
-Các khoản thu khác theo luật định.
Trong các khoản thu trên, thuế là khoản thu quan trọng nhất. Thuế không
chỉ chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước hàng năm
mà còn là công cụ của Nhà nước để quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân.
Tỷ lệ động viên GDP vào ngân sách nhà nước không ngừng tăng lên
qua các năm, bình quân từ 13,1% GDP (thời kỳ1986- 1990) lên 20,5% (
thời kỳ 1991- 1995) ngân sách nhà nước từ chỗ thu không đủ chi đến nay đã có một phần tích luỹ dành cho đầu tư phát triển từ 2,3% GDP năm 1991
tăng lên 6,1% GDP vào năm 1996 ( nếu cả do khấu hao cơ bản).
Nguyên nhân chủ yếu của nó là:
- Ngân sách nhà nước đã điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư nhằm tạo ra các
tiền đề thu hút vốn đầu tư.
- Chi của ngân sách nhà nước dành cho đầu tư phát triển chủ yếu tập
trung vào cơ sở hạ tầng của nền kinh tế xã hội.
- Ngân sách nhà nước không còn bao cấp cho các xí nghiệp nhà nước
thông qua cổ phần hoá và tập trung đầu tư vào lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp- lâm nghiệp.
Mục tiêu của huy động vốn ngân sách nhà nước phải dành khoảng từ
20- 25% tổng số chi ngân sách cho đầu tư phát triển hàng năm. Khai thác
có hiệu quả tín dụng nhà nước đầu tư phát triển, đồng thời phải đẩy mạnh
hình thức vay vốn trong nhân dân, cho đầu tư phát triển kinh tế là quốc
sách hàng đầu. Muốn đạt được các hiệu quả trên cần phải thực các biện
pháp sau:
Hình thành nguồn vốn đầu tư trong ngân sách: Các biện pháp quan
trọng nhất để tăng thu là thu đúng, thu đủ các khoản vay trong nước.
Thu ngân sách nhà nước trong sự phát triển bền vững, tức là thu
nhưng không làm suy yếu các nguồn thu quan trọng mà phải bổi dưỡng

+ Từng bước xoá bỏ triệt để cơ chế bao cấp trong lĩnh vực cấp phát
quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn của nhà nước.
+ Tăng cường công tác quản lý sau dự án. Những dự án này dùng nguồn
vốn nhà nước thường có quy mô vốn rất lớn, hiện nay việc thẩm định các
dự án là tương đối chặt chẽ thì trái lại việc quản lý sau dự án lại bị buông
lỏng dẫn đến tình trạng chi tiết trên danh nghĩa nhưng lại lãng phí trên thực
tế. Sử dụng nhiều cơ chế khác nhau để quản lý vốn, với nguồn vốn nhà
nước được thông qua vay nước ngoài với điều kiện ưu đãi thì tiến hành cho
vay lại để tạo điều kiện bình đẳng trong sản xuất kinh doanh và tái tạo nguồn vốn. Tiết kiệm trong chi tiêu ngân sách hiện vẫn là một khả năng rất
lớn cần tận dụng, bởi lẽ so với các nước tỷ lệ động viên thu nhập quốc dân
vào ngân sách nhà nước là tương đối cao. Tỷ lệ thuế ở các nước so với
GDP là tương đối cao ( thường đạt mức dưới 20% ).
2/ Nguồn vốn huy động từ doanh nghiệp nhà nước.
Trong chiến lược ổn định kinh tế Việt nam đến năm 2000, Đảng ta đã
chỉ rõ “ chính sách tài chính quốc gia hướng vào việc huy động vốn và sử
dụng vốn có hiệu quả trong toàn xã hội, tăng nhanh sản phẩm xã hội và thu
nhập quốc dân” . Tạo vốn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả là một vấn
đề mà Đảng và các doanh nghiệp nhà nước luôn quan tâm. Bởi có huy động
được vốn mới tiến hành được quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất
nước.
Đối với doanh nghiệp, chính sách tài chính hướng vào các việc mở
rộng khả năng hoạt động mạnh mẽ có hiệu quả cao của các đơn vị sản xuất
kinh doanh, đó là những tế bào tài chính; làm cho các nguồn vốn chu
chuyển nhanh và linh hoạt, đồng thời tạo ra cơ sở để nhà nước có khả năng
kiểm soát được nền tài chính quốc gia.
Trong lĩnh vực đầu tư cho khu vực doanh nghiệp nhà nước cần phải
thực hiện một số giải pháp và chính sách sau:

Theo ước tính của các chuyên gia về kinh tế tài chính nguồn vốn trong
dân cư có khoảng 6 tỷ USD được sử dụng qua điều tra của bộ kế hoach kế
hoạch đầu tư và tổng cục thống kê như sau:
- 44% để dành của dân là dùng để mua vàng và ngoại tệ
- 20% để dành của dân được dùng để mua nhà đất và cải thiện đời
sống sinh hoạt.
- Tuy nhà nước cho phép các doanh nghiệp nhà nước huy động vốn từ
trong dân với nhiều chính sách khác nhau, khi thực tế áp dụng còn nhiều
ràng buộc. Để tăng cường sử dụng nguồn vốn của nhân dân hay vốn ngoài
vùng ngân sách thì cần phải có chính sách khuyến khích phát triển sản
xuất, thực hành tiết kiệm, làm giàu chính đáng tạo lòng tin cho nhân dân yên tâm bỏ vốn ra đầu tư, tiềm lực trong nhân dân còn rất rất lớn, muốn vậy
nhà nước phải ổn dịnh tiền tệ.
Vốn đầu tư của tư nhân và dân cư có vai trò đặc biệt quan trọng trong
việc phát triển nông nghiệp, mở mang ngành nghề ở nông thôn phát triển
công nghiệp thủ công, thương mại , dịch vụ, vận tải…Vì vậy chúng ta cần
phải thực hiện các chính sách sau:
- Đa dạng hoá các công cụ, huy động vốn để cho mọi ngườ dân ở bất
cứ nơI nào cũng có đIều kiện sản xuất kinh doanh.
- Tăng lãi xuất tiết kiệm đảm bảo lãi xuất dương.
- Khuyến khích sử dụng tài sản cá nhân, thực hiện chế độ thanh toán
tiền gửi ở một nơi và rút ra bất cứ lúc nào, có vậy chúng ta mới đưa được
nguồn vốn dưới dạng cất giấu vào lưu thông.
- Tao môi trường đầu tư thông thoáng và thực hiện theo quy định của
luật pháp để người dân dễ dàng bỏ vốn đầu tư.
- Chính phủ ban hành các chính sách khuyến khích các hộ gia đình ở
các vùng nông thôn, vốn vào sản xuất trên cơ sơ khai thác thế mạnh của
từng vùng, phát huy truyền thống hiện có của địa phương.

yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với việc củng cố và làm lành mạnh nền tài
chính quốc gia, đồng thời cũng là nhân tố tạo nên bước chuyển biến có ý
nghĩa cơ bản của công cuộc đổi mới cơ chế kinh tế.
II/ VAI TRÒ CỦA VỐN TRONG NƯỚC VỚI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ VÀ Ý NGHĨA CỦA VẤN ĐỀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG
NƯỚC.
1/ Vốn trong nước với vấn đề đáp ứng nhu cầu của đẩu tư cho phát
triển kinh tế.
- Chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá có tính kế hoạch nhiều
thành phần , định hướng XHCX nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất
của xã hội, khai thác và sử dụng có tiềm năng vốn của đất nước đã đặt nền
kinh tế nước ta đến một loạt các mâu thuẫn lớn cần giải quyết cấp bách.
Trong đó có mâu thuẫn giữa nhu cầu đầu tư và nguồn vốn đáp ứng cho nhu cầu ấy. Việc đánh giá đúng nguồn vốn và việc sử dụng nó trong thời gan
vừa qua nó cho chúng ta những cơ sở để tạo ra chiến lược tạo vốn nhằm
khai thác mọi tiềm năng về vốn và định hướng chính sách sử dụng nguồn
vốn có hiệu
- Đối với việc huy động vồn trong nước thì đây chính là nguồn vốn
đóng vai trò quan trọng, quyết định. Trong khi đất nước nghèo nàn, khả
năng tích luỹ còn thấp thì tiết kiệm những phần chi tiêu không mang lạI
hiệu quả thì nó không những là quốc sách mà chúng ta cần có các giảI pháp
để hoàn thiện dần; Nhà nước , các doanh nghiệp, hộ gia dình, các tổ chứ
tài chính…Phải gắn tiết kiệm với tích luỹ trong sự tác động của các các
nhân tố kích thích về lợi ích kinh tế đã huy động tối đa các nguồn vốn trong
nước.
- Vốn đầu tư trong nước được hình thành từ các nguồn vốn trong các
khu vực: Như ngân sách nhà nước, tín dụng nhà nước, doanh nghiệp nhà
nước và các tổ chức tín dụng tư nhân.

đồng, chiếm 35,5% tổng đầu tư xã hội . Sang kế hoạch 1996- 2000 lượng
vốn dự báo cần cho đầu tư phát triển khoảng 41- 43 tỷ USD trong đó thì
50% từ nguồn vốn trong nước. Phần vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước dự
kiến chỉ chiếm 12,6%, do đó phải đẩy mạnh việc huy động nguồn vốn nhàn
rỗi trong dân cư, khuyến khích các doanh nghiệp nhà nước và các doanh
nghiệp khác tự bỏ vốn ra hoạt động sản xuất kinh doanh. Trước yêu cầu
mới, vấn đề huy động và sử dụng vốn vẫn đang gặp nhiều khó khăn phức
tạp cần phải khắc phục. Ngân sách nhà nước luôn ở trong tình trạng căng
thẳng, không thể đáp ứng đủ cho nhu cầu đầu tư phát triển. Đầu tư của nhà
nước bị phân tán do phải đáp ứng nhiều nhiệm vụ, các nguồn thu từ thuế,
các khoản lệ phí, dịch vụ công cộng còn nhiều thất thoát và lãng phí. Số
vốn huy động được thông qua tín dụng chủ yếu là vốn vay ngắn hạn không
đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển và chuyển đổi cơ cấu sản xuất. Vốn
đầu tư trực tiếp từ khu vực tư nhân hãy còn chiếm tỷ lệ nhỏ tập trung chủ
yếu (80%) vào các lĩnh vực thương mại dịch vụ, phục vụ tiêu dùng. Một bộ phận không nhỏ nguồn vốn huy động ở trong nước còn đang nằm ở ngân
hàng thương mại đang bị ứ đọng không trở thành nguồn vốn đầu tư được.
Theo các ý kiến dự báo thì khoảng 50- 70 nghìn tỷ đồng của nhân dân
đang cất giữ dưới dạng tiền mặt, ngoạI tệ, tàI sản có giá trị cao…Chưa
chuyển được thành nguồn vốn đầu tư và kinh doanh. Khoản tiền kiều hối
hàng năm gửi về nước khoảng từ 0,6- 1 tỷ USD chưa được khai thác và sử
dụng hợp lý.
Nguyên nhân của các yếu kém trên là do:
- Trình độ phát triển kinh tế của nước ta vẫn còn thấp, mức độ tiền tệ
hoá nền kinh tế và các quan hệ tài chính tiền tệ mới ở giai đoạn đầu của sự
phát triển, mức độ phân tán ở trong nước vừa nhỏ vừa phân tán.
- Cơ cấu sản xuất nói chung kém hiệu quả, sau hơn 10 năm đổi mới
cầu về những sản phẩm truyền thống gần như đã bão hoà cần phải thay

đầu tư trong nước là 137,305 tỷ đồng chiếm 29%. Vốn đầu tư trong nước
thuộc khu vực nhà nước là: 70.011 tỷ đồng ( bao gồm vốn ngân sách, tín
dụng nhà nước, doanh nghiệp nhà nước đầu tư ), chiếm 31,6%, bình quân
hàng năm tăng 16%. Khu vực ngoàI nhà nước đã đầu tư 67,294 tỷ đồng
chiếm 37,7% so với vốn đầu tư trong nước.
Trong 3 năm (1996- 1998) tổng mức vốn đầu tư toàn xã hội thực
hiện là253,614 tỷ đồng tương đương khoảng 20- 21 tỷ USD. So với mục
tiêu toàn xã hội của kế hoạch 5 năm 1996- 2000 là 41- 42 tỷ USD thì 3
năm1996- 1998 đã thực hiện được khoảng 40- 50%.
Nguồn vốn đầu tư huy động toàn xã hội ngày càng tăng so với
GDP. Naawm 1989 chỉ đạt 8-9% GDP, thì đến năm 1991 đạt 15,22%, năm
1993 đạt 21%, năm 1995 đạt 26,3%, năm 1996 đạt 26,9% , nawm 1997 đạt
27,5% và năm 1998 đạt28,2%.
Nguồn vốn đầu tư toàn xã hội ngày càng đa dạng hoá, hình thức huy
động được huy động qua nhiều kênh như vốn ngân sách nhà nước, phát
hành tráI phiếu công trình. Hiện nay hình thức cổ phần hoá các doanh
nghiệp nhà nước để tái đầu tư hoặc đầu tư xây dựng mới đang được mở rộng. Hình thức doanh nghiệp tự vay vốn của nước ngoào để đầu tư có sự
bảo lãnh của nhà nước cũng đã được mở rộng và hoàn thiện dần. Những
năm gần đay đã triển khai nhiều dự án đầu tư theo hình thức BOT ( xây
dựng- chuyển giao- kinh doanh), BTO ( xây dựng – kinh doanh- chuyển
giao). Đối tượng sử dụng vốn đầu tư đã có sự thay đổi căn bản, theo hướng
xoá bỏ dần bao cấp.
Vốn đầu tư từ nguồn ngoài quốc doanh cos tốc độ tăng trưởng rõ rệt
và ngày càng chiếm tỷ trọng quan trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Nguồn vốn này chủi yếu tập trung trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, nhà
đất, khách sạn nhà hàng
VỐN ĐẦU TƯ THỰC HIỆN TOÀN XÃ HỘI 1996- 1998


33,9

3,04

90800
38000
22000
14743
30800
-
100
41,9

24,2

16,2

33,9

3,49

85000
39000
20000
13500
26000
-
100
45,9

Nguồn vốn luôn là một vấn đề đặt ra hàng đầu cho mọi nền kinh tế
công nghiệp hoá. Tuy nhiên do lợi thế của mỗi một quốc gia là khác nhau
và do sự khác nhau về lợi thế so sánh nên con đường để kiến tạo nguồn vốn
sản xuất là hết sức đa dạng.
1/ Kinh nghiệm của Nhật Bản.
Nhật bản là một cường quốc kinh tế ở Châu á với cách tạo nguồn vốn
cho phát triển kinh tế khác với nhiều nước khác. Những năm cuối thế kỷ
XIX dưới thời Minh Trị, Nhật còn là một nước rất nghèo, nền kinh tế mới
đi vào công cuộc cải cách. Để có khoản tích luỹ vốn đầu tư ban đầu cho
công cuộc phát triển kinh tế xã hội. Nhật đã dựa vào cơ cấu chính quyền rất
mạnh cộng với thu thuế rất lớn từ nhân dân. Thông qua biện pháp này Nhật
đã huy động được nguồn vốn rất lớn cho phát triển kinh tế
Các nhà kinh tế đã tổng kết và đưa ra các nhân tố tác động đến sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng kinh tế của Nhật là:
- Sự gia tăng nguồn vốn nhanh chóng, đa dạng hoá cơ cấu sản xuất,
đẩy mạnh công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào trong
sản xuất, tăng cường điều tiết và vai trò của chính phủ trong nền kinh tế
quốc dân, mở rộng thị trường.
- Bước đàu bước vào thời kỳ công nghiệp hoá Nhật đã có tỷ lệ tích luỹ
vốn hàng năm là 21,8% đến năm 1968 là 29,2% lớn hơn hai lần so với Mỹ
và gần bằng 2 lần của Anh.
Năm 1959 GDP của Nhật bằng 81% của Đức nhưng tổng đầu tư vào
tư bản cố định của Nhật đã vượt Đức.
- Nhật duy trì được mức tích luỹ cao là nhờ mức lương thấp trong khi
năng xuất lao động thì rất cao và có xu hướng ngày càng tăng nhanh. Huy
động được khối lượng lớn nguồn vốn từ người dân vào trong kinh doanh,
chi phí cho quan sự thấp, chi phí sử dụng nguồn vốn thấp và khống chế
được mức chi tiêu công cộng ở mức thấp.
2/ Kinh nghiệm của Hàn Quốc.


đã trải qua chủ nghĩa tư bản thương mại hàng thế kỷ. Như vậy thì con
đường và giải pháp cơ bản để tạo dựng vốn đầu tư vào công nghiệp hoá và
phát triển kinh tế là phát triển mạnh tự do thương mại nhằm tạo ra từ tích
luỹ nội bộ nền kinh tế kết hợp với sự cướp bóc từ các nước thuộc địa.
4/ Những bài học vận dụng vào Việt nam.
Kinh nghiệm huy động vốn từ các nước rất đa dạng không theo một
khuôn mẫu định trước nào. Điểm chung có thể rút ra là các nước thành
công trong chính sách này đều tân thủ những quy luật kinh tế cơ bản, tận
dụng tối đa các lợi thế so sánh của nước mình và tính đến một cách cặn kẽ
đIều kiện tự nhiên, địa lý, các nguồn lực tự nhiên cũng như các phong tục
tập quán, tâm lý người dân, đặc đIểm riêng của dân tộc mình. Tuy nhiên có
những điểm riêng đáng chú ý của từng nước được nghiên cứu có thể mang
lại nhiều lợi ích cho quá trình phát triển kinh tế ở nước ta.
Kinh nghiệm ở một số nước còn cho thấy quỹ đầu tư còn là một định
chế tài chính trung gian tương đối thích hợp để huy động và sử dụng nguồn
vốn lớn. Đây là một mô hình kinh tế bổ ích cho quá trình phát triển kinh tế
ở Việt nam vì vậy chúng ta phải tiến hành công tác nghiên cứu nó một cách
tỉ mỷ xem cái gì có thể vận dụng được và cái gì không áp dụng được.
Nó góp phần vào giải quyết bài toán khó về huy động vốn đầu tư trong
nước, tích luỹ trong nước chỉ được cải thiện nhờ chính sách lãi suất mà
còn nhờ tiết kiệm chi tiêu của chính phủ. Việc hạn chế phần chi tiêu này góp phần tích cực trở lại với vấn đề huy động vốn trong nước. Một chính
phủ gọn nhẹ với những nguyên tác chi tiêu một cách hợp lý có ý nghiã thực
sự đối với tích luỹ cho nội bộ nền kinh tế quốc dân.
PHẦN II.

quốc doanh địa phương hoạt động bị lỗ vốn.
Nguyên nhân của việc sử dụng nguồn vốn kém hiệu quả là do quản lý
và sử dụng vốn theo cơ chế quan niêu bao cấp, thể hiện:
- Lãng phí vốn do bao cấp và bao cấp tín dụng thể hiện:
+Tỷ trọng vốn đầu tư cho thiết bị quá thấp, công nghệ lạc hậu và
không đồng bộ.
+ Chi phí quá lớn, 1 đồng vốn bỏ ra chỉ có 0,54 đồng chuyển thành tài
sản cố định.
- Đầu tư tràn lan thiếu trọng điểm, không tính toán rõ hiệu quả đầu tư.
Còn nguyên nhân khác quan là do các nguồn vốn vay và các khoản viện
trợ, ta không có toàn quyền lựa chọn và quyết định các dự án có hiệu quả,
thậm trí nhiều trường hợp phải nhận các thiết bị lạc hậu.
Nguồn vốn trong nước trong thời gian qua còn nhiều hạn chế, một
phàn là do tích luỹ nội bộ là chưa lớn, nhưng nguyên nhân quan trọng là
chưa có các chính sách thích hợp để khuyến khích đầu tư của mọi thành
phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân và kinh tế hộ gia đình.
2/ Sau cả cách kinh tế (từ 1996- 1999).
Chính sách đổi mới nhằm phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã bước
đầu khơi đậy những tiềm năng, động lực to lớn còn tiềm tàng trong dân cư.
Tuy nhiên, kết quả quan trọng nó cũng còn có nhiều hạn chế và thaaps xa
so với tiềm năng và khả năng khaio thác của nước ta, cũng như chưa tương
xứng với công cuộc đổi mới ở nước ta đang trong giai đoạn thực hiện quá
trình công nghiệp hoá nền kinh tế. Trong quá trình công nghiệp hoá nó đòi
hỏi phải phát triển nền kinh tế với tốc độ cao, ổn định và bền vững, đồng
thời phải chuyển đổi cơ cấu kinh tế một cách mạnh mẽ theo hướng các
nước công nghiệp phát triển. Bên cạnh nguồn vồn nước ngoài, nguồn vốn trong nước phaior được huy động một cách tối đa, đảm bảo vai trò có ý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status