Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mở đầu
Ngày nay, hội nhập quốc tế là một vấn đề cấp thiết, một vấn đề sống
còn đối với các quốc gia trên thế giới. Nhiều vấn đề nảy sinh trên quy mô
toàn cầu mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết nếu
không có sự hợp tác đa phơng. Xu hớng quốc tế hoá đang diễn ra nhanh
chóng và sôi động trên mọi lĩnh vực của đời sống, trong đó phải kể đến
lĩnh vực kinh tế. Nhiều quốc gia, bao gồm cả các nớc phát triển và các nớc
đang phát triển, đã đạt đợc những thành tựu to lớn nhờ tham gia tích cực
vào tiến trình hội nhập dới các hình thức: liên kết khu vực, liên minh thuế
quan, khu vực mậu dịch tự do, liên minh tiền tệ,... Trong đó, nhóm các nớc
NICs đợc biết đến nh là một minh chứng cho sự vơn lên mạnh mẽ của các
quốc gia vốn chỉ có một nền kinh tế nhỏ bé, lạc hậu cách đây vài thập kỷ.
Việt Nam là một trong những nớc nghèo nhất thế giới với thu nhập
bình quân đầu ngời 1755 USD/ngời(tính theo PPP-1999). Chúng ta đã tiến
hành cải cách kinh tế khá chậm so với các nớc trong khu vực cũng nh một
số nớc có cùng trình độ trên thế giới. Mặc dù vậy chúng ta luôn luôn cố
gắng bắt kịp xu thế thời đại. Đảng và Nhà nớc đã xác định Việt Nam
không thể đứng ngoài xu thế chung của thế giới. Chúng ta phải nắm bắt cơ
hội, vợt qua thách thức, chủ động hội nhập quốc tế để phát triển mạnh mẽ
trong thời kỳ mới. Đặc biệt, nớc ta lại nằm trong một khu vực đợc đánh
giá là năng động nhất trên thế giới hiện nay. Để tránh nguy cơ tụt hậu xa
hơn về kinh tế, chúng ta cần phải có nguồn vốn đủ lớn cho đầu t phát triển.
Vì vốn đầu t là yếu tố không thể thiếu đợc trong quá trình phát triển của
bất kỳ quốc gia nào, nhất là với những nớc đang trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Vốn đầu t có thể đợc huy động ở trong nớc hay
từ nớc ngoài. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, mặc dù vốn
đầu t trong nớc luôn luôn giữ vai trò quyết định nhng nguồn vốn từ nớc
ngoài ngày càng trở nên phổ biến và có vai trò không nhỏ. Trong đó FDI
và ODA là hai nguồn vốn đầu t nớc ngoài đáng kể nhất.
Trên đây là lý do em đã chọn đề tài Những biện pháp cơ bản đảm
định.
- FDI đợc thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới,
mua lại toàn bộ hay từng phần doanh nghiệp đang hoạt động, có thể là
mua cổ phiếu để thôn tính hay sáp nhập các doanh nghiệp với nhau.
2. Tầm quan trọng của FDI.
Vốn FDI đóng một vai trò vô cùng to lớn trong đời sống kinh tế
quốc tế. Nó tác động tích cực tới cả nớc đầu t và nớc nhận đầu t.
- 2 -
Đối với n ớc xuất khẩu vốn đầu t :
- Có khả năng trực tiếp kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp và
đa ra những quyết định có lợi nhất cho họ. Do vậy, vốn đầu t đợc sử dụng
với hiệu quả cao.
- Giúp các chủ đầu t nớc ngoài chiếm lĩnh thị trờng tiêu thụ và
nguồn cung cấp nguyên liệu chủ yếu của nớc sở tại.
- Giúp các chủ đầu t giảm chi phí và nâng cao năng suất lao động
do khai thác đợc nguồn nhân công với giá rẻ.
- Tránh đợc hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nớc sở tại do xây
dựng đợc các doanh nghiệp nằm ngay trong lòng các nớc sở tại.
Đối với n ớc nhận vốn đầu t :
- FDI bổ sung nguồn vốn cho nớc chủ nhà giúp bù đắp sự thiếu hụt
của nguồn vốn trong nớc, mở rộng tích luỹ và góp phần vào việc nâng cao
tốc độ phát triển kinh tế. Hầu hết các nớc, nhất là các nớc đang phát triển
đều có nhu cầu về vốn để thực hiện công nghiệp hoá. Thực tế cho thấy
nhiều nớc đang phát triển nhờ có FDI nên đã giải quyết đợc một phần khó
khăn về vốn và đã thực hiện thành công quá trình công nghiệp hoá đất nớc.
- Thông qua FDI các công ty đã chuyển giao kỹ thuật công nghệ
sang các nớc chủ nhà. Nhờ sự chuyển giao này mà các nớc chủ nhà có thể
thu đợc kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý kinh doanh
và năng lực marketing, đội ngũ lao động đợc đào tạo và bồi dỡng về nhiều
mặt.
II. Tổng quan về nguồn vốn ODA.
1. Khái niệm.
Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance -
ODA) là tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc tín dụng u đãi (cho
vay dài hạn, lãi suất thấp,...) của các Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ
thống Liên hợp quốc, các tổ chức phi Chính phủ (NGO), các tổ chức tài
chính quốc tế (nh WB, IMF, ADB,...), gọi chung là các đối tác viện trợ nớc
ngoài, dành cho Chính phủ và nhân dân nớc nhận viện trợ.
Hỗ trợ phát triển chính thức có thể ràng buộc (phải chi tiêu ở nớc
cấp viện trợ) hoặc không ràng buộc (có thể chi tiêu ở bất cứ đâu) hoặc có
thể ràng buộc một phần (một phần chi ở nớc cấp viện trợ, phần còn lại chi
ở bất kỳ nơi nào).
Các hình thức của ODA :
- Hỗ trợ cán cân thanh toán, tức là viện trợ tài chính trực tiếp dới
hình thức hiện vật hay hỗ trợ nhập khẩu hoặc có thể là tiền mặt. Ngoại tệ
hoặc hàng hoá chuyển vào trong nớc qua hình thức hỗ trợ cán cân thanh
toán có thể đợc chuyển hoá thành hỗ trợ ngân sách. Điều này xảy ra khi
hàng hoá nhập vào nhờ hình thức này đợc bán ra trên thị trờng trong nớc,
và số thu nhập bằng bản tệ đợc đa vào ngân sách của Chính phủ.
- 4 -
- Tín dụng thơng mại với các điều kiện u đãi, trên thực tế là một
dạng viện trợ hàng hoá có ràng buộc.
- Hỗ trợ các chơng trình (còn gọi là hỗ trợ phi dự án): là viện trợ
khi đạt đợc một Hiệp định với đối tác viện trợ nhằm cung cấp một khối l-
ợng ODA cho một mục đích tổng quát với thời hạn nhất định, mà không
phải xác định một cách chính xác nó sẽ đợc sử dụng nh thế nào.
- Hỗ trợ dự án là hình thức chủ yếu của hỗ trợ phát triển chính
thức, nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật hoặc cả hai. Các dự án
phải đợc chuẩn bị chi tiết trớc khi thực hiện:
Hỗ trợ cơ bản chủ yếu để xây dựng cơ sở hạ tầng: đờng xá,
chiếm u thế, nguồn lực cho sản xuất trong nớc không đủ để tiến hành các
dự án đầu t, trong khi ngoại hối lại d thừa. Tuy nhiên, hầu hết các nớc
đang phát triển đều nằm ở khoảng trống ngoại hối. Những nớc này có
nguồn lực sản xuất d thừa (chủ yếu là lao động) và toàn bộ ngoại hối đợc
dùng để thanh toán hàng nhập khẩu. Bởi vậy, với nguồn lực sẵn có các
quốc gia này sẽ có thể thực hiện đợc các dự án đầu t với sự trợ giúp của
các nguồn tài chính bên ngoài.
- Thực hiện các chơng trình đầu t quốc gia, đặc biệt là các dự án
cải tạo, nâng cấp, hiện đại hoá kết cấu hạ tầng kinh tế (năng lợng, giao
thông vận tải, thuỷ lợi, nông-lâm nghiệp, thông tin liên lạc) để làm nền
tảng vững chắc cho ổn định và tăng trởng kinh tế, thúc đẩy đầu t của t
nhân trong và ngoài nớc.
- Cải thiện cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm: chất lợng giáo dục, y tế,
dân số, kế hoạch hoá gia đình, môi trờng sinh thái, dinh dỡng, các vấn đề
về xoá đói giảm nghèo, phát triển nông thôn, miền núi, cấp nớc sinh
hoạt,...
- Kèm theo các nguồn vốn là sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật. Để đảm
bảo tiền viện trợ đợc sử dụng đạt hiệu quả cao nhất, các nớc cấp viện trợ
còn chuyển giao nguồn nhân lực có trình độ cao sang các nớc tiếp nhận
nhằm t vấn, hỗ trợ trong việc sử dụng vốn.
- Thực hiện các chơng trình nghiên cứu tổng hợp nhằm hỗ trợ cho
chính phủ sở tại hoạch định chính sách, hay cung cấp thông tin cho đầu t t
nhân bằng các hoạt động điều tra khảo sát, đánh giá tài nguyên, hiện trạng
kinh tế-kỹ thuật, xã hội, các ngành, các vùng lãnh thổ.
Bên cạnh những yếu tố tích cực, nguồn vốn ODA cũng hàm chứa
trong nó những vấn đề mang sắc thái kinh tế chính trị tiêu cực xuất phát từ
bên cấp vốn áp đặt, hoặc từ những tác động khách quan, khó khăn của môi
trờng kinh tế thế giới hay chủ quan thuộc về bên nhận viện trợ. Mặt trái
của nguồn vốn ODA gồm những điều căn bản sau:
- Nớc nhận viện trợ phải đáp ứng các yêu cầu của bên cấp viện
3. Vai trò của nguồn vốn ODA trong việc thu hút đầu t trực tiếp n-
ớc ngoài - kinh nghiệm từ các nớc Đông Nam á.
Những phân tích trên đây cho ta thấy đợc tầm quan trọng của nguồn
vốn ODA đối với các nớc đang phát triển. Cùng với FDI nó tạo nên những
đóng góp tích cực trong quá trình phát triển kinh tế. Để hiểu rõ hơn vấn đề
này ta cần xem xét mối tơng quan giữa vốn ODA và FDI.
Trong chiến lợc phát triển kinh tế, điều cơ bản đối với nguồn vốn n-
ớc ngoài là cải tạo căn bản hệ thống hạ tầng kinh tế bằng nguồn vốn ODA,
tạo cơ sở gia tăng nhanh nguồn FDI - nguồn vốn giúp đẩy nhanh quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho
ngời lao động và cho ngân sách, kích thích tăng trởng, đặc biệt là tăng tr-
ởng xuất khẩu, mở rộng nguồn tích luỹ nội địa. Nền kinh tế có mức tăng
trởng lớn lại tác động đến việc khai thông nguồn ODA. Bởi vậy cần phải
cân đối về khối lợng và cơ cấu giữa hai nguồn vốn này. Việc thiếu hụt bất
- 7 -
cứ nguồn vốn nào cũng đều ảnh hởng đến quá trình thu hút nguồn vốn còn
lại và tác động không tốt đến quá trình tăng trởng kinh tế. Điều này đã đợc
chứng minh qua thực tế phát triển của các nớc Đông Nam á.
Sau chiến tranh thế giới thứ II các nớc Đông Nam á đều thiếu vốn
để phát triển. Trong tình hình đó một số nớc đã tranh thủ nguồn viện trợ
Mỹ, Nhật Bản, EU để nhanh chóng vơn lên trở thành các nớc công nghiệp
phát triển nh các nớc NICs, và một số nớc trong khối ASEAN.
Nguồn vốn ODA của Mỹ, Nhật Bản và một số nớc khác chủ yếu đợc
đầu t để phát triển cơ sở hạ tầng của các nớc Đông Nam á. Có thể nhận
thấy tác dụng của nguồn vốn này ở chỗ cơ sở hạ tầng của các nớc Đông
Nam á đã đợc cải thiện rõ rệt nh Singapo, Thái Lan, Malaixia,
Indonexia... Nhờ cơ sở hạ tầng phát triển mà các nớc này có đợc những
điều kiện thuận lợi trong việc thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài. ở một
số nớc, điển hình là Philipin do sử dụng không có hiệu quả vốn ODA của
nớc ngoài nên cơ sở hạ tầng cha phát triển nh thiếu điện, thông tin liên lạc
thấy chúng ta thiếu ngoại hối một cách trầm trọng (luôn trong tình trạng
nhập siêu). Về tiết kiệm, mặc dù ta có một nguồn lực dồi dào song lại
không có điều kiện sử dụng nguồn lực ấy vì thiếu vốn đầu t cho xây dựng
cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị máy móc, áp dụng khoa học công
nghệ tiên tiến,... Nguồn vốn trong nớc chỉ có thể đáp ứng đợc 2/3 nhu cầu
vốn cho phát triển, còn lại ta phải huy động từ các nguồn ở bên ngoài.
Trong đó ODA và FDI là hai nguồn vốn quan trọng hàng đầu.
Đảng ta đã xác định Việt Nam trong quá trình trở thành một nớc
công nghiệp phải có những bớc đi tuần tự hợp với quy luật phát triển, đồng
thời tranh thủ thời cơ thuận lợi đi tắt, đón đầu trong những ngành, lĩnh
vực cho phép nhằm bắt kịp xu thế của thời đại. Một trong những thời cơ đó
là việc tận dụng những lợi thế của hai nguồn vốn ODA và FDI. Chúng
không chỉ giúp ta thoả mãn nhu cầu về vốn đầu t mà kèm theo đó còn là sự
du nhập của khoa học công nghệ hiện đại, của trình độ quản lý tiên tiến,
của những đỉnh cao tri thức nhân loại.
Chơng II
Thực trạng vốn FDI và ODA tại Việt Nam
trong những năm vừa qua
I. Tình hình huy động vốn nớc ngoài.
1. FDI trong phát triển kinh tế Việt Nam.
a) Tình hình chung.
- 9 -
Đại hội IX của Đảng đã nêu ra một thành phần kinh tế mới, đó là
thành phần kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài. Đảng chủ trơng tạo mọi điều
kiện để thành phần kinh tế này phát triển thuận lợi, hớng vào xuất khẩu,
xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện
đại, tạo thêm nhiều việc làm.
Lý do đa ra nhận định quan trọng này
chính là sự phát triển mạnh mẽ của nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài ở
doanh nghiệp đăng ký đặt trụ sở. Những doanh nghiệp này đợc
Trích: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb chính trị quốc gia-tr 99.
- 10 -
phép mở tài khoản ở nớc ngoài. Trớc đây việc mở tài khoản chỉ
đợc phép thực hiện tại các ngân hàng ở Việt Nam.
- Trờng hợp doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đầu t vào các
lĩnh vực, địa bàn u đãi sẽ đợc giảm thuế suất thuế lợi tức 10, 15,
20%, đợc miễn giảm 50% thuế lợi tức với thời gian tối đa tới 8
năm.
- Các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đợc tự do tuyển dụng
lao động nhng phải u tiên ngời Việt Nam.
Các chính sách có tính chất u đãi thu hút đầu t nớc ngoài.
Bên cạnh Luật đầu t nớc ngoài còn có một loạt các nghị định, quyết
định của Thủ tớng Chính phủ, luật thuế,... tựu trung đều có t tởng tạo dựng
môi trờng đầu t thuận lợi cho các nhà đầu t nớc ngoài. Nội dung tập trung
chủ yếu vào các điểm sau:
- Đơn giản hoá thủ tục cấp phép, rút ngắn thời gian cấp phép đầu t,
đổi mới việc cấp giấy phép lao động cho ngời nớc ngoài, thủ tục
xuất nhập cảnh, thủ tục hải quan,...
- Giảm bớt chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp, từng bớc thực
hiện chính sách một giá nh giá dịch vụ cung cấp nớc, điện, lắp
đặt điện thoại,...
- Ban hành các chính sách thuế có tính chất u đãi nh thuế đất, thuế
thu nhập, hoàn vốn đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất
khẩu; giảm và bỏ bớt một số loại phí.
Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ thơng mại với 150 nớc, quan hệ
đầu t với gần 70 nớc trên thế giới. Từ chỗ có vai trò không đáng kể trong
nền kinh tế Việt Nam, các doanh nghiệp đầu t nớc ngoài đã có vai trò quan
trọng và phát triển năng động, đóng góp gần 1/4 vốn đầu t toàn xã hội,
1997 là 30300 tỷ, 1998 là 24300 tỷ, 1999 là 18900 tỷ, năm 2000(sơ bộ) là
22400 tỷ (số liệu thống kê mới nhất cho biết vốn đầu t nớc ngoài vào Việt
Nam năm 2000 đạt khoảng 30180 tỷ đồng).
Nh vậy, do chính sách mở
cửa còn nhiều hạn chế nên FDI có chiều hớng giảm trong năm 1998 và
1999. Chỉ sau khi Chính phủ thực hiện việc tháo gỡ những ràng buộc áp
đặt cho các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, ban hành những chính
sách u đãi, vốn FDI mới có dấu hiệu hồi phục vào năm 2000. Sự hồi phục
bớc đầu là rất khả quan, cho thấy một dấu hiệu nguồn vốn FDI sẽ tăng tr-
ởng mạnh mẽ trong thời gian tới.
Các nhà đầu t nớc ngoài đầu t vào Việt Nam dới 3 hình thức chủ
yếu: Doanh nghiệp 100% vốn nớc ngoài (chiếm khoảng 30% tổng số dự
án), doanh nghiệp liên doanh (chiếm gần 60%), hợp đồng hợp tác kinh
doanh (chiếm 10%). Ngoài ra còn có các hình thức BOT, BT, BTO. So với
các nớc khác trong khu vực nh Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia, Trung
Quốc, Luật đầu t nớc ngoài của Việt Nam hấp dẫn hơn vì nó cho phép sở
hữu 100% vốn nớc ngoài trong nhiều khu vực kinh tế. Hơn nữa, luật này
còn bảo vệ các nhà đầu t khỏi sự chiếm đoạt và quốc hữu hoá tài sản, cho
phép các nhà đầu t chuyển vốn và lợi nhuận về nớc một cách dễ dàng, tỷ lệ
vốn của phía nớc ngoài trong liên doanh không cứng nhắc và có nhiều u
đãi về thuế. Thêm vào đó, sự khác biệt giữa đầu t nớc ngoài và đầu t trong
nớc đã và đang từng bớc đợc xoá bỏ. Bởi vậy trong thời gian gần đây các
nhà đầu t nớc ngoài có xu thế xin thành lập doanh nghiệp 100% vốn nớc
ngoài nhiều hơn trớc. Điều này cho thấy các nhà đầu t nớc ngoài đã cảm
thấy yên tâm và tự tin hơn khi đầu t độc lập vào Việt Nam.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài phân theo hình thức đầu t 1988-
30/6/2001.
này cho phép các nhà đầu t có nhiều sự lựa chọn hơn. Để hiểu rõ hơn tình
hình hoạt động của vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài tại Việt Nam, ta xem xét
các số liệu sau:
Số dự án đầu t trực tiếp nớc ngoài đợc cấp giấy phép.
Năm Số dự án
Vốn đăng ký (triệu USD)
Tổng số
Trong đó vốn pháp
định
1996 345 4649,1 2334,4
1997 275 3897 1805,6
1998 311 1568 693,3
1999 354 1985,2 1513,7
Vốn đầu t thực hiện của các dự án đầu t trực tiếp của nớc ngoài.
Năm
Tổng số(triệu
USD)
Chia ra
Vốn từ nớc ngoài
Vốn của
Việt Nam
1996 2837 2447 390
- 13 -
1997 3032 2768 264
1998 2189 2062 127
1999 2153 1945 208
Nguồn: Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu nghị quyết Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng. Tr 101.
b) Những đóng góp của FDI vào quá trình phát triển kinh tế.
Tuy không ổn định trong thời gian qua do ảnh hởng của cuộc khủng
Trong giai đoạn từ 1988 đến 1998, các doanh nghiệp có vốn ĐTNN
đã đóng góp cho ngân sách Nhà nớc khoảng 64.852 tỷ đồng, chiếm 19%
tổng số thu về thuế và phí của ngân sách Nhà nớc, cụ thể nh sau:
Thu từ lĩnh vực dầu khí: số thu nộp ngân sách từ lĩnh vực dầu khí
chiếm tới 70,6% số thu của cả khu vực FDI, đạt 45.780 tỷ đồng (số liệu
của giai đoạn 1998 trở về trớc), trong đó 35,7% là thuế tài nguyên, 33,7%
là thuế lợi tức, 1,1% thuế chuyển lợi nhuận ra nớc ngoài, 29,5% là lãi bên
Việt Nam đợc chia nộp ngân sách.
Thu từ các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài khác: Số thu từ các
doanh nghiệp này tăng với tốc độ 1995 - 85%, 1996 - 42%, 1997 46%,
1998 7,9%. Trong giai đoạn 1997-1998 mặc dù bị ảnh hởng bởi cuộc
khủng hoảng kinh tế khu vực nhng số thuế lợi tức vẫn tăng từ 685.366
triệu đồng lên đến 716.110 triệu đồng.
2. Thực trạng thu hút ODA.
Trong những năm qua, nguồn vốn ODA vào nớc ta tăng không
ngừng. Trải qua 8 Hội nghị quốc tế về ODA dành cho Việt Nam, các
khoản cam kết ODA dành cho nớc ta từ 1993 đến 2000 lên tới 17,5 tỷ
USD và 1,2 tỷ USD hỗ trợ cải cách kinh tế, trong đó phần viện trợ không
hoàn lại chiếm gần 25%. Đặc biệt hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam
lần thứ 9 (7-8/12/2001) đã tuyên bố cộng đồng thế giới cam kết tài trợ cho
Việt Nam khoản vốn vay 2,4 tỷ USD trong năm 2002 để tiếp tục thực hiện
mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của mình. Trong khi nguồn vốn này trên
thị trờng quốc tế rất có hạn và bị cạnh tranh gay gắt giữa các nớc đang
phát triển thì lợng vốn vào Việt Nam nh vậy là rất khả quan. Đây là sự ghi
nhận của cộng đồng quốc tế đối với những thành tựu của công cuộc đổi
mới và phát triển của Việt Nam.
Các nhà tài trợ chính về vốn ODA cho Việt Nam là Nhật Bản,
Australia, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Thuỵ Điển,... Ngoài ra còn có các tổ
chức quốc tế nh Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu á
(ADB), Liên minh châu Âu (EU), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF),... Với quy