Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, xu hướng chung của tất cả các quốc gia là xây dựng một nền
kinh tế với cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển
kinh tế. Cơ cấu kinh tế chính là tiêu thức phản ảnh sự thay đổi về chất, là dấu
hiệu đàn giá, so sánh về các giai đoạn của nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế được
biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau như: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng
kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu khu vực thể chế.v.v …Trong đó cơ
cấu ngành kinh tế là quan trọng nhất vì nó phản ảnh sự phát triển của phân
công lao động xã hội và sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Đối với Việt Nam, công cuộc đổi mới nền kinh tế chính thức bắt đầu từ
năm 1986. Kể từ đó, Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổi
mới về tư duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung
bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, đa dạng hoá và đa phương hoá các quan hệ
kinh tế đối ngoại, thực hiện mở cửa hội nhập quốc tế. Con đường đổi mới đó
đã giúp Việt Nam giảm nhanh đựơc tình trạng nghèo đói, bước đầu xây dựng
nền kinh tế công nghiệp hoá hiện đại hoá, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế
cao đi đôi với sự công bằng tương đối trong xã hội. Và song song với những
kết quả nảy là sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng tích cực: tăng
dần tỉ trọng của các ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỉ
trọng của các ngành nông – lâm – thuỷ sản.
Từ những lí do trên cho thấy được tầm quan trọng của chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế đối với sự phát triển bền vững của quốc gia. Do đó em chọn
đề tài “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế với phát triển kinh tế Việt Nam
giai đoạn 1990 – 2005”.
Trong thời gian thực hiện đề tài em đã được sự hướng dẫn tận tình của
TS. Phan Thị Nhiệm. Em xin chân thành cảm ơn TS. Phan Thị Nhiệm đã giúp
đỡ em hoàn thành đề tài này. Tuy nhiên do điều kiên về thời gian và khả năng
có hạn nên không thể tránh khỏi thiếu sót. Rất mong được sự góp ý của cô
giáo và những người quan tâm tới đề tài này.
cùng với việc áp dụng đồng bộ các giải pháp cần thiết để chuyển cơ cấu
ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác hợp lý và hiệu quả hơn. Đây
không phải đơn thuần là sự thay đổi vị trí, tỷ trọng và quan hệ giữa các ngành
mà là sự biến đổi cả về lượng và chất trong nội bộ cơ cấu.
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải dựa trên cơ sở cơ cấu hiện có, do
đó nội dung của chuyển dịch cơ cấu là cải tạo cơ cấu cũ lạc hậu hoặc chưa
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ
nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn.
Xu hướng có tính quy luật chung của sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế là chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nghĩa là tỷ trọng
và vai trò của ngành công nghiệp và dịch vụ có xu hướng tăng nhanh còn tỷ
trọng của ngành nông nghiệp có xu hướng giảm. Kinh nghiệm trên thế giới
cho thấy muốn chuyển từ một nền nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp
đều phải trải qua các bước: Chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp (tỷ trọng
ngành nông nghiệp chiếm 40-60%, công nghiệp từ 10-20%, dịch vụ từ 10-
30%) sang nền kinh tế công, nông nghiệp (tỷ trọng ngành nông nghiệp 15-
25%, công nghiệp 25-35%, dịch vụ 40-50%) để từ đó chuyển sang nền kinh tế
công nghiệp phát triển (tỷ trọng ngành nông nghiệp dưới 10%, công nghiệp
35-40%, dịch vụ 50-60%).
1.1.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu ngành của nền
kinh tế.
- Sự phát triển các loại thị trường trong nước và thị trường quốc tế có
ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đầu tiên tới cơ cấu ngành của nền kinh tế.
Bởi lẽ, thị trường là yếu tố hướng dẫn và điều tiết các hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp đều xuất phát từ quan hệ cung -
cầu trên thị trường để định hướng chiến lược kinh doanh của minh. Sự hình
thành và biến đổi nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để thích
ứng với các điều kiện của thị trường, dẫn tới từng bước thúc đẩy sự hình
đó được thể thiện:
+ Nhà nước xây dựng và Quyết định chiến lược và kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội tổng thể của đất
nước. Đó thực chất là quá trình định hướng phân bố nguồn lực và hướng đầu
tư theo ngành.
+ Bằng hệ thống pháp luật, chính sách... Nhà nước khuyến khích hay hạn
chế, thậm chí gây áp lực để các doanh nghiệp, các nhà đầu tư (cả trong và
ngoài nước) phát triển sản xuất kinh doanh theo định hướng Nhà nước đã xác
định. Ví dụ: để khuyến khích công nghiệp ô tô phát triển, trong những năm
1970 nhiều tổ hợp công nghiệp của Hàn Quốc được khuyến khích phát triển
chế tạo ô tô và xuất khẩu ô tô. Các tổ hợp này được hưởng chế độ miễn thuế
đặc biệt và trong trường hợp doanh nghiệp bị thua lỗ thì Nhà nước sẽ bù lỗ.
- Tiến bộ khoa học - công nghệ không những chỉ tạo ra những khả năng
sản xuất mới, đẩy nhanh tốc độ phát triển một số ngành làm tăng tỷ trọng của
chúng trong tổng thể nền kinh tế (làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế) mà còn tạo
ra những nhu cầu mới, đòi hỏi sự xuất hiện một số ngành công nghiệp non trẻ
công nghệ tiên tiến như: dầu khí, điện tử... do đó có triển vọng phát triển
mạnh mẽ trong tương lai.
Trên đây, chúng ta vừa xem xét một số khái niệm cơ bản cũng như các
nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Qua đó, giúp cho
chúng ta hiểu rõ hơn về bản chất của vấn đề để từ đó có thể rút ra những kết
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
luận mang tính giải pháp nhằm hoàn thiện cơ cấu kinh tế hợp lý trong quá
trình phát triển.
1.1.2 Vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình phát triển
kinh tế.
Cơ cấu kinh tế hợp lý giúp cho việc thu được mức tăng sản xuất xã hội
lớn nhất, mới có thể phân bố hợp lý lực lượng sản xuất, phát triển các mối
quan hệ đối ngoại, đưa nhanh tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất.
1170
250
1160
3060
5630
3600
Chi phí lao động
Lợi nhuận
Giá trị tổng sản lượng
1940
1290
9180
3550
1780
7940
2200
1530
6310
Năm
1976
Nguồn: Niên giám thống kê
Theo tỷ lệ % ta có:
Bảng 2:
I II III Cộng
Giá trị tổng sản
lượng
39.18 33.89 26,93 100
Chi phí lao động 25.22 56.16 28,62 100
Tổng số vốn đầu tư (trong và ngoài nước) có thể huy động cho năm sau
là 1878 triệu đồng và có thể phân bố cho các ngành với mức tiếp nhận cùng
nghiệp
Nông nghiệp Các ngành khác
1878 40% (751,2) 20% (375,6) 40% (751,2)
Hiệu quả 112,68 82,63 150,24
Giá trị tổng sản lượng 9292,68 8022,63 6460,24
Với 2 phương án phân bổ vốn đầu tư trên, ta thu được hai phương án kế
hoạch của năm 1977 như sau: (Bảng 6 và bảng 7 có hiệu quả khác nhau với
cơ cấu khác nhau - với ký hiệu: Xi (i = I, II, II) là giá trị tổng sản phẩm của
ngành i; CPLĐ: Chi phí lao động; LN : lợi nhuận; GTTSL : giá trị tổng sản
lượng.
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bảng 6: Bảng cân đối liên ngành năm 1977 (Phương án I)
Đơn vị: Triệu đồng
Ngành sản xuất
Giá trị
tổng sản
Tiêu dùng sản xuất Sản lượng
cuối cùng
I II III
X
1
X
2
X
3
9311
8057,38
6475,26
3905
cuối cùng
I II III
X
1
X
2
X
3
9292,6
8022,63
-
3897,3
910,70
1214,6
1111,13
1172,11
1214,6
1195,14
258,41
1188,68
CPLĐ
LN
GTTSL
1963,58
1306,54
9292,68
3586,12
1797,07
8022,63
2254,62
nhiều trong mối liên hệ với quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế là cơ
cấu ngành. Ngay từ cuối thế kỷ 19, nhà kinh tế học người Đức E.Engle đã
phát hiện ra mối quan hệ giữa phát triển kinh tế (thu nhập bình quân tăng lên)
với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Theo E.Engle, khi thu nhập của các gia đình tăng lên thì tỷ lệ chi tiêu của
họ cho lương thực, thực phẩm giảm đi. Do chức năng chính của khu vực nông
nghiệp là sản xuất lương thực, thực phẩm nên có thể suy ra là tỷ trọng nông
nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế sẽ giảm đi khi thu nhập tăng lên.
Quy luật E.Engle được phát hiện cho sự tiêu dùng lương thực, thực phẩm
nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng cho việc nghiên cứu
tiêu dùng các loại sản phẩm khác. Các nhà kinh tế gọi lương thực, thực phẩm
là các sản phẩm thiết yếu, hàng công nghiệp là sản phẩm tiêu dùng lâu bền và
việc cung cấp dịch vụ là sự tiêu dùng cao cấp. Qua quá trình nghiên cứu, họ
phát hiện ra xu hướng chung là khi thu nhập tăng lên thì tỷ lệ chi tiêu cho
hàng tiêu dùng lâu bền tăng phù hợp với thu nhập, còn chi tiêu cho tiêu dùng
cao cấp tăng nhanh hơn tốc độ tăng thu nhập, tức là tỷ trọng của ngành công
nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế đã có sự thay đổi
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Như vậy, quy luật tiêu thụ sản phẩm của E.Engle đã làm rõ tính xu
hướng của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành nói
riêng trong quá trình phát triển.
1.2 Cơ cấu ngành kinh tế trong các lý thuyết phát triển.
Với tư cách là loại lý thuyết chủ yếu nghiên cứu các con đường phát
triển kinh tế của các nước chậm phát triển hiện đang tiến hành công nghiệp
hoá, các lý thuyết phát triển trực tiếp hoặc gián tiếp đều bàn tới một trong
những vấn đề cơ bản nhất của công nghiệp hoá là chuyển dịch cơ cấu ngành.
Song do bản thân thế giới chậm phát triển bao gồm nhiều quốc gia với những
đặc điểm đặc thù khác nhau. Do xuất phát từ các quan điểm và các góc độ
nghiên cứu khác nhau nên vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành trong quá trình
mới của sự phát triển. Nhu cầu đầu tư tăng lên đã thúc đẩy sự hoạt động của
ngân hàng và sự ra đời của các tổ chức huy động vốn. Tiếp đó giao lưu hàng
hoá trong và ngoài nước phát triển đã thúc đẩy sự hoạt động của ngành giao
thông vận tải, thông tin liên lạc.
Tuy vậy, tính cả các hoạt động này chưa vượt qua được phạm vi giới hạn
của một nền kinh tế với những đặc trưng của phương thức sản xuất truyền
thống, năng suất thấp. Xã hội truyền thống vẫn tồn tại song song với các hoạt
động kinh tế hiện đại đang phát triển.
* Giai đoạn III. Cất cánh: Đây là giai đoạn mà lực cản của xã hội truyền
thống và các thế lực chống đối với sự phát triển đã bị đẩy lùi. Các lực lượng
tạo ra sự tiến bộ về kinh tế đang lớn mạnh và trở thành lực lượng chiếm tỷ
trọng lớn trong xã hội. Trong giai đoạn này khoa học - kỹ thuật tác động
mạnh vào công nghiệp và nông nghiệp; công nghiệp giá vai trò “đầu tầu”, có
tốc độ tăng trưởng cao, đem lại lợi nhuận lớn. Ngoài ra, ở giai đoạn này hầu
hết các nước đã phát huy các ngành công nghiệp mũi nhọn để chiếm lĩnh đỉnh
cao về khoa học - công nghệ của lĩnh vực này và tiến hành chuyển giao cho
các nước đi sau. Sự chuyển dịch cơ cấu ngành trong giai đoạn này đã phát
triển đến một trình độ cao hơn. Ví dụ, nước Anh tiến hành công nghiệp hoá từ
cuối thế kỳ XVII với sự khởi sắc của ngành công nghiệp dệt và đến nay vẫn là
ngành có ưu thế. Đức, Hoa Kỳ, Bỉ, Pháp, Thuỵ Điển là những nước tiến hành
công nghiệp hoá ở vào thời kỳ những năm 40-50 của thế kỷ XIX và chiếm giữ
thế mạnh là ngành cơ khí chế tạo. ở trên ta mới xét đến đặc điểm về cơ cấu
ngành, ngoài ra ở giai đoạn này còn một số đặc điểm về mặt kinh tế - xã hội
như: tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư tăng từ 5 đến 10% và cao hơn trong thu nhập
quốc dân thuần tuý (NNP), ngoài vốn đầu tư huy động trong nước, vốn đầu tư
huy động từ nước ngoài có ý nghĩa quan trọng.
* Giai đoạn IV. Trưởng thành: Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này là:
Tỷ lệ đầu tư đã tăng từ 10 đến 20% thu nhập quốc dân thuần tuý; khoa học -
kỹ thuật được ứng dụng trên toàn bộ các mặt hoạt động kinh tế. Nhiều ngành
công nghiệp mới, hiện đại phát triển; nông nghiệp được cơ giới hoá, đạt được
quá trình tăng trưởng ở các nước đang phát triển.
Cơ sở nghiên cứu của mô hình: Lewis xuất phát từ cách đặt vấn đề của
nhà kinh tế học cổ điển David Ricardo, người đầu tiên nghiên cứu vấn đề hai
khu vực kinh tế trong tác phẩm “Những nguyên lý của kinh tế chính trị học và
thuế khoá” xuất bản năm 1817. Trong nghiên cứu mô hình của mình, Ricardo
đã đưa ra hai vấn đề: Một là, khu vực nông nghiệp có lợi nhuận biên giảm dần
theo quy mô và tiến tới bằng không. Nguyên nhân của hiện tượng này là do
quy mô sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng lên đòi hỏi phải sử dụng đất đai
ngày càng xấu hơn, dẫn đến chi phí sản xuất tăng dần khi sản xuất một tấn
lương thực, với mức tăng cho trước ở đầu vào dẫn đến các mức tăng liên tục
nhỏ hơn ở đầu ra. Số và chất lượng ruộng đất là yếu tố có điểm dừng, nếu con
người khai thác đến điểm đó, việc tăng thêm các yếu tố đầu vào sẽ không làm
tăng mức sản lượng đầu ra. Hai là, trong khi ruộng đất có xu hướng cạn kiệt
dần thì lao động trong khu vực nông nghiệp vẫn tiếp tục tăng và dẫn đến hiện
tượng dư thừa ngày càng phổ biến. Ông cho rằng lao động dư thừa ở nông
thôn về hình thức khác với lao động dư thừa ở khu vực thành thị. ở thành thị
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lao động được coi là dư thừa khi họ có khả năng lao động, có nhu cầu lao
động nhưng không thể tìm được việc làm. Còn ở nông thôn thì không phải
như vậy, hiện tượng phổ biến ở đây là mọi người đều có việc làm nhưng với
năng suất lao động ngày càng thấp, các thành viên trong gia đình phải chia
việc ra để làm. Sản phẩm biên của lao động giảm dần và tiến tới bằng không.
Hiện này các nhà kinh tế gọi là thất nghiệp trá hình (vô hình hoặc bán thất
nghiệp). Từ những cơ sở nêu trên, Ricardo kết luận rằng khu vực nông nghiệp
mang tính trì trệ tuyệt đối, cần phải giảm dần cả về quy mô và tỷ trọng trong
đầu tư.
Nội dung của mô hình: Lý thuyết nhị nghuyên cho rằng ở các nền kinh tế
có 2 khu vực kinh tế song song tồn tại: Khu vực kinh tế truyền thống chủ yếu
là sản xuất nông nghiệp và khu vực kinh tế hiện đại (công nghiệp) du nhập từ
nền công nghiệp ở các nước phát triển thì khu vực được gọi là "công nghiệp
hiện đại" ở các nước chậm phát triển yếu kém hơn rất nhiều. Vì vậy, để vừa
có thể tăng cường khả năng cạnh tranh với các nền công nghiệp nước ngoài,
vừa làm "đầu tầu" lôi kéo sự tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế thì khu vực
công nghiệp hướng tới những ngành kỹ thuật cao. Nhưng những ngành này
cần tăng hàm lượng vốn đầu tư hơn là cần tăng hàm lượng lao động vì thế,
khu vực "công nghiệp hiện đại" ở các nước chậm phát triển cũng có nguy cơ
gặp phải vấn đề dư thừa lao động chứ không riêng gì ở khu vực nông nghiệp.
- Khả năng đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của người lao động nông nghiệp
khi chuyển sang lĩnh vực công nghiệp. Về mặt này, một thực tế là người lao
động nông thôn có trình độ học vấn thấp hơn nhiều so với lao động thành thị
và thậm chí chưa quên với môi trường lao động công nghiệp. Việc đào tạo lao
động công nghiệp kỹ năng cao chẳng những đòi hỏi nhiều thời gian mà còn
phải có đầu tư lớn, đến mức người ta xem như một trong những lĩnh vực đầu
tư quan trọng nhất đối với 1 nền kinh tế. Với những phân tích trên, người ta
thấy rằng xác suất tìm được việc làm mới ở khu vực công nghiệp đối với
người nông dân dời bỏ ruộng đồng là có giới hạn.
Tóm lại, khi phân tích sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của 2 lĩnh vực sản
xuất vật chất quan trọng nhất của nền kinh tế chậm phát triển trong thời kỳ
công nghiệp hoá, các lý thuyết nhị nguyên đã đi từ chỗ cho rằng chỉ cần tập
trung vào phát triển công nghiệp mà không chú ý tới nông nghiệp đến chỗ chỉ
ra những giới hạn của chúng và vì thế cần quan tâm thích đáng tới nông
nghiệp trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quá trình phát triển.
1.2.3. Lý thuyết phát triển cân đối liên ngành.
Những người ủng hộ quan điểm này như R.Murkse, P.Rosentein
-Rodan... cho rằng để nhanh chóng công nghiệp hoá cần thúc đẩy sự phát
triển đồng đều ở tất cả các ngành kinh tế quốc dân. Họ chủ yếu dựa trên
những luận cứ sau:
- Trong quá trình phát triển, tất cả các ngành kinh tế liên quan mật thiết
với nhau trong chu trình "đầu ra" của ngành này là "đầu vào" của ngành kia.
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mô hình này đã không thể tiếp tục duy trì lâu
hơn. Các nước khác nhau tuỳ vào những điều kiện cụ thể của mình mà lần
lượt rời bỏ mô hình trước những giới hạn không sao vượt qua được. Các nhà
kinh tế học đã tổng kết các lý do cơ bản của tình hình này là:
+ Mô hình này tự nó giả định phát triển đồng thời tất cả (hay ít nhất cũng
là hầu hết) các ngành kinh tế quốc dân. Yêu cầu này không thể đáp ứng được
bởi các nền kinh tế kém phát triển do bị quá tải về vốn đầu tư, khả năng công
nghệ kỹ thuật và quản lý.
+ Việc phát triển một cơ cấu kinh tế cân đối, hoàn chỉnh đã đưa nền kinh
tế đến chỗ khép kín và tách biệt với thế giới bên ngoài. Điều này chẳng những
ngược với xu hướng chung của tất thảy mọi nền kinh tế trong điều kiện hiện
đại là khu vực hoá và toàn cầu hoá. Kinh nghiệm thế giới và lý thuyết hệ
thống đã chỉ ra rằng: Sự phát triển của một quốc gia do động lực bên trong
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
quốc gia đó là chính, tuy nhiên có sự tận dụng các lợi thế từ môi trường bên
ngoài.
Cả hai yếu tố trên đều góp phần làm cho sự chuyển dịch cơ cấu ngành
theo hướng công nghiệp hoá gặp khó khăn bởi lẽ cách tiếp cận trên đã làm
phân tán các nguồn lực phát triển rất có hạn của quốc gia khiến cho ngay cả
việc sửa cháa hậu quả cơ cấu kinh tế què quặt của thời kỳ thuộc địa cũ cũng bị
trở ngại. Chính vì thế, chỉ sau 1 thời kỳ tăng trưởng, các nền kinh tế theo đuổi
mô hình cơ cấu cân đối này đã nhanh chóng rơi vào tình trạng thiếu năng
(maldevelopment).
1.2.4. Lý thuyết phát triển cơ cấu ngành không cân đối hay
"các cực tăng trưởng".
Ngược lại với quan điểm phát triển nền kinh tế theo một cơ cấu cân đối,
khép kín nêu trên, lý thuyết phát triển cơ cấu ngành không cân đối
(A.hirschman, F.Perrons, G.Destanne deBernis) cho rằng không thể và không
nhất thiết phải bảo đảm tăng trưởng bền váng bằng cách duy trì cơ cấu cân đối
phẩm, điện tử dân dụng. Trong khi đó một số nước khác như Malaysia và
Thái Lan lại khởi đầu với những sản phẩm nông nghiệp và khai thác khoáng
sản.
+ Toàn bộ hệ thống chính sách chủ yếu nhằm khuyến khích xuất khẩu,
tức là đảm bảo cho các nhà sản xuất có lợi hơn nếu bán sản phẩm của mình ra
nước ngoài. Cụ thể là:
Nhà nước trực tiếp tác động bằng cách đưa ra danh mục các mặt hàng ưu
tiên, được giảm hoặc miễn thuế nhập khẩu, hoặc trực tiếp trợ cấp cho các loại
hàng hoá phục vụ sản xuất hàng xuát khẩu.
Nhà nước gián tiếp can thiệp qua các công cụ tài chính, tiền tệ, tạo lập
môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất hướng ra thị trường thế giới. Ví
dụ như: đánh tụt giá đồng tiền nội địa cung cấp tín dụng với lãi suất ưu đãi
cho sản xuất xuất khẩu khuyến khích đầu tư ngước ngoài....
Lúc đầu, lý thuyết này tỏ ra không hấp dẫn lắm vì nó xây dựng một nền
kinh tế hướng ngoại và phụ thuộc vào bên ngoài (các nền kinh tế khác) mà
thường thì các nước có nền kinh tế chậm phát triển gặp phải nhiều bất lợi hơn.
Nhưng về sau do kết quả tăng trưởng kinh tế "thần kỳ" của một nhóm nước
thực hiện chính sách này như: NICs, Malay sia, Thái Lan... nên xu hướng này
đã được nhiềù nước áp dụng. Tuy nhiên, các nhà kinh tế học cũng đưa ra hai
loại vấn đề cần lưu ý khi áp dụng lý thuyết này;
Thứ nhất, một số yếu điểm của chính sách thúc đẩy công nghiệp hoá
hướng ngoại như sự phụ thuộc quá mức vào biến động của thị trường thế giới,
tiêu biểu là cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 vừa qua đã làm cho nhiều
nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng về tăng trưởng kinh tế cũng như về mặt xã
hội.
Thứ hai, không chắc môi trường kinh tế quốc tế còn thuận lợi cho việc
thực thi chính sách hướng về xuất khẩu vì lợi thế so sánh không tồn tại mãi
mãi.
16