Website: Email : Tel (: 0918.775.368
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
------------------
Chuyên đềCHUYÊN ĐỀ TIẾN SĨ KINH TẾ
Đề tài luận án:
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VỚI CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU KINH TẾ CỦA CAMPUCHIA
Giáo viên hướng dẫn : GS-TS. Tô Xuân Dân
GS-TS. Tăng Văn Bềên
Người thực hiện :: Vuth Phan Na
Chuyên ngành : Kinh tế đối ngoại
Mã số : 5 02 05
HÀ NỘI - 20065
LỜI MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của đề tài luận án:
Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một xu
thế tất yếu đối với tất cả các quốc gia trên thế giới. Toàn cầu hoá giúp phần
củng cố an ninh chính trị của mỗi quốc gia thông qua việc thiết lập các mối
quan hệ đan xen, nhiều chiều, ở nhiều tầng nấc khác nhau giữa các quốc gia.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý là cốt lõi trong chiến lược phát
triển kinh tế của mỗi nước, là nhân tố quan trọng để đảm bảo sự tăng
trưởng bền vững và nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội của tăng trưởng. Thực
tiễn phát triển kinh tế các nước cho thấy chuyển dịch cơ cấu kinh tế là điều
kiện tiên quyết để nền kinh tế vượt qua thời kỳ suy thoái và đạt tới trình độ
phát triển cao hơn. Là một nước đang phát triển ở trình độ thấp Campuchia
đang phải đương đầu với những thách thức to lớn cả về kinh tế và xã hội.
Thực tế đó đòi hỏi Campuchia phải vạch ra chiến lược chuyển dịch cơ cấu
kinh tế phù hợp.
Chính phủ Campuchia đã nhận thức được vai trò quan trọng và xu
dịch cơ cấu kinh tế.
- Chỉ ra những bất cập và đánh giá thực trạng kinh tế cũng như cơ
cấu kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Campuchia. Phân tích quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế của Campuchia và đánh giá tác động của nó
tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất những phương
hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp nhằm đưa nền kinh
tế Campuchia đạt tới trình độ phát triển cao và bền vững phù hợp với mục
tiêu và chính sách phát triển kinh tế - chính trị - xã hội của Chính phủ
Hoàng gia Campuchia.
3
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Luận án lấy quá trình hội nhập quốc tế, đặc biệt là việc gia nhập Tổ
chức thương mại thế giới và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Campuchia
làm đối tượng nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào
thời kỳ từ năm 1995 đến nay. Đây là giai đoạn nền kinh tế của Campuchia
có sự thay đổi lớn và đa dạng.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một vấn đề rộng, bao gồm cả cơ cấu
ngành và cơ cấu lãnh thổ. Tuy nhiên luận án sẽ chủ yếu giới hạn nghiên
cứu cơ cấu ngành kinh tế bao gồm cả nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
cũng như cơ cấu trong nội bộ các ngành đó trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
IV. Phương pháp nghiên cứu:
- Luận án vận dụng các quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện
chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử và quan điểm, đường lối, chính sách của
Nhà nước Campuchia để giải quyết các vấn đề nghiên cứu.
- Ngoài ra luận án còn phân tích tiến trình biến đổi nền kinh tế -
chính trị - xã hội khi Campuchia hội nhập Tổ chức thương mại thế giới và
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước. Do vậy, phương pháp lịch
sử có vai trò quan trọng, đồng thời phương pháp logic được sử dụng để
tổng kết, khái quát những đặc điểm cơ bản rút ra bài học kinh nghiệm.
không chỉ la quá trình tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế mà còn
được biểu hiện trong bản thân hệ thống chính sách thương mại, chính sách
phát triển kinh tế của mỗi nước. Như vậy có thể xác định hội nhập kính tế
quốc tế là việc các nước đi tìm kiếm một số điều kiện nào đó mà họ có thể
thống nhất được với nhau, kể cả dành cho nhau nhưng ưu đãi, tạo ra nhưng
điều kiện công bằng, có đi có lại trong quan hệ hợp tác với nhau... nhằm
khai thác các khả năng lẫn nhau phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế của mình.
Để thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế, các điều kiện chung được quy
định đối với mỗi quốc gia, là tự do hoá thương mại và đầu tư một cách
công khai, rõ ràng. Cụ thể, các tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế hay khu vực
nói chung đều hoạt động theo 4 nguyên tắc cơ bản sau:
- Công bằng: các nước dành cho nhau quy chế ưu đãi cao nhất của
mình và chung cho mọi nước (nghĩa là mọi hàng hoá và dịch vụ của các công
ty các nước đối tác đều được hưởng một chính sách ưu đãi chung); đồng thời
không phân biệt chính sách thương mại giữa các công ty: mọi chế độ chính
sách liên quan đến thương mại và đầu tư trong mỗi nước đều phải bình đẳng
6
giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước, giữa hàng nhập khẩu và hàng sản
xuất nội địa.
- Tự do hoá thương mại: các nước chỉ được sử dụng thuế làm công cụ
bảo hộ cho nền sản xuất của mình, các biện pháp phi thuế quan như giấy
phép, quota, hạn ngạch xuất nhập khâu... đều không được sử dụng, các biểu
thuế này đều phải có lộ trình rõ ràng công khai về việc giảm dần đến tự do
hoá hoàn toàn.
- Làm ăn hay thương lượng với nhâu phải trên cơ sở có đi có lại: khi
nền kinh tế thịt rường của một nước thành viên bị bị hàng nhập khâu đe doạ
thái quá hoạc bị những biện pháp phận biệt đối xử gây hại, thì nước đó có
quyền khước từ một nghĩa vụ nào đó hoặc có thể có những hành động khẩn
cấp cần thiết, được các nước thành viên khác thừa nhận, đề bảo vệ quyền lợi
cua nền kinh tế trong nước.
Là một hình thức hội nhập nhằm tăng cường hơn nữa mức độ hợp
tác giữa các nước thành viên. Theo thoả thuận hợp tác này, các quốc gia
trong liên minh bên cạnh việc xoá bỏ thuế quan và những hạn chế về mậu
dịch khác giữa các quốc gia thành viên, còn cần phải thiết lập một biểu
thuế quan chung của khối đối với các quốc gia ngoài liên minh, tức là phải
thực hiện chính sách cân đối mậu dịch với các nước không phải là thành
viên.
• Cộng đồng kinh tế
Là một hình thức hội nhập trong đó không chỉ qui định việc loại bỏ
hàng rào thuế quan giữa các nước thành viên và thiết lập một biểu thuế
quan chung đối với các quốc gia khác, mà còn kêu gọi thực hiện di chuyển
tự do hàng hoá, dịch vụ, lao động và vốn trong nội bộ khối.
• Liên minh kinh tế
Là một hình thức hội nhập với những đặc điểm tương đồng với cộng
đồng kinh tế về sự tự do di chuyển hàng hoá, dịch vụ, tư bản và lực lượng
lao động giữa các quốc gia thành viên, đồng thời thống nhất biểu thuế quan
chung áp dụng cho cả các nước không phải là thành viên. Tuy nhiên, liên
minh kinh tế thể hiện mức độ hội nhập cao hơn, trong đó các nước thành
8
viên còn thực hiện thống nhất các chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ. Như
vậy, cộng đồng kinh tế là một “bước đệm”, là giai đoạn chuyển tiếp từ thị
trường chung sang liên minh kinh tế. Ví dụ, trước khi chuyển sang hình
thành Liên minh Châu Âu (European Union - EU) (năm 1994) thì khối kinh
tế này đã trải qua nhiều hình thức hội nhập, trong đó có Cộng đồng kinh tế
Châu Âu (European Economic Community - EEC) (năm 1957), Cộng đồng
Châu Âu (European Community) (năm 1967).
• Liên minh tiền tệ
Là một hình thức hội nhập tiến tới phải thành lập một “quốc gia kinh
tế chung” có nhiều nước tham gia với những đặc trưng sau:
Một. xây dựng chính sách kinh tế chung trong đó có chính sách
Trong khuôn khổ của Liên hợp quốc, đã có ba Hội nghị quốc tế đã
được tổ chức (London, tháng 10/1946; tại Geneva, tháng 8/1947 và tại La
Havana từ tháng 11/1947 đến tháng 1/1948) nhằm soạn thảo ra văn kiện
thành lập ITO có tên gọi là "Hiến chương La Havana". Mục tiêu của ITO
được quy định trong hiến chương La Havana là tạo việc làm đầy đủ và tăng
trưởng thương mại. Vì vậy, để đạt được hai mục tiêu nói trên, Hiến chương
đã đề ra bốn biện pháp hành động chủ yếu: tái thiết và phát triển kinh tế; tất
cả các nước đều được tiếp cận với các nguồn cung cấp nguyên liệu và yếu
tố sản xuất trên cơ sở bình đẳng; cắt giảm các trở ngại đối với thương mại
quốc tế, hợp tác và tư vấn với ITO. Tuy nhiên, quá trình đàm phán để đi
đến Hiến chương ITO đã cho thấy những bất đồng sâu sắc giữa Mỹ, Tây
Âu với Trung Quốc về mục tiêu và những ưu tiên của ITO. Trong khi mục
tiêu quan trọng nhất của Mỹ là mở cửa thị trường các nước Tây Âu và Nhật
Bản, nhất là hạn chế đến mức tối đa các hàng rào thuế quan, tự do hoá
thương mại trên cơ sở bình đẳng và tối huệ quốc thì Trung Quốc, ấn Độ,
Libăng... lại cương quyết chống lại các điều khoản tối huệ quốc vì cho rằng
các điều khoản này sẽ đặt những nước trên rơi vào thế bình đẳng trên danh
nghĩa nhưng lại bất bình trên thực tế.
10
Chính những mâu thuẫn trên đã khiến cho Hiến chương La Havana
không bao giờ có hiệu lực và ITO cũng không bao giờ ra đời. Tuy nhiên,
song song với các vòng đàm phán cho việc ra đời ITO, thì tại Genever,
ngày 30/10/1947, đại diện của 23 nước đã đi đến một thoả thuận cắt giảm thuế
quan đối với khoảng một nửa số hàng hoá trong thương mại quốc tế, đồng thời
đã ký kết Nghị định thư áp dụng tạm thời "Hiệp định chung về thuế quan và
Thương mại", gọi tắt là GATT 1947.
Chính việc Hiến chương La Havana không được phê chuẩn, nên
Hiệp định GATT với 38 điều đã được các nước áp dụng "tạm thời" trong
hơn 40 năm như là một hiệp định đa phương duy nhất, điều chỉnh các quan
hệ thương mại quốc tế. Sau gần nửa thế kỷ tồn tại và phát triển, GATT đã
Chẳng hạn, ở nguyên tắc "không phân biệt đối xử" được thể hiện trong điều
khoản "tối huệ quốc", theo đó không cho phép ưu đãi mậu dịch đối với bất
kỳ quốc gia nào hơn so với những thành viên ký kết GATT. Nhưng trong
các khu vực mậu dịch tự do (còn gọi là liên minh thuế quan - Customs
Unions) thì các thành viên trong khu vực hoặc trong liên minh đều được ưu
đãi hơn. Hay ở nguyên tắc "cấm trợ cấp cho xuất khẩu" có nghĩa là các nhà
sản xuất nội địa không được hưởng những lợi ích hoặc ưu đãi nào khiến họ
chiếm ưu thế trên thị trường nước ngoài. Ngoại lệ của nguyên tắc này dành
cho mặt hàng nông sản. Ngoài mặt hàng nông sản ra, nếu có trợ cấp ưu đãi
khác thì các nước được quyền áp dụng chính sách thuế quan phân biệt đối
xử nhằm làm đối trong với những trợ cấp này, gọi là thuế quan bù trừ.
Kết quả hoạt động của GATT
Từ năm 1947 đến năm 1994, đã có 8 vòng đàm phán thương mại đa
phương được tiến hành trong khuôn khổ GATT 1947. Nội dung của các
vòng đàm phán đã được mở rộng dần từ cắt giảm thuế quan và biện pháp
phi thuế quan đến cải cách hệ thống pháp lý, cơ chế giải quyết tranh chấp
12
của GATT. Kết quả chính đạt được qua 8 vòng đàm phán có thể được tóm
tắt như sau:
Năm vòng đàm phán đầu tiên trong khuôn khổ GATT có nội dung về
cắt giảm thuế quan đối với các sản phẩm chế biến (các sản phẩm nông
nghiệp không được các nước đưa vào đàm phán) và sử dụng phương pháp
cắt giảm song phương. Theo phương pháp này, các bên ký kết có liên quan
sẽ đàm phán song phương với nhau để cắt giảm thuế quan đối với từng sản
phẩm cụ thể. Tổng cộng qua 5 vòng đàm phán đã có gần 60.000 sản phẩm
được cắt giảm thuế quan. Mọi cam kết giảm thuế quan phải đưa vào biểu
cam kết về thuế quan và về nguyên tắc ràng buộc các bên ký kết (nguyên
tắc ràng buộc)
Bảng 1: Các vòng đàm phán thương mại của GATT
Năm Địa điểm Nội dung vòng đàm phán Số
còn 6%. Trong lĩnh vực phi thuế quan, vòng Tokyo đã thông qua được 5
"bộ luật" (code) về các biện pháp phi thuế quan: trợ cấp, trị giá hải quan,
mua sắm Chính phủ, tiêu chuẩn kỹ thuật và thủ tục cấp phép nhập khẩu và
hai thoả thuận về nông nghiệp và một thoả thuận về công nghiệp hàng không.
Vòng đàm phán tổng thể Uruguay (1986 - 1993, 123 nước); vòng Tokyo
vừa kết thúc, Mỹ đã đưa ra một đề nghị mở tiếp một vòng đàm phán mới. Đề
nghị này của Mỹ nhằm 3 mục tiêu chiến lược: đối phó với những thế lực bảo
hộ tại Mỹ vốn rất bực tức về việc Mỹ thường xuyên bị nhập siêu lớn trong
thương mại với Nhật Bản, Tây Âu và một số nước và nền kinh tế công nghiệp
hoá mới; áp đặt những tư tưởng của chủ nghĩa tự do kinh tế của Reagan đối với
Tây Âu, Nhật bản và Trung Quốc; giải quyết dứt điểm các hồ sơ tranh chấp về
nông nghiệp, dịch vụ và văn hoá với Tây Âu và các nước khác.
NNhững hạn chế của GATT
Do bản thân nó còn tồn tại nhiều bất cập rất khó khắc phục nên
GATT ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế trước trào lưu toàn cầu hoá kinh tế
đang diễn ra ngày càng nhanh, mạnh và sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội. Điều này chủ yếu được biểu hiện ở những điểm sau:
a. Về vị trí, GATT chỉ là một "bản hiệp định quân tử" mang tính tạm
thời chứ không phải là một tổ chức quốc tế chính thức, không có tư cách
chủ thể luật quốc tế. Vị trí không chính thức này của GATT đã gây trở ngại
cho nó trong việc tiến hành các hoạt động thông thường, hạn chế nó trong
việc phát huy chức năng của mình, làm giảm bớt quyền lực của nó với tư
cách là một tổ chức quản lý và điều hoà các hoạt động mậu dịch quốc tế.
b. Phạm vi quản lý của GATT quá nhỏ hẹp vì chỉ hạn chế ở lĩnh vực
thương mại hàng hoá. Nhưng trong quá trình phát triển thương mại và kinh
14
tế, thương mại dịch vụ phát triển hết sức nhanh chóng, ngày càng đóng vai
trò quan trọng. Hơn nữa sự phát triển của nền kinh tế thế giới ngày càng
mang đặc trưng của nền kinh tế tri thức, làm thế nào để bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ trong hoạt động thương mại quốc tế đã trở thành một chủ đề
chính phủ các nước đưa ra một loạt những hình thức bảo hộ khác như: Tự
nguyện hạn chế xuất khẩu, tăng cường các biện pháp kiểm dịch, nâng cao
tiêu chẩn hàng hoá nhập khẩu.. . Chính vì vậy mà thương mại thế giới đã
trở nên phức tạp hơn nhiều so với 40 năm trước đó. Ngay cả đối với thương
mại hàng hoá, nhiều lĩnh vực tuy đã được GATT xem xét nhưng vẫn còn
nhiều lỗ hổng, chưa hợp lý, đặc biệt như hiệp định về thương mại hàng
nông sản và hàng dệt may chủ yếu chỉ mang lại lợi thế và để bảo vệ lợi ích
cho các nước công nghiệp phát triển. Thể chế của GATT và hệ thống giải
quyết tranh chấp cũng bị một số nước thành viên chỉ trích.
Hơn nữa, đây cũng là thời kỳ kết thúc "chiến tranh lạnh", thế giới
chuyển từ xu thế "đối đầu" sang "đối thoại", thực hiện mở cửa và hội nhập
với quốc tế. Tình hình kinh tế, thương mại thế giới có những biến đổi
nhanh chóng và sâu sắc dưới tác động của toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới
và sự phát triển vượt bậc của thông tin liên lạc. Do đó, nhiều vấn đề mới
trong quan hệ quốc tế phát sinh, vượt xa khuôn khổ của GATT, đòi hỏi các
quốc gia thành viên phải xem xét lại sứ mạng của GATT.
Cuối cùng, để khắc phục những hạn chế nội tại không thể giải quyết
của GATT và để đáp ứng nhu cầu phát triển toàn cầu hoá thương mại và kinh
tế quốc tế ngày càng phức tạp, các bên tham gia vòng đàm phán Urugoay
(vòng đàm phán cuối cùng của GATT) đã quyết định thiết lập một thể chế
thương mại đa phương mới tiếp tục GATT và thay thế cho GATT, đó là tổ
chức Thương mại thế giới (World Trade Orgnization - WTO) vào ngày
01/01/1995.
WTO là tổ chức quốc tế lớn nhất đầu tiên trong việc thiết lập các
thoả thuận và cam kết chung trên quy mô toàn cầu trong lĩnh vực thương
mại và phát triển kinh tế nói chung. Với tư cách là tổ chức thương mại của
16
tất cả các nước trên thế giới, WTO thực hiện mục tiêu đã được nêu trong
lời nói đầu của GATT là nâng cao mức sống của nhân dân các nước thành
viên, đảm bảo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thương mại, sử
của tổ chức này.
Thêm vào đó, hội nhập kinh tế quốc tế đang là một xu hướng hiện
nay và không có một quốc gia nào muốn ở ngoài cuộc. Do đó, dù muốn hay
không thì mỗi một quốc gia đều phải hoà nhập vào quá trình này. Toàn cầu
hoá kinh tế đã tạo ra những quan hệ gắn bó, sự tuỳ thuộc lẫn nhau và những
tác động qua lại giữa các nền kinh tế. Quá trình tự do hoá thương mại, dịch
vụ, đầu tư đã tạo ra những lợi thế mới thúc đẩy lực lượng sản xuất phát
triển, đẩy mạnh giao lưu kinh tế đồng thời góp phần khai thác lợi thế so
sánh của các nước tham gia vào nền kinh tế thế giới. Hầu như không có
một quốc gia nào đứng ngoài vòng xoáy của sự hội nhập nếu không muốn
tự cô lập và rơi vào nguy cơ tụt hậu. Việc tham gia quá trình hội nhập càng
chủ động thì càng có hiệu quả và tránh được nhiều rủi ro. Có thể nhận thấy
tính tất yếu khách quan của xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và
gia nhập WTO ở một số khía cạnh sau:
Thứ nhất, trên toàn thế giới và trong mỗi quốc gia đều đã có sẵn đến
một mức nào đó các điều kiện vật chất - kỹ thuật như tiềm lực kinh tế kỹ
thuật, sức mạnh quân sự chính trị, nền tảng văn hoá - xã hội … và khi các
tiềm lực này phát triển mạnh mẽ, đạt đến một điểm mà tại đó bản thân các
tiềm lực này đòi hỏi một môi trường rộng lớn hơn để phát triển. Khi đó, có
nguồn lực sẽ di chuyển từ quốc gia này sang các quốc gia bên cạnh và ngược
lại. Bất cứ một nền kinh tế nào không thể không tham gia vào quá trình này.
Đây chính là những điều kiện cơ bản để các quốc gia tiến hành kinh tế
quốc tế.
Thứ hai, nhìn nhận một cách khách quan, toàn bộ quá trình Toàn cầu
hoá là một tất yếu vì lợi ích thu được từ quá trình trên đối với quốc gia là
xu hướng chủ đạo. Nếu quốc gia nào không theo xu hướng đó thì chắc chắn
18
sẽ phải chịu tổn thất phát triển to lớn hơn nhiều; là tự chặn con đường tiến
lên của mình trong thời đại ngày nay. Vấn đề đặt ra ở đây không còn là cân
nhắc xem nên tham gia vào quá trình hội nhập hay không mà là hội nhập
hợp hội nhập dưới hình thức liên minh thuế quan: Giả sử một đơn vị sản
phẩm x khi có mậu dịch tự do ở quốc gia 1 là Px = 1 USD và ở phần còn lại
của thế giới là Px = 1,5 USD. Dx và sản xuất là đường cầu và đường cung
sản phẩm x ở thị trường nội địa của quốc gia 2.
Giả sử thêm rằng, quốc gia 2 là một nước nhỏ nên sự ảnh hưởng đến
mức giá chung là rất ít, có thể không xét đến.
Biểu đồ 1: Liên minh thuế quan - Tạo lập mậu dịch
Khi chưa có liên minh thuế quan và lúc đó quốc gia 2 đánh thuế
100% không phân biệt xuất xứ hàng hoá đối với tất cả những sản phẩm x
nhập khẩu. Như vậy, quốc gia 2 sẽ nhập khẩu sản phẩm x từ quốc gia 1 với
0
10
V
30
U
50
Z
60
W
X
A B
G
2
1
M NC
J H
S1
S1+T
Dx
Sx
Thứ hai, lợi ích tiêu dùng tăng thêm do giá giảm xuống làm cho
người dân ở quốc gia 2 có thể mua một khối lượng hàng hoá lớn hơn (có
21
mức lợi ích ZWBH) với mức chi phí thấp hơn (có mức chi phí ZWBN)
biểu thị bằng tam giác BHN. Như vậy, một liên minh thuế quan sẽ đưa đến
việc tạo lập mậu dịch và từ đó mang lại những lợi ích cho người sản xuất
và người tiêu dùng trong các quốc gia trong liên minh.
Sự nhất trí cao hơn
Hoạt động của các định chế quốc tế như GATT và WTO có mục tiêu
giảm bớt các trở ngại đối với thương mại và đầu tư trên quy mô toàn cầu.
Những nỗ lực liên kết kinh tế khu vực thường có sự tham gia của một vài
cho tới hàng chục quốc gia. Một lợi ích khác của quá trình liên kết kinh tế
quốc tế và khu vực là việc đạt tới sự nhất trí giữa một số lượng nhỏ các
nước thành viên sẽ dễ dàng hơn nhiều so với trường hợp có nhiều quốc gia
liên quan.
Hợp tác chính trị
Liên kết kinh tế quốc tế và khu vực có thể mang lại nhiều lợi ích về
mặt chính trị. Một nhóm quốc gia có thể có tiếng nói chính trị có trọng lượng
hơn trên trường quốc tế so với từng quốc gia riêng lẻ. Vì vậy, các quốc gia sẽ
có được vị thế mạnh hơn khi đàm phán với các quốc gia khác tại các diễn
đàn như WTO hoặc Liên Hiệp quốc. Quá trình liên kết gắn liền với sự hợp
tác về chính trị có thể làm giảm khả năng xảy ra xung đột quân sự giữa các
quốc gia thành viên. Trên thực tế thì hoà bình đã được coi là mục tiêu trọng
tâm của những nỗ lực liên kết ở Châu á trong những năm 50. Hậu quả tàn
khốc của hai cuộc chiến tranh thế giới trong nửa đầu thế kỷ 20 đã buộc Châu
Âu phải coi liên kết như là một cách thức để ngăn ngừa các cuộc xung đột
vũ trang.
Các tác động tích cực khác
Ngoài những tác động tích cực nêu trên, liên kết kinh tế quốc tế và
khu vực còn mang lại cho các nước thành viên nhiều lợi ích tĩnh và động
Giả sử quốc gia 1 và 3 là những quốc gia sản xuất sản phẩm x trên
quy mô lớn. Trên biểu đồ S1 và S3 là đường cung co giãn hoàn toàn của sản
phẩm x từ quốc gia 1 và 3 đối với quốc gia 2 trong điều kiện mậu dịch tự do;
còn S1+T là đường cung khi đánh thuế sản phẩm x đối với quốc gia 1 là 100%.
Khi chưa có liên minh thuế quan, thuế nhập khẩu đối với sản phẩm x
đồng đều là 100%, nên quốc gia 2 sẽ nhập khẩu sản phẩm x từ quốc gia 1
với giá Px 2 USD. ở mức giá này, quốc gia 2 sẽ tiêu thụ 70x (GH), trong đó
40x (GJ) được sản xuất trong nước và 30x (JH) được nhập khẩu từ quốc gia
1. quốc gia 2 cũng thu được 30 USD (JMNH) thuế nhập khẩu.
Trong trường hợp quốc gia 2 và quốc gia 3 thành lập liên minh thuế
quan và xoá bỏ thuế nhập khẩu đối với sản phẩm x. Khi đó, quốc gia 2 sẽ
nhập khẩu x với giá rẻ hơn giá nhập khẩu từ quốc gia 3 (Px = 1,5 USD), tại
mức giá này quốc gia 2 tiêu thụ 80x (G’B’), trong đó 30x (G’C’) được sản
0
20
30
70
80
X
A B
G2
1
M N
C
J H
S1
Dx
Sx
Px
($)
quan nay không còn nữa, trong đó phần JJ’H’H được chuyển cho người
tiêu dùng do họ không phải đóng thuế nữa, nhưng phần MNH’J’ lại là phúc
lợi mất đi do chuyển hướng mậu dịch từ việc nhập khẩu ở quốc gia 1 có giá
thấp sang quốc gia 3 có giá cao. Tỷ giác G’GJC’ thẻ hiện thặng dư của
người sản xuất ở quốc gia 2 bị di chuyển sang cho người tiêu dùng. Khi
hình chữ nhật MNH’J’ biểu thị trị giá 15 USD là phúc lợi bị mất đi từ việc
chuyển hướng mậu dịch lớn hơn tổng hai tam giác C’J’J (2,5 USD) và tam
giác B’H’H (2,5 USD) thì điều đó có nghĩa là liên minh thuế quan này đã
mất đi 10 USD phúc lợi thực sự của quốc gia 2.
25