lời mở đầu
Thực hiện chủ trơng của Đảng về việc đa dạng hoá thị trờng, đa phơng hoá
quan hệ kinh tế gia nhập các tổ chức và hiệp hội kinh tế quốc tế khi cần thiết có
điều kiện, nớc ta trở thành thành viên đầy đủ của ASEAN và AFTA vào năm 1995,
của ASEM vào năm 1996 và của APEC vào năm 1998. Với WTO, nớc ta trở thành
quan sát viên từ năm 1995 và hiện đang trong quá trình đàm phán để gia nhập tổ
chức này. Những sự kiện này, kết hợp với nhu cầu nội tại của nền kinh tế, đã đặt ra
những yêu cầu mới cho mỗi doanh nghiệp thơng mại.
Hội nhập kinh tế tạo ra các cơ hội phát triển kinh doanh cho các doanh nghiệp
thơng mại Việt Nam, thị trờng đợc mở rộng, có khả năng thiết lập quan hệ buôn
bán với nhiều đối tác trên thế giới Nh ng bên cạnh đó, xu thế hội nhập khiến cho
môi trờng kinh doanh trong nớc thay đổi, các doanh nghiệp nớc ngoài có bớc phát
triển hơn ta từ 20 đến 30 năm thâm nhập thị trờng Việt Nam tạo nên sự cạnh tranh
ngày càng gay gắt giữa các doanh nghiệp, điều này khiến doanh nghiệp thơng mại
trong nớc phải đối mặt với không ít nguy cơ và thách thức. Doanh nghiệp thơng
mại muốn tồn tại và phát triển cần nghiêm túc coi sự đổi mới toàn diện và liên tục
để hội nhập là chìa khóa mở cánh cửa thị trờng trong nớc, từ đó có thể tìm đợc chỗ
đứng trên thị trờng khu vực và thế giới.
Do nhận thức đợc tầm quan trọng của những đổi mới trong hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp thơng mại trong bối cảnh hiện nay, dựa trên kiến thức có
đợc và cùng với sự hớng dẫn nhiệt tình của thầy giáo Thạc sĩ Nguyễn Văn
Tuấn, em đã đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu và chọn đề tài Đổi mới hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp thơng mại trong quá trình hội nhập cho đề án môn
học của em.
Nội dung đề án của em đợc chia làm ba phần nh sau:
I. Khái quát về hoạt động kinh doanh tại doanh nghiệp thơng mại
1. Một số khái niệm
2. Chức năng của doanh nghiệp thơng mại
3. Nội dung của hoạt động kinh doanh thơng mại
1
II. Những mặt cần đổi mới trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp th-
Thơng mại là quá trình mua bán hàng hoá, dịch vụ bằng tiền trên thị trờng.
Có thể nói rằng thơng mại hình thành và phát triển dựa trên cơ sở lực lợng sản
xuất phát triển đến mức mà sản xuất xã hội trở thành sản xuất hàng hoá.
Sản xuất hàng hoá là hàng hóa là sản xuất ra sản phẩm để bán, để trao đổi trên
thị trờng. Nó ra đời, tồn tại và phát triển dựa trên hai điều kiện đó là: Sự phân công
lao động xã hội phát triển dẫn tới sự chuyên môn hoá ngày càng cao và có sự sở
hữu khác nhau về t liệu sản xuất và sản phẩm làm ra.
Sản xuất hàng hoá còn tồn tại thì còn trao đổi, mua bán (lu thông) hàng hoá.
Và trong lu thông hàng hoá, có một loại ngời chuyên dùng tiền để mua hàng hoá
rồi đem bán, lúc này, kinh doanh thơng mại xuất hiện.
Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá
trình đầu t, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trờng
nhằm mục đích sinh lợi.
Kinh doanh thơng mại là một dạng của lĩnh vực đầu t, dùng tiền của, công
sức vào việc buôn bán hàng hoá nhằm mục đích kiếm lợi.
Hoạt động kinh doanh thơng mại gắn liền với lĩnh vực lu thông hàng
hoá và lấy hàng hoá làm đối tợng mua bán.
3
2. Chức năng của doanh nghiệp th ơng mại trong nền kinh tế
quốc dân
Chức năng của doanh nghiệp thơng mại là nhiệm vụ chung nhất gắn liền với sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp thơng mại, là tiêu thức để phân biệt doanh
nghiệp thơng mại với các doanh nghiệp công nghiêp, doanh nghiệp xây dựng và
các doanh nghiệp của các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân. Trong nền kinh
tế thị trờng, doanh nghiệp thơng mại có các chức năng sau:
+ Phát hiện nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ trên thị trờng và tìm
mọi cách để thoả mãn các nhu cầu đó.
Doanh nghiệp thơng mại là một bộ phận trung gian độc lập sản xuất và tiêu
dùng, do nó ra đời từ sự phát triển và phân công lao động xã hội nên chức năng
của nó là phải phục vụ nhu cầu của ngời tiêu dùng và ngời sản xuất về các loại
mại, giúp doanh nghiệp vợt qua khó khăn, hoạt động có hiệu quả và ngày càng
phát triển.
Các mối quan hệ bên ngoài của doanh nghiệp thơng mại với bạn hàng, với nhà
cung ứng, với cơ quan cấp trên, với cơ quản lý có liên quan nh tài chính, ngân
hàng đặc biệt là khách hàng và đối thủ cạnh tranh cũng cần đ ợc chú trọng, giải
quyết chu đáo, phối hợp nhịp nhàng với mối quan hệ bên trong doanh nghiệp, tạo
nên văn hoá doanh nghiệp và thành công kinh doanh của doanh nghiệp.
3. Nội dung của hoạt động kinh doanh th ơng mại
Do doanh nghiệp thơng mại có những chức năng khác biệt so với các doanh
nghiệp khác trong nền kinh tế quốc dân mà hoạt động kinh doanh trong doanh
nghiệp thơng mại cũng có những đặc trng riêng. Để kinh doanh có hiệu quả và để
thực đợc mục đích của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh thì bản thân
doanh nghiệp phải thực hiện một hệ thống phức tạp các hoạt động kinh doanh,
những hoạt động kinh doanh chủ đạo là những hoạt động phục vụ cho mục đích
mua để bán của doanh nghiệp thơng mại, sau đây là nội dung của các hoạt động
cơ bản đó:
a) Nghiên cứu thị trờng và nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ lựa chọn
kinh doanh.
5
Chỉ kinh doanh cái mà thị trờng cần là định hớng chung của cơ chế thị tr-
ờng đối với các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp thơng mại nói riêng. Nh-
ng vấn đề là làm sao biết đợc thị trờng đang cần cái gì, đang thiếu cái gì, đang
thừa cái gì hoặc sẽ thừa, sẽ thiếu cái gì.
Nh vậy, trớc hết, doanh nghiệp thơng mại cần tiến hành nghiên cứu thị trờng,
xác định nhu cầu thị trờng về loại hàng hoá mà doanh nghiệp lựa chọn kinh doanh.
Mỗi hàng hoá cụ thể có đặc tính cơ, lý, hoá học và trạng thái khác nhau, có nhu
cầu tiêu dùng cho các loại đối tợng khác nhau: cho sản xuất hoặc cho tiêu dùng.
Doanh nghiệp thơng mại phải tiếp cận với thị trờng, nghiên cứu xác định đợc nhu
cầu của khách hàng và sự đáp ứng nhu cầu đó hiện nay. Không chỉ vậy doanh
nghiệp phải dự báo xu hớng phát triển của nhu cầu, nắm bắt thông tin trên thị tr-
vậy, phải xác định lợng dự trữ là rất quan trọng đối với doanh nghiệp thơng mại.
Nếu dự trữ thừa thì có nghĩa là doanh nghiệp bị treo quá nhiều vốn vào hàng dữ
trữ trong khi vốn có thể đầu t vào những mục tiêu sinh lợi hơn nhiều, hoặc chí ít
vẫn còn có tiền dự phòng. Nghiêm trọng hơn là những khoản dự trữ thừa này có
thể dẫn đến những tổn thất tai hại khi nó không có hy vọng bán hết. Nhng nếu
doanh nghiệp dự trữ thiếu thì không có đủ hàng cần thiết, sẵn sàng phục vụ khách
hàng ở thời điểm họ cần, nh vậy sẽ mất một cuộc kinh doanh. Tựu chung, dữ trữ
hàng hoá trong doanh nghiệp thơng mại là một hoạt động nghiệp vụ hết sức quan
trọng và khó khăn, phải luôn đảm bảo cân đối giữa nhu cầu thị trờng, giữa dự kiến
cho tơng lai và khả năng tài chính của doanh nghiệp.
Xét đến dự trữ hàng hoá chúng ta cần tìm hiểu công tác kho tàng vì nó là hoạt
động để thực hiện quá trình dự trữ hàng hoá trong doanh nghiệp thơng mại.
Kho hàng hoá là một công trình dùng để dự trữ, bảo quản hàng hoá phục vụ
cho lu thông hàng hoá đợc bình thờng.
Hoạt động của kho tàng bao gồm:
+ Tổ chức thực hiện việc dự trữ, bảo quản và bảo vệ tốt hàng hoá dự trữ.
+ Giao nhận hàng hoá chính xác, kịp thời. Nắm vững lợng hàng hoá dự trữ
trong kho.
+ Thực hiện quá trình sản xuất trong lu thông nhằm phát triển các hoạt động
dịch vụ văn minh phục vụ khách hàng giữ gìn nguyên vẹn giá trị sử dụng của
hàng hoá và làm tăng giá trị hàng hoá.
+ Tiết kiệm chi phí kho, góp phần hạ chi phí lu thông và chi phí kinh doanh
của doanh nghiệp thơng mại.
7
Doanh nghiệp thơng mại mua hàng ở nơi này bán hàng ở nơi khác, mua hàng
thời gian này bán hàng thời gian khác và mua của đối tợng này bán hàng cho các
đối tợng khác vì vậy mà luôn phải có mạng lới kho cho mình, thực hiện tốt nhiệm
vụ thu mua, tiếp nhận, trung chuyển, dự trữ và bán hàng đợc nhanh chóng, thuận
tiện và đạt hiệu quả kinh doanh cao.
e) Tổ chức phân phối và bán hàng
quảng cáo, chào hàng về loại hàng hoá và các dịch vụ kèm theo; các dịch vụ về
chuẩn bị hàng hoá, đóng gói sẵn theo yêu cầu của khách hàng
+ Dịch vụ trong khi bán hàng, đó là: Các dịch vụ giao tiếp giữa khách hàng và
doanh nghiệp, dịch vụ giới thiệu hàng hoá, hớng dẫn lựa chọn hàng hoá, dịch vụ
về ký kết hợp đồng, thanh toán tiền hàng, bốc xếp hàng hoá
+ Dịch vụ sau khi bán hàng: Dịch vụ này nhằm tăng thêm hay tạo điều kiện
thuận lợi trong việc sử dụng sản phẩm của khách hàng sau khi mua hàng, gồm:
giới thiệu thêm các sản phẩm hỗ trợ cho sản phẩm chính, giao hàng và lắp đặt sản
phẩm, bảo hành, sửa chữa, hớng dẫn cách sử dụng, sự thăm hỏi khách hàng
Dịch vụ của doanh nghiệp thơng mại nhằm đáp ứng văn minh, kịp thời mọi
nhu cầu của khách hàng, gây đợc tín nhiệm và thiện cảm với khách hàng, có tác
dụng giữ khách hàng. Từ đó, tăng doanh thu của doanh nghiệp, tạo ra mối quan hệ
rộng rãi, thanh toán tin cậy và có tác dụng lớn trong củng cố thế lực của doanh
nghiệp. Nó còn giúp quá trình lu chuyển hàng hoá nhanh, bán đợc hàng hoá, nâng
cao vòng quay vốn. Tóm lại, dịch vụ khác hàng có vị trí quan trọng đối với hoạt
động kinh doanh và có mối quan hệ chặt chẽ với quá trình lu thông hàng hoá.
g) Phân tích hoạt động kinh doanh
Muốn biết đợc các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thơng mại có hiệu
quả và có thực hiện đợc mục tiêu của doanh nghiệp hay không thì phải tiến hành
phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thơng mại đều có tác động liên
hoàn với nhau, chỉ có phát triển hoạt động kinh doanh mới đánh giá đợc sâu sắc và
đầy đủ những hoạt động này trong trạng thái thực của nó. Từ đó, nêu lên một cách
tổng hợp về trình độ hoàn thành các mục tiêu, biểu hiện bằng hệ thống các chỉ tiêu
kinh tế kỹ thuật tài chính của doanh nghiệp.
Phát triển hoạt động kinh doanh cũng cho phép đánh giá mặt mạnh, mặt yếu
trong công tác quản lý của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tìm ra biện pháp
9
nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, hoàn thiện công tác quản lý doanh
nghiệp, huy động khả năng tiềm tàng về vốn, lao động và đất đai của doanh
những nguyên nhân tạo nên xu quốc tế hoá nền kinh tế.
Khi khoa học công nghệ trở thành lực lợng sản xuất thì hội nhập kinh tế
quốc tế là nhu cầu cần thiết thoả mãn sự phát triển vợt bậc của lực lợng sản xuất.
Lực lợng sản xuất phát triển làm cho thị trờng nội địa trở nên nhỏ hẹp, buộc các
quốc gia ngồi lại với nhau để tìm cách khơi dòng chảy của hàng hoá, dịch vụ,
đồng vốn và sức lao động. Nó đã mở ra thị trờng thế giới, làm cho sản xuất và tiêu
thụ của tất cả các nớc đều mang tính thế giới, tình trạng tự cung tự cấp, bế quan
toả cảng của các địa phơng, các dân tộc trớc đây đã bị thay thế bởi trao đổi và hợp
tác, liên kết giữa các dân tộc.
Quốc tế hoá kinh tế cũng là quá trình phát triển mới của phân công lao động
và hợp tác sản xuất vợt ra khỏi biên giới quốc gia vơn tới quy mô toàn thế giới, đạt
trình độ và chất lợng mới. Thực tế đã chứng minh không một nớc nào, dù lớn và
giàu có đến đâu, cũng không thể tự mình sản xuất đợc tất cả những sản phẩm đạt
tiêu chuẩn quốc tế đáp ứng nhu cầu của mình. Quốc tế hoá kinh tế, đến nay mặc
dù còn tồn tại những quan điểm trái ngợc nhau, những rõ ràng đây là một xu thế
phát triển của thời đại không thể khác đợc.
Quá trình quốc tế hoá nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển mạnh cả về
chiều rộng và chiều sâu trên 2 cấp độ toàn cầu hoá và khu vực hoá, đặc trng nổi
bật của toàn cầu hoá và khu vực hoá kinh tế là nền kinh tế thế giới tồn tại và phát
triển nh một chỉnh thể, trong đó mỗi quốc gia là một bộ phận, có quan hệ tơng tác
lẫn nhau, phát triển với nhiều hình thức phong phú. Tham gia quốc tế hoá kinh tế,
các quốc gia vẫn hoàn toàn độc lập về chính trị, xã hội, vẫn là các chủ thể tự quyết
11
định ý thức hệ, vận mệnh và con đờng phát triển của mình. Nó đem đến sự chuyển
biến nhanh chóng của thể chế kinh tế thế giới, đa nền kinh tế thế giới bớc vào cạnh
tranh toàn cầu bên cạnh việc đẩy mạnh tìm kiếm sự hợp tác trong cạnh tranh.
Toàn cầu hoá kinh tế, một mặt tạo ra những cơ hội phát triển kinh tế cho từng
quốc gia cũng nh cho toàn thế giới nhng nó cũng đa đến những thách thức lớn ở
nhiều góc độ khác nhau nh: Sự gia tăng của các rủi ro kinh tế (khủng hoảng tài
chính tiền tệ khu vực, sự sụt giảm của thơng mại toàn cầu, việc hình thành các