Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Pdf 44

Bảng chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt
Chủ nghĩa xã hội CNXH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH,HĐH
Quốc phòng - an ninh QP-AN
Cơ cấu kinh tế CCKT
Khu vực phòng thủ KVPT
Lực lợng vũ trang LLVT
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay đất nớc ta nói chung, tỉnh Hải Dơng nói riêng đang bớc vào thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Một trong những nội dung cơ bản của quá trình đó
là, chuyển dịch CCKT, Từ một CCKT kém hiệu quả, cha năng động sang một
CCKT năng động và hiệu quả hơn, nhằm khai thác tối đa mọi tiền năng của các
vùng, miền cho phát triển kinh tế vì mục tiêu: "dân giàu, nớc manh, xã hội công
bằng, dân chủ văn minh".
Để xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội vững mạnh đòi hỏi phải kết hợp chặt
chẽ giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng là chiến lợc
của cách mạng Việt Nam nói chung và Hải phòng nói riêng. Chúng luôn luôn có
quan hệ chặt chẽ với nhau, làm điều kiện và tiền đề cho nhau phát triển và là quy
luật đợc nớc đi đôi với giữ nớc của dân tộc ta. Quá trình chuyển dịch CCKT trên địa
bàn tỉnh Hải Dơng theo hớng CNH, HĐH cũng không nắm ngoài quy luật đó. Việc
chuyển dịch CCKT ngành, tất yếu phải đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với
quá trình xây dựng KVPT trong giai đoạn hiện nay.
Hải Dơng là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ, nằm giữa vùng kinh tế
trọng điểm phía Bắc (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh), có nhiều điều kiện
tham gia vào phân công lao động trên phạm vi toàn vùng Bắc bộ. Trên địa bàn
tỉnh, nhiều trục giao thông Quốc gia quan trọng chạy qua nh: Đờng quốc lộ 5A,
đờng 18, đờng 183 đờng sắt Hà Nội - Hải Phòng.... là cửa ngõ thông ra Đông
Bắc, là bản lề của tam giác trọng điểm kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng
Ninh. Do đó Hải Phòng có vị đặc biệt quan trọng trong xây dựng, phát triển

ngành ở Hải Dơng theo hớng CNH, HĐH và tác động của nó đến xây dựng
KVPT trên địa bàn tỉnh, trên cơ sở đó chỉ rõ những giải pháp cơ bản nhằm gắn
kết 2 quá trình này một cách có hiệu quả.
* Nhiệm vụ:
3
- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình chuyển dịch CCKT
ngành theo hớng CNH, HĐH ở tỉnh Hải Dơng hiện nay.
- Phân tích những yêu cầu của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo
hớng CNH,HĐH cùng với những phơng hớng cơ bản của quá trình đó trong giai
đoạn hiện nay.
- Phân tích những tác động trực tiếp và gián tiếp của quá trình chuyển
dịch CCKT ngành xây dựng KVPT tỉnh Hải Dơng.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm kết hợp hai quá trình đó một
cách có hiệu quả.
4. Giới hạn của đề tài
Vấn đề chuyển dịch CCKT bao hàm nội dung rộng lớn gồm cả sự chuyển dịch
CCKT ngành, vùng lãnh thổ, các thành phần kinh tế, cơ cấu kỹ thuật lao động...
Luận văn chỉ tập trung bàn về chuyển dịch CCKT ngành trong mối quan
hệ với xây dựng KVPT trên địa bàn tỉnh Hải Dơng.
Thời gian khảo sát chuyển dịch CCKT ngành ở tỉnh Hải Dơng từ năm
2000 đến 2005.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp luận nghiên cứu
Luận văn dựa trên quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy
vật lịch sử, học thuyết bảo vệ Tổ quốc của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí
Minh, quan điểm đờng lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam, nghị quyết và văn
kiện, chỉ thị của Đảng ủy, ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dơng.
6. ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả đạt đợc của luận văn góp phần cơ sở khoa học vào việc kết hợp
giữa chuyển dịch CCKT ngành với xây dựng KVPT trong phạm vi tỉnh Hải D-
ơng.

giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế trong một thời gian và trong những
điều kiện kinh tế - xã hội nhất định.
5
Nói đến CCKT là nói đến quan hệ gắn bó của các yếu tố kinh tế khác
nhau thành một thể thống nhất, trong đó mỗi yếu tốt cấu thành làm điều kiện
cho nhau, tác động và thúc đẩy nhau bảo đảm cho CCKT vận động, phát triển
cân đối, nhịp nhàng và tạo ra hiệu quả kinh tế xã hội. Rõ ràng sẽ là không đúng
nếu chung ta quan niệm CCKT nh những quan hệ thuần túy định tính, hoặc nh
những tỷ lệ: Giữa một ngành này với ngành khác (dù là những ngành chủ yếu)
hay giữa yếu tố vật chất này với yếu tố vật chất khác của quá trình tái sản xuất.
Bởi lẽ, CCKT phản ánh tính toàn vẹn, đồng bộ của hệ thống qua cấu trúc và hệ
thống đó. Cho nên chỉ xem xét một vài quan hệ quan trọng giữa một số loại yếu
tố cấu thành của nền kinh tế, thì CCKT sẽ mang tính chất bộ phận, chỉ phản ánh
một khoa học hiện trạng nền kinh tế.
Giữa những bộ phận hợp thành CCKT có những quan hệ phù hợp về số l-
ợng. Sự quy định về lợng của mỗi bộ phận đó là do tất yếu kinh tế - kỹ thuật
quyết định. Một mặt, phải xuất phát từ yêu cầu thỏa mãn các nhu cầu kinh tế về
sản xuất và đới sống, mặt khác phải xuất phát từ sự cân đối về mặt kỹ thuật các
yếu tố của sản xuất. Không có sự cân đối đó thì sản xuất không thể tiến hành
bình thờng. Đồng thời giữa các bộ phận hợp thành cơ cấu có mối quan hệ phù
hợp về chất lợng, chẳng hạn tơng ứng với từng phân ngành trong sản xuất nông
nghiệp có những yêu cầu riêng về từng loại công cụ sản xuất nhất định với kích
thớc, kiểu cách, độ bền, cấu tạo bên trong, chủng loại... Đối với nguyên vật liệu
cũng thế.
Để nền kinh tế đất nớc nói chung và tỉnh Hải Dơng nói riêng phát triển,
phải có CCKT hợp lý, sự hình thành CCKT đó phải phản ánh yêu cần của quy
luật khách quan. Mặt khác vai trò của yếu tố chủ quan trong việc hình thành
CCKT cũng rất quan trọng: Thông qua nhận thức ngày càng sâu sắc những quy
luật đó mà ngời ta có thể phân tích, đánh giá những xu thế phát triển khác nhau
để tìm ra những phơng án cụ thể thay đổi cơ cấu có hiệu quả cao nhất trong

7
các ngành lớn của nền sản xuất nh: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ... sự hình
thành, phát triển cơ cấu ngành kinh tế là kết quả quá trình phát triển của lực l-
ợng sản xuất và phân công lao động xã hội. Ngày nay khi nhân loại đang phát
triển nền kinh tế hàng hóa thị trờng thì xu hớng xây dựng một nền kinh tế với
cơ cấu công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hiện đại đang trở thành tất yếu với
các quốc gia. Song cơ cấu cụ thể mối quan hệ, mỗi tỉnh và quá trình hình thành
nó phụ thuộc vào đặc điểm của từng nớc, từng tỉnh.
Trong phạm vi đề tài này, đối tợng chính là nghiên cứu cơ cấu ngành
kinh tế. Tuy nhiên, sự phân tích không loại trừ việc ít, nhiều đề cập đến các vấn
đề của các loại cơ cấu khác khi chúng liên quan trực tiếp đến các vấn đề của cơ
cấu ngành.
+ Chuyển dịch CCKT: là quá trình làm thay đổi cấu trúc và các mối quan
hệ của nền kinh tế theo một chủ đích và một phơng hớng nhất định.
Xu hớng có tính quy luật chung của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là tăng
tỷ trọng và vai trò của ngành công nghiệp, dịch vụ, giản tỷ trọng của ngành
nông nghiệp. Đối với nớc ta nói chung và Hải Dơng nói riêng, quá trình chuyển
dịch CCKT nông nghiệp lạc hậu, kém hiệu quả song cơ cấu công nghiệp, dịch
vụ gắn với phân công lao động và hợp tác quốc tế.
Trong những năm trớc mắt, chúng ta cần phát triển mạnh công nghiệp
chế biến và kết cấu hạ tầng, thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, kém
hiệu quả chuẩn bị các điều kiện để phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn có lợi
thế so sánh cao.
Chuyển dịch CCKT ngành ở Hải Dơng hiện nay là: Dịch chuyển CCKT
ngành theo hớng giảm mạnh tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành
công nghiệp và dịch vụ. Phấn đấu đến năm 2010 Đại hội Đảng bộ tỉnh Hải D-
ơng lần thứ XIV đã xác định: Nông, lâm, ng nghiệp chiếm tỷ trọng 21%; công
nghiệp xây dựng 46%; dịch vụ 33% trong GDP của tỉnh. Chuyển đổi mạnh mẽ
cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn, đa một phần lao động trong nông
8

lao động nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch
vụ.
Đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến ng, tập huấn, kỹ thuật, ứng
dụng những thành tựu khoa học - công nghệ, đa giống mới có chất lợng cao vào
sản xuất, nâng cao năng lực bảo quản chế biến, nhằm tăng năng suất, nâng cao
chất lợng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trờng, đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh cũng nh nhu cầu xuất khẩu, từng bớc xây dựng
tỉnh giàu đẹp, công bằng, dân chủ, văn minh.
Để xây dựng Hải Dơng với mục tiêu nh trên thì việc chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế của tỉnh theo hớng CNH, HĐH trở thành nhiệm vụ vừa cấp bách,
vừa mang tính chiến lợc lâu dài nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao đới
sống nhân dân, củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân trên địa bàn tỉnh.
1.1.2. Chuyển dịch CCKT ngành trên địa bàn tỉnh Hải Dơng là tất yếu
khách quan
Hải Dơng là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, có diện tích tự nhiên
1.662km
2
, dân số 1,7 triệu ngời. Những năm qua, nhờ biết phát huy cao độ
những tiềm năng, huy động triệt để, các nguồn lực do đầu t phát triển. Hải Dơng
đã và đang có bớc tiến hành, vững chắc, trở thành một trong những địa phơng
có quy mô sản xuất công nghiệp lớn nhất của vùng nói riêng và cả nớc nói
chung. Trong công cuộc đổi mới mới của Đảng, cùng với quá trình chuyển dịch
CCKT theo hớng CNH, HĐH của cả nớc, những năm qua. Hải Dơng đã có bớc
chuyển mình căn bản. Sự chuyển biến đó là một tất yếu bắt nguồn từ những lý
do sau:
Một là: Do yêu cầu của quá trình CNH, HĐH mà trớc hết là CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn của Hải Dơng.
Trớc đây, Hải Dơng là một tỉnh thuần nông, sản xuất còn mang tính tự
cấp, tự túc. Do vậy để phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đới sống vật chất, tinh
10

sản xuất kinh doanh của mọi thành phần kinh tế, của các cấp, ngành trên địa
bàn tỉnh để thúc đẩy sản xuất phát triển mạnh mẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao
đáp ứng với thị trờng trong tỉnh cũng nh trong và ngoài nớc. Nh vậy, chuyển
dịch CCKT theo hớng CNH, HĐH ở Hải Dơng chính là nhằm đáp ứng yêu cầu
phát triển của nền kinh tế hàng hóa, nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trờng định hớng XHCN, mở rộng thị trờng, giảm sự chênh lệch giữa thành thị
với nông thôn là vấn đề cấp bách đặt ra đối với quá trình phát triển kinh tế - xã
hội của Hải Dơng.
Hai là: Xuất phát từ lợi thế và tác động của các nguồn lực đối với sự
chuyển dịch CCKT ngành trong quá trình CNH, HĐH ở Hải Dơng.
Hải Dơng có diện tích tự nhiên 1.662km
2
, dân số 1,7 triệu ngời. Là tỉnh
có tiềm năng to lớn để phát triển nông nghiệp với vùng đồng bằng chiếm 89%
đất tự nhiên, đất đai màu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng,. Sản xuất đợc
nhiệm vụ trong năm. Vùng đồi núi của Hải Dơng chiếm 11% diện tích tự nhiên,
có nhiều loại khoáng sản nh đá vôi, đất cao lanh với trữ lợng lớn có thể phát
triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng.
Là một tỉnh có truyền thống văn hoá lâu đời, mảnh đất "địa linh nhân
kiệt" có nhiều nhân tài làm sáng danh non sông đất nớc trên các lĩnh vực; là nơi
có nhiều làng nghề truyền thống tạo ra các sản phẩm có giá trị cao nh: vàng bạc
Châu Khê, Sứ Cậy, Bình Giang, điêu khắc gỗ Lơng Điền - Cẩm Giang, gốm
Chu Điệu, Nam Sách, trên tứ kỳ... vùng đất Hải Dơng ẩn chứa tiềm năng to lớn
để phát triển du lịch với nhiều danh lam, thắng cảnh nổi tiếng nh chùa Côn Sơn,
đền Kiếp Bạc, đền thờ Trần Liễu, tợng đài Trần Hng Đạo, chùa An Phụ, Đông
Knh Chủ...
Về hiện tại cũng nh tơng lai Hải Dơng sẽ làm thị trờng lớn, là trung tâm
tiếp nhận, chuyển giao khoa học công nghệ, thông tin trong vùng duyên hải Bắc
nói riêng và cả nớc nói chung. Với vị trí thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho Hải D-
12

t vấn, ngân hàng tài chính, bu chính viễn thông, dịch vụ xuất nhập khẩu, dịch vụ
và du lịch...
Các thế mạnh của tỉnh là những điều kiện thuận lợi để chuyển dịch
CCKT ngành theo hớng CNH, HĐH góp phần tích cực vào giải quyết việc lầm
cho ngời lao động của tỉnh.
Về tài nguyên nhân văn: Những năm qua, các cấp uỷ, chính quyền quan
tâm chăm lo phát triển đồng bộ kinh tế- xã hội ở các thành thị và nông thôn.
Một trong những thành tựu quan trọng của tỉnh trong những năm qua là chất l-
ợng của hệ thống giáo dục và đào tạo không ngừng nâng cao, đã tạo ra một bớc
đột phá quan tọng, trực tiếp nâng cao chất lợng nguồn nhân lực. Trên cơ sở phát
huy có hiệu quả các thế mạnh, tiềm năng vốn có. Tỉnh đã tích cực, năng động
đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu, đào tạo, phát triển nâng cao dân trí, phát triển
nguồn nhân lực ứng dụng khoa học kỹ thuật - công nghệ vào sản xuất. Cùng đó
là chủ trơng và thực hiện có hiệu quả cuộc vận động xã hội hoá giáo dục cả về
bề rộng và chiều sâu, cả hình thức và quy mô, cấp học... Không ngừng đầu t
kinh phí đổi mới nội dung, chơng trình giáo dục, nâng cao trình độ dân trí đáp
ứng đỏi hỏi thự tiễn của quá trình chuyển dịch CCKT ngành theo hớng hiện đại
đang đặt ra.
Hệ thống các trờng đợc quan tâm đầu t cả về đội ngũ giáo viên và cơ sở
vật chất. Đảm bảo đủ giáo viên ở các cấp học; 100% giáo viên trực tiếp giảng
dạy tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung tâm giáo dục thờng
xuyên đạt chuẩn, trên chuẩn, 91% số phòng học phổ thông, 41% số phòng học
mầm non đợc xây dựng kiên cố. Phong trào khuyến học, khuyến tài đợc xã hội,
gia đình tham gia hởng ứng, Chất lợng giáo dục đại trà, giáo dục mũi nhọn đợc
giữ vững, tỷ lệ tốt nghiệp ở các cấp học đều đạt trên 95%. Số học sinh vào đại
học, cao đẳng trong 5 năm (2000- 5005) trên 25.000 em. Số học sinh đạt giải
ngày một tăng 298 lợt học sinh đạt giải quốc gia, 5 em đạt giải cấp quốc tế và
14
khu vực.Có 13 trờng đạt chuẩn quốc gia. Hệ thống đào tạo nghề toàn tỉnh có 28
cơ sở. Đào tạo đã gắn kết với giải quyết việc làm. Bình quân mỗi nâng đào tạo

triển công nghiệp và dịch vụ.
Kết quả chuyển dịch CCKT ngành những năm vừa qua (2001 - 2005) đã
phát triển theo hớng tích cực. Tỷ trọng nông nghiệp từng bớc giảm, tỷ trọng
công nghiệp và dịch vụ có hớng tăng lên cụ thể:
Tỷ trọng ngành công nghiệp trong GDP của tỉnh năm 2000 đạt 34,8%
đến năm 37,2% đến năm 2005 tăng lên 43%.
Tỷ trọng ngành dịch vụ trong tổng GDP của tỉnh năm 2000 đạt 28% đến
năm 2005 tăng lên 29,5%.
Lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển biến tích
cực; giai đoạn 2001 - 2005 giá trị sản xuất nông lâm, thuỷ sản tăng bình quân,
5,3%/ năm; tỷ trọng giá trị sản xuất trồng trọ, chăn nuôi, dịch vụ đạt 67 % -
29%- 4%. Tỉnh đã chỉ đạo chuyển đổi gần 9.000 ha cây lúa hiệu quả thấp song
trồng cây ăn quả, trồng cây rao màu, nuôi trồng thủy sản, sản xuất nông nghiệp
đã phát triển khá vững chắc, với cơ cấu đa dạng và hiệu quả. Giá trị sản xuất
trên một ha đất nông nghiệp đạt 37 triệu đồng, gần 20% diện tích đất nông
nghiệp đạt giá trị sản xuất 50 triệu đồng/ ha. Một số mô hình sản xuất trang trại,
vùng sản xuất nông sản tập trung trồng cây ăn quả, trồng cây rau, màu, có giá
trị kinh tế, nuôi trồng thuỷ sản... Đến năm 2005 đã đạt tỷ trọng trồng trọt
65,8%, chăn nuôi 18,4% dịch vụ 15,8%.
Với những số liệu trên cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu các ngành trong
nông nghiệp có chiều hớng tích cực, nhng còn chậm, việc khai thác tiềm năng
thế mạnh của các vùng ngành nghề truyền thống cha đúng mức.
Về công nghiệp của tỉnh đã và đang phát triển với tốc độ cao, góp phần
tạo diện mạo mới trong công nghiệp cũng nh CCKT của tỉnh. Giá trị sản xuất
công nghiệp tăng bình quân 21% năm 2005/năm, vợt mục tiêu nghị quyết đại
16
hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đề ra là 13 - 14%/ năm, cao hơn 5 năm trớc
(15,3%/năm) và bình quân chung của cả nớc. Công nghiệp ngoài nhà nớc phát
triển nhanh, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong sản xuất công nghiệp có lợi thế
đàng ngày càng chiếm u thế, hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực nh: sản

vậy các tiềm năng, thế mạnh về đất đai, vị trí địa lý, lao động. Đặc biệt là địa
thế của tỉnh: hình thành kho trung chuyển hàng hoá vùng kinh tế trọng điểm
Bắc bộ cùng với kho thông quan đặt tại thành phố Hải Dơng, xây dựng chợ đầu
mối cầp vùng. Do đó, việc tiếp tục đẩy mạnh sự chuyển dịch CCKT ngành ở
Hải Dơng theo hớng CNH, HĐH hiện nay là yêu cầu cấp bách nhằm khai thác
tốt hơn các thế mạnh, tiềm năng sẵn có để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống
vật chất, tinh thần của nhân dân, tạo điều kiện để xây dựng KVPT của tỉnh vững
chắc.
Bốn là: Do yêu cầu của việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của
nhân dân, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo.
Sản xuất của cải vật chất là điều kiện quyết định việc đáp ứng nhu cầu về
vật chất, tinh thần cho con ngời nh ăn, măc, ở, đi lại, sinh hoạt, học hành vui
chơi giải trí... Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân, nhằm thực hiện
mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công băng, dân chủ, văn minh thì tất yếu
phải xây dựng và phát triển kinh tế. Song chúng ta cần nhận thấy rằng nền kinh
tế chỉ có thể tăng trởng và phát triển ki có một CCKT tiến bộ, hợp lý. Cho phép
khai thác có hiệu quả mọi tiền năng của xã hội. Sự phát triển kinh tế phải gắn
liền với giải quyết vấn đề công bằng xã hội, phát triển dân chủ trong mọi tầng
lớp nhân dân.
Thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng, trong những năm qua, Đảng bộ và
nhân dân Hải Dơng đã từng bớc tổ chức và thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội. Tuy nhiên do CCKT của tỉnh còn có những bất cập, nên đời
sống nhân dân trên địa bàn còn thấp. Nhiều nhu cầu của nhân dân cha dợc đáp
18
ứng, mức độ hởng thụ của các dịch vụ y tế, giáo dục của dân c còn ở mức độ.
Với trên 80% dân số sống ở nông thôn, riêng lao động nông nghiệp chiếm 52%.
Thu nhập bình quân đầu ngời của lao động nông nghiệp hàng tháng đạt 159
ngàn đồng, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 4,2% theo chuẩn hiện nay, tơng ứng
với chuẩn mới 21,5% thấp hơn tỷ lệ của cả nớc (chuẩn hiện nay 6,5 - 7%; chuẩn
mới là 26%).Cơ bản đã xóa xong hộ nghèo diện chính sách. Tỷ lệ lao động

Trên địa bàn tỉnh có nhiều trục giao thông quan trọng củaQquốc gia chạy qua...
quốc lộ 5A, đờng 18, đừng 183, đờng sắt Hà Nội - Hải Phòng... Hệ thống đờng
bộ cấp quốc gia, tỉnh và liên huyện đã đợc nâng cấp sửa chữa tạo thuận lợi cho
việc đi lại, vận chuyển hàng hoá và hoạt động quân sự. Hệ thống giao thông đ-
ờng thuỷ có sông Thái Bình, sông Kinh Thày.. và hệ thống kênh mơng nội
đồng. Diện tích đất đồng bằng chiếm 89%, đồi núi 11% diện tích tự nhiên. Từ
vị trí địa lý cho thấy Hải Dơng có vị trí chiến lợc quân sự rất quan trọng trong
công cuộc bảo vệ Tổ quốc. Là cửa ngõ phía Đông và Đông Bắc của thủ đô Hà
Nội. Từ phía biển Hải Phòng, Quảng Ninh kẻ thủ có thể lấy Hải Dơng làm trạm
chung chuyển, làm bàn đạp đánh thẳng vào thủ đô Hà Nội. Chiếm các tỉnh đồng
bằng Bắc bộ, từ đây có thể phát triển đánh chiếm cả tỉnh phía Bắc và trung bộ.
Vì vậy, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XNCN đặt ra cho Hải D-
ơng yêu cầu, nhiệm vụ to lớn là cùng với phát triển kinh tế, xã hội phải không
ngừng củng cố quốc phòng toàn dân trên địa bàn tỉnh vững mạnh cả về tiềm lực
và thế trận. Kinh tế của tỉnh có phát triển bền vững thì mới tạo đợc cơ sở nền
tảng vững chắc cho sự nghiệp củng cố quốc phòng, đợc củng cố vững chắc,
chính trị xã hội trên địa bàn tỉnh ổn định mới tạo đợc môi trờng. điều kiện tốt để
phát triển kinh tế, xã hội.
Tiềm lực quốc phòng toàn dân của tỉnh phải đợc xây dựng một cách toàn
diện cả tiềm lực kinh tế, tiềm lực khoa học kỹ thuật, tiềm lực quân sự và tiềm
lực chính trị tinh thần, các tiềm lực trên có mối quan hệ biện chứng, tác động
20
với nhau tao nên sức mạnh tổng hợp cho nền quốc phòng toàn dân trên địa bàn
tỉnh. Trong các tiềm lực đó, tiềm lực kinh tế giữ vai trò quyết định nhất, Vì vậy
muốn tăng cờng, củng cố tiềm lực kinh tế, tiềm lực kỹ thuật quân sự, không có
con đờng nào khác là Hải Dơng phải phát triển kinh tế, trong đó việc chuyển
dịch CCKT ngành giữ vai trò có ý nghĩa quyết định nhất.
Thực trạng yếu kém, phát triển kinh tế ngành, nghề của Hải Dơng những
năm qua là nguyên nhân cơ bản cản trở sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh. Nó
cha thực sự đáp ứng đợc yêu cầu xây dựng tiềm lực quốc phòng của tỉnh với thế

1.2.1. Nững yêu cầu của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Hải D-
ơng
Trong những năm tới (2006 - 2010) Hải Dơng đứng trớc xu thế hội nhập
kinh tế vừa tạo ra cơ hội để mở rộng thị trờng xuất nhập khẩu hàng hoá thu hút
đầu t, đổi mới công nghệ, mặt khác cũng gặp những khó khăn thách thức to lớn;
sức ép cạnh tranh gay gắt. Trong những năm qua, những thành tựu phát triển
kinh tế, xã hội to lớn cùng cơ sở hạ tầng, năng lực sản xuất, trình độ và kinh
nghiệm quản lý trên các lĩnh vực đợc tính luỹ là những tiền đề quan trọng để
Hải Dơng phát triển, tiến nhanh trên con đờng CNH, HĐH.
Phơng hớng chuyển dịch CCKT là: phát huy khai thác có hiệu quả các
nguồn lực cho phát triển, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các
ngành dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh. Tranh thủ mọi nguồn lực, nguồn
vốn đầu t phát triển tập trung cho các ngành, lĩnh vực trọng điểm, phấn đấu tăng
nhịp độ phát triển kinh tế cao hơn bình quân 5 năm trớc (2001 - 2005). Đến
năm 2010 đạt tỷ trọng: Nông, lâm, ng nghiệp 22%; công nghiệp, xây dựng 60%
công nghiệp 25% và dịch vụ 15%. Nâng cao sức cạnh tranh cho sản xuất chăm
lo giải quyết những vấn đề xã hội, xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật
chất tinh thần cho nhân dân; kết hợp kinh tế với QP-AN. Giữ vững an ninh nông
thôn, trật tự an toàn xã hội. Để đạt đợc những mục đích ở trên sự chuyển dịch
22
CCKT ngành ở Hải Dơng cần thực hiện tốt những yêu cầu sau:
Một là: Chuyển dịch CCKT phải bảo đảm từng bớc hình thành CCKT:
công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ.
Chuyển dịch CCKT theo hớng nông dân tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ,
giảm tỷ trọng nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân là xu hớng phát triển
chung của thế giới. Đối với Việt Nam. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã
khẳng định: xây dựng nớc ta thành một nớc công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ
thuật hiện đại, CCKT hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát
triển của lực lợng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an
ninh vững chắc. Dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Từ

hợp với mô hình kinh tế này. Cùng với cả nớc, Hải Dơng thực hiện việc chuyển
dịch CCKT trớc hết phải khắc phụ cho đợc nền kinh tế tự cấp, tự túc, khép kín,
chuyển sang nền kinh tế hàng hoá, gắn sản xuất với thị trờng trong và ngoài n-
ớc; đẩy mạnh các hoạt động thơng mại, tăng nhanh tỷ suất hàng hoá trong các
ngành kinh tế, trớc hết là trong nông nghiệp làm cho kinh tế của tỉnh phát triển.
Muốn vậy, sự chuyển dịch CCKT ngành của Hải Dơng phải tính đến
thông tin của thị trờng và giải đáp cho đợc: Sản xuất cái gì? Sản xuất nh thế
nào? Sản xuất cho ai? Chuyển CCKT phải trên cơ sở phát huy khả năng tiền
tàng của tỉnh về lao động, tài nguyên thiên nhiên, vốn và công nghệ. Quá trình
đó cần có sự quản lý chặt chẽ của bộ máy chính quyền địa phơng (tỉnh, huyện)
nhằm khắc phục những mặt trái của cơ chế thị trờng. phát triển kinh tế phải đi
đôi với vấn đề xã hội nảy sinh từ quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Ba là: Quá trình chuyển dịch CCKT phải bảo đảm phù hợp với mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội; QP - AN đồng thời phải bảo đảm đợc môi trờng sinh
thái.
Chuyển dịch CCKT ở Hải Dơng không chỉ nhằm ổn định và phát triển
kinh tế bền vững mà còn gắn liền với giữ vững ổn định chính trị xã hội, củng cố,
24
tăng cờng QP -AN đồng thời bảo vệ đợc môi trờng sinh thái của tỉnh. Điều đó
đợc quy định bởi mối quan hệ chặt chẽ giữa các nghiên cứu phát triển kinh tế -
xã hội, củng cố QP - AN và giữ gìn môi trờng sinh thái. Nếu không ý thức đầy
đủ việc kết hợp kinh tế với QP - AN trong quá trình chuyển dịch CCKT ngành,
thì có thể chỉ đem lại kết quả lớn cho sự tăng trởng kinh tế mà không đem lại
hoặc ít có tác dụng tích cực cho việc tăng cờng củng cố quốc phòng, thậm chí
có thể gây trở ngạy cho các hoạt động QP - AN trên địa bàn tỉnh. Mặt khác
cùng sự khai thác các tiềm năng, tài nguyên để sản xuất với khối lợng lớn, trong
quá trình chuyển dịch CCKT ngành thì lợng chất thải từ sản xuất, trên dùng đợc
thải ra môi trờng ngày càng lớn, mà ngay cả môi trờng sinh thái cũng thay đổi,
làm cho điều kiện sống của dân c địa phơng cũng bị huỷ hoại. Thực tế, đây là
vấn đề bức xúc không chỉ ở nớc công nghiệp phát triển mà ngay cả ở địa phơng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status