CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở HẢI DƯƠNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN - Pdf 63

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA
HIỆN ĐẠI HÓA Ở HẢI DƯƠNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Hải Dương
1.1.1. Khái niệm cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Xét về mặt triết học, cơ cấu là một phạm trù phản ánh cấu trúc bên trong của
một đối tượng, là tập hợp những mối liên hệ cơ bản, tương đối ổn định giữa các
yếu tố cấu thành đối tượng đó trong một thời gian nhất định.
Cơ cấu của nền kinh tế là tổng thể những mối quan hệ giữa các bộ phận hợp
thành nền kinh tế: các lĩnh vực (sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng) các ngành
kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải...) các thành
phần kinh tế (nhà nước, tập thể, tư nhân..) các vùng kinh tế.
Khi phân tích quá trình phân công lao động nói chung, C.Mác hiểu CCKT ở
cả hai mặt chất và lượng của nó. Theo C.Mác đó là: "Sự phân chia về chất lượng và
một tỷ lệ về số lượng của những quá trình sản xuất xã hội" trong lời tựa cho cuộc
chính trị kinh tế học, C.Mác nhấn mạnh: "Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của
mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu không tùy thuộc vào ý muốn
của họ - từ những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ
phát triển nhất định của chính trị lực lượng sản xuất của họ, Toàn bộ những quan hệ
sản xuất ấy hợp thành CCKT của xã hội" Tính thống nhất giữa lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất trong khái niệm CCKT cũng được C.Mác chỉ ra một lần nữa thì
người khẳng định: "Do tổ chức quá trình lao động phát triển kỹ thuật một cách mạnh
mẽ cho nên làm đảo lộn kinh tế của xã hội". Có thể hiểu khái quát rằng: CCKT là
tổng thể những mối liên hệ về số lượng và chất lượng giữa các bộ phận cấu thành
của nền kinh tế trong một thời gian và trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất
định.
Nói đến CCKT là nói đến quan hệ gắn bó của các yếu tố kinh tế khác nhau
thành một thể thống nhất, trong đó mỗi yếu tốt cấu thành làm điều kiện cho nhau,
tác động và thúc đẩy nhau bảo đảm cho CCKT vận động, phát triển cân đối, nhịp
nhàng và tạo ra hiệu quả kinh tế xã hội. Rõ ràng sẽ là không đúng nếu chung ta

hội...
CCKT luôn vận động, biến đổi vì nó gắn liền với sự biến đổi, phát triển
không ngừng của những mối quan hệ chung. Với chức năng quản lý kinh tế của
tỉnh phải bảo đảm tính cân đối động của nền kinh tế một cách chủ động, thường
xuyên, tức là thực hiện một công tác mang đồng thời 2 mặt: Duy trì sự cần đối của
tỉnh và phá vỡ sự cân đối cũ, xác lập sự cân đối mới, ở một giai đoạn sau.
Một vấn đề khác bảo đảm cân đối động không có nghĩa là cân đối trực tiếp
thông qua kế hoạch mọi mối quan hệ và đồng thời phát triển tất cả các bộ phận
phát triển kinh tế của tỉnh với quy mô và tốc độ như nhau. Hiện nay, tỉnh Hải
Dương, khối lượng các yếu tố cần cho sản xuất như: lao động, tiền vốn, vật tư còn
hạn chế chưa cho phép đồng thời bào đểm sự cân đối mọi bộ phận cấu thành của
nền sản xuất (tức là những quan hệ nhịp nhàng, ăn khớp giữa tất cả các ngành, các
vùng, các khâu), và sự cân đối giữa các yếu tố sản xuất với các mặt khác của đới
sống xã hội, ở đây cần lựa chọn những quan hệ then chốt, tập trung lực lượng để
tác động tạo nên sự cân đối tương đối và nhờ vậy có điều kiện tác động tới toàn bộ
nền kinh tế của tỉnh tạo thế đi lên vững chắc. CCKT là một phạm trù có nội dung
rất phong phú, Tùy theo cách tiếp cận khác nhau có thể phân định các loại cơ cấu
khác nhau như: Cơ cấu quan hệ sản xuất trong nền kinh tế; cơ cấu vùng lãnh thổ
của nền kinh tế; cơ cấu sản xuất xã hội; cơ cấu ngành kinh tế. Trong các loại cơ
cấu trên thì cơ cấu ngành kinh tế là cơ cấu quan trọng nhất của nền kinh tế. Xét ở
tầm vĩ mô đó là số lượng và quan hệ giữ các ngành lớn của nền sản xuất như: công
nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ... sự hình thành, phát triển cơ cấu ngành kinh tế là kết
quả quá trình phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Ngày
nay khi nhân loại đang phát triển nền kinh tế hàng hóa thị trường thì xu hướng xây
dựng một nền kinh tế với cơ cấu công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hiện đại đang
trở thành tất yếu với các quốc gia. Song cơ cấu cụ thể mối quan hệ, mỗi tỉnh và quá
trình hình thành nó phụ thuộc vào đặc điểm của từng nước, từng tỉnh.
Trong phạm vi đề tài này, đối tượng chính là nghiên cứu cơ cấu ngành kinh
tế. Tuy nhiên, sự phân tích không loại trừ việc ít, nhiều đề cập đến các vấn đề của
các loại cơ cấu khác khi chúng liên quan trực tiếp đến các vấn đề của cơ cấu

xuất khẩu đạt 300 - 350 triệu USD.
Chuyển dịch CCKT của đất nước, là quá trình diễn ra ở những quốc gia chưa
hoàn thành công nghiệp hóa, có cơ cấu của một nền kinh tế tập trung, quan liêu
bao cấp, song xây dựng một nền kinh tế sản xuất hàng hóa lớn hiệu quả và bền
vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng thành
tựu khoa học, công nghệ tiên tiến đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; CCKT
hợp lý, trình độ sản xuất phát triển, quan hệ sản xuất phù hợp với kết cấu hạ tầng
kinh tế, xã hội phát triển ngày càng hiện đại.
Cùng với cả nước, quá trình chuyển dịch CCKT ngành ở Hải Dương theo
hướng CNH, HĐH trong những năm qua cũng diễn ra theo xu hương chuyển dịch
nhanh cơ cấu sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, cơ cấu cây trồng vật nuôi, phát triển
các vùng, ngành sản xuất hàng hóa chuyên canh phù hợp với tiềm năng và lợi thế
về đất đai, khí hậu lao động của tỉnh, gắn công nghiệp chế biến với thị trường. Đẩy
mạnh chuyển dịch CCKT nông thôn theo hướng phát triển toàn diện, khai thác triệt
để mọi tiềm năng thế mạnh của các ngành nghề nghiệp truyền thống, nhằm tạo
việc làm mới có hiệu quả ở nông thôn chuyển dần một bộ phận lao động nông
nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.
Đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến ngư, tập huấn, kỹ thuật, ứng dụng
những thành tựu khoa học - công nghệ, đưa giống mới có chất lượng cao vào sản
xuất, nâng cao năng lực bảo quản chế biến, nhằm tăng năng suất, nâng cao chất
lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường, đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh cũng như nhu cầu xuất khẩu, từng bước xây dựng tỉnh
giàu đẹp, công bằng, dân chủ, văn minh.
Để xây dựng Hải Dương với mục tiêu như trên thì việc chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế của tỉnh theo hướng CNH, HĐH trở thành nhiệm vụ vừa cấp bách,
vừa mang tính chiến lược lâu dài nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao đới
sống nhân dân, củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân trên địa bàn tỉnh.
1.1.2. Chuyển dịch CCKT ngành trên địa bàn tỉnh Hải Dương là tất yếu
khách quan
Hải Dương là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, có diện tích tự nhiên

và thị trường thứ hai là quá trình huyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng tăng
nhanh tỷ trọng giá tri sản phẩm và lao động trong các ngành công nghiệp và dịch
vụ giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường, tổ chức sản
xuất, xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp.
Chuyển dịch CCKT theo hướng CNh, HĐH ở Hải Dương không chỉ là đổi
mới, nâng cao trình độ công nghệ, xây dựng một CCKT đa ngành, năng động có
hiệu quả cao mà còn thúc đẩy các thành phần kinh tế để hình thành một nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XNCN. Sự
chuyển dịch diễn ra dưới nhiều hình thức, nếu phù hợp với tính chất và trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất sẽ phát huy được mọi nguồn lực về vốn, kỹ thuật
công nghệ, trình độ quản lý, giải quyết việc làm cho các đơn vị sản xuất kinh
doanh của mọi thành phần kinh tế, của các cấp, ngành trên địa bàn tỉnh để thúc đẩy
sản xuất phát triển mạnh mẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao đáp ứng với thị trường
trong tỉnh cũng như trong và ngoài nước. Như vậy, chuyển dịch CCKT theo hướng
CNH, HĐH ở Hải Dương chính là nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế
hàng hóa, nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN,
mở rộng thị trường, giảm sự chênh lệch giữa thành thị với nông thôn là vấn đề cấp
bách đặt ra đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Hải Dương.
Hai là: Xuất phát từ lợi thế và tác động của các nguồn lực đối với sự chuyển
dịch CCKT ngành trong quá trình CNH, HĐH ở Hải Dương.
Hải Dương có diện tích tự nhiên 1.662km
2
, dân số 1,7 triệu người. Là tỉnh có
tiềm năng to lớn để phát triển nông nghiệp với vùng đồng bằng chiếm 89% đất tự
nhiên, đất đai màu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng,. Sản xuất được nhiệm vụ
trong năm. Vùng đồi núi của Hải Dương chiếm 11% diện tích tự nhiên, có nhiều
loại khoáng sản như đá vôi, đất cao lanh với trữ lượng lớn có thể phát triển công
nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng.
Là một tỉnh có truyền thống văn hoá lâu đời, mảnh đất "địa linh nhân kiệt"

nghề, lĩnh vực lợi thế đạo đức chú trọng trong phát triển. Nhiều doanh nghiệp đầu
tư mới, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản xuất, chất
lượng sản phẩm, từng bước xây dựng thương hiệu nâng cao hiệu quả sản xuất và
tăng sức cạnh tranh. Một số sản phẩm chủ yếu có mức tăng trưởng cao như: lắp ráp
ô tô, sản phẩm may mặc, giầy dép, máy bơm, xi măng, gạch mung...
Về du lịch, dịch vụ: Với lợi thế là trung tâm chuyển tiếp giữa Hà Nội Hải
phòng và Quảng Ninh. Kết hợp với nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng chính vì
vậy tiềm năng phát triển du lịch của Hải Phòng dồi dào, cơ cấu các ngành dịch vụ
chuyển biến theo hướng tăng các ngành dịch vụ chất lượng cao như dịch vụ tư vấn,
ngân hàng tài chính, bưu chính viễn thông, dịch vụ xuất nhập khẩu, dịch vụ và du
lịch...
Các thế mạnh của tỉnh là những điều kiện thuận lợi để chuyển dịch CCKT
ngành theo hướng CNH, HĐH góp phần tích cực vào giải quyết việc lầm cho
người lao động của tỉnh.
Về tài nguyên nhân văn: Những năm qua, các cấp uỷ, chính quyền quan tâm
chăm lo phát triển đồng bộ kinh tế- xã hội ở các thành thị và nông thôn. Một trong
những thành tựu quan trọng của tỉnh trong những năm qua là chất lượng của hệ
thống giáo dục và đào tạo không ngừng nâng cao, đã tạo ra một bước đột phá quan
tọng, trực tiếp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trên cơ sở phát huy có hiệu
quả các thế mạnh, tiềm năng vốn có. Tỉnh đã tích cực, năng động đẩy mạnh hợp
tác nghiên cứu, đào tạo, phát triển nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực ứng
dụng khoa học kỹ thuật - công nghệ vào sản xuất. Cùng đó là chủ trương và thực
hiện có hiệu quả cuộc vận động xã hội hoá giáo dục cả về bề rộng và chiều sâu, cả
hình thức và quy mô, cấp học... Không ngừng đầu tư kinh phí đổi mới nội dung,
chương trình giáo dục, nâng cao trình độ dân trí đáp ứng đỏi hỏi thự tiễn của quá
trình chuyển dịch CCKT ngành theo hướng hiện đại đang đặt ra.
Hệ thống các trường được quan tâm đầu tư cả về đội ngũ giáo viên và cơ sở
vật chất. Đảm bảo đủ giáo viên ở các cấp học; 100% giáo viên trực tiếp giảng dạy
tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên
đạt chuẩn, trên chuẩn, 91% số phòng học phổ thông, 41% số phòng học mầm non


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status