Bộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạoBộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học kinh tế quốc dân
Trờng đại học kinh tế quốc dânTrờng đại học kinh tế quốc dân
Trờng đại học kinh tế quốc dân Ngời hớng dẫn khoa học:
GS.TS. NGUYễN khắc minh Hà nội, 2015
Hà nội, 2015Hà nội, 2015
Hà nội, 2015i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng Luận án này đã được thực hiện với sự
trung thực từ tổng quan nghiên cứu đến các nghiên cứu định lượng, phân
tích dữ liệu và báo cáo kết quả.
Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu, tôi cam đoan rằng những
kết quả nghiên cứu trong luận án này một phần là mới, một phần củng
cố, khẳng định lại các kết quả nghiên cứu trước.
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình.
Tác giả luận án Nguyễn Thị Cẩm Vân
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC HÌNH viii
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 7
1.4.8. Đánh giá chung các lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 46
1.5. Tổng quan nghiên cứu về sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 47
1.5.1. Tổng quan các nghiên cứu về nguồn tăng trưởng đầu ra và thay đổi cơ cấu
theo phương pháp tiếp cận vào - ra 47
1.5.2. Tổng quan các nghiên cứu về mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu lao
động theo ngành và tăng trưởng năng suất lao động ở các quốc gia trên thế giới50
iv
1.5.3. Tổng quan các nghiên cứu sử dụng các mô hình kinh tế lượng đánh giá tác
động của CDCCN kinh tế đến tăng trưởng kinh tế 56
1.6. Kết luận chương 1 59
Chương 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ Ở
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1989 - 2014 61
2.1. Một số chính sách liên quan đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở
Việt Nam 61
2.2. Cơ cấu GDP, vốn và lao động theo ngành của nền kinh tế Việt Nam 72
2.2.1. Cơ cấu GDP theo ngành của nền kinh tế 72
2.2.2. Cơ cấu vốn theo ngành của nền kinh tế 74
3.1.3. Phân tích từ phía cung 96
3.2. “Mô hình cơ bản” phân tích vai trò của chuyển dịch cơ cấu ngành đối với
tăng trưởng năng suất lao động 99
3.3. Các mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động của CDCCN kinh tế đến
tăng trưởng kinh tế 101
v
3.4. Số liệu sử dụng cho phân tích 104
3.5. Sử dụng mô hình vào - ra để phân tích sự chuyển dịch cơ cấu ngành và
nguồn tăng trưởng sản lượng của các ngành và nền kinh tế Việt Nam thời kỳ
1989 - 2007 105
3.5.1. Nguồn tăng trưởng đầu ra của các ngành và nền kinh tế thời kỳ 1989 -
1996 107
3.5.2. Nguồn tăng trưởng đầu ra của các ngành và nền kinh tế thời kỳ 1996 -
2000 110
3.5.3. Nguồn tăng trưởng của các ngành và nền kinh tế thời kỳ 2000 - 2007 114
3.5.4. So sánh khu vực chế biến, chế tạo của Việt Nam với một số quốc gia trong
khu vực và trên thế giới 119
3.5.5. Ảnh hưởng qua các mối liên hệ công nghiệp 126
Ký hiệu Giải thích thuật ngữ
ASEAN Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CDCCN Chuyển dịch cơ cấu ngành
CNCB Công nghiệp chế biến
CNCBCT Công nghiệp chế biến chế tạo
CNH Công nghiệp hóa
FDI Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
GO Gross Output
GSO Tổng cục Thống kê
HĐH Hiện đại hóa
NK Nhập khẩu
NICs Các nước công nghiệp hoá mới
NSLĐ Năng suất lao động
R&D Nghiên cứu và phát triển
VA Giá trị gia tăng
XK Xuất khẩu
vii
viii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Mô hình các giai đoạn phát triển kinh tế của Rostow 23
Hình 1.2. Mô hình tăng trưởng nhị nguyên của Lewis 25
Hình 1.3: Mô hình đàn ngỗng bay 37
Hình 2.1. Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam, 1989 – 2014 72
Hình 2.2. Cơ cấu GDP theo ngành của Việt Nam, 1995 – 2014 73
Hình 2.3. Tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế Việt Nam, 1995 - 2014 73
Hình 2.4. Cơ cấu vốn của nền kinh tế Việt Nam, 1995 - 2012 (giá so sánh 2010) 74
Hình 2.5. Tốc độ tăng vốn của các ngành và nền kinh tế Việt Nam, 1995 – 2012. 75
Hình 2.6. Cơ cấu lao động của nền kinh tế Việt Nam, 1995 – 2014 76
Hình 2.7. Cơ cấu giá trị gia tăng theo ngành kinh tế ở Việt Nam, 1995 – 2012 78
Hình 2.8. Cơ cấu giá trị sản xuất theo ngành kinh tế ở Việt Nam, 1995 – 2012 78
Hình 2.9. Tốc độ tăng VA và GO ngành công nghiệp Việt Nam, 1995 – 2012. 79
giành phần thích đáng để trình bày về vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
trong thời kỳ CNH. Gần đây, sau ảnh hưởng của cuộc khủng hoàng tài chính Châu
Á, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, khá nhiều các công trình
nghiên cứu mới về chủ đề này đã xuất hiện, trong đó nổi lên xu hướng đánh giá lại
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia, các khu vực kinh tế khác nhau trên
thế giới trong bối cảnh quốc tế mới.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã được đề cập đến khá nhiều trong các tài liệu
nghiên cứu kinh tế ở Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay, số lượng các công trình có nội
dung nghiên cứu sâu về chủ đề này còn rất hạn chế. Đáng chú ý có một số nghiên cứu:
của Nguyễn Khắc Minh (2009) về nguồn tăng trưởng và thay đổi cơ cấu kinh tế ở Việt
Nam; và của Nguyễn Thị Minh (2009, 2010) về hiệu quả phân bổ giữa các ngành và về
mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam… Các nghiên
cứu đã có ở Việt Nam về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã cố gắng phân tích theo
các cách tiếp cận khác nhau và thực hiện trong những khoảng thời gian khác nhau
nhưng tác giả vẫn chưa tìm thấy một nghiên cứu tổng hợp, sử dụng các phương pháp
tiếp cận khác nhau để đo lường thận trọng và đánh giá một cách đầy đủ, chính xác diễn
biến của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam kỳ kể từ sau đổi mới.
Luận án này hy vọng có thể bổ sung cho các nghiên cứu trước bằng cách áp dụng ba
phương pháp tiếp cận khác nhau để làm sáng tỏ khuôn mẫu tăng trưởng và thay đổi cơ
cấu ngành và nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 1989 – 2014.
Cấu trúc của luận án gồm ba chương, được bố trí như sau: sau phần mở đầu,
chương 1 trình bày cơ sở lý luận về sự CDCCN kinh tế trong quá trình CNH, HĐH,
và tổng quan các lý thuyết và các nghiên cứu về sự CDCCN kinh tế; chương 2 trình
bày thực trạng CDCCN kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 1989 - 2014; tiếp theo, 2
chương 3 là cơ sở phương pháp luận các mô hình phân tích sự CDCCN kinh tế và
ước lượng thực nghiệm các mô hình này cho nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 1989 -
2014; cuối cùng, phần kết luận sẽ tóm tắt lại các kết quả đạt được, gợi ý một số
động thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất
nước trong bối cảnh hội nhập thể hiện rõ quyết tâm thực hiện mục tiêu đưa Việt
Nam về cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020.
Đích đến năm 2020 không còn bao xa, yêu cầu đẩy nhanh quá trình CNH,
HĐH đất nước đặt ra cấp bách hơn bao giờ hết. Nội dung, bản chất của quá trình
CNH được thể hiện ở sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong đó, cơ cấu ngành kinh tế
đóng vai trò quan trọng nhất. Đối với Việt Nam, một quốc gia đi lên từ nông
nghiệp, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế hướng đến cơ cấu ngành hợp lý, hiện đại,
có hiệu quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ có
một ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã
được đề cập đến từ lâu ở Việt Nam trong các nghiên cứu về tăng trưởng, về quá trình
công nghiệp hóa ở các mức độ khác nhau. Trong các nghiên cứu này, nhiều vấn đề lý
luận và thực tiễn về tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu ngành trong quá trình công
nghiệp hóa đã được phân tích. Tuy nhiên, số lượng các nghiên cứu sâu, áp dụng nhiều
phương pháp tiếp cận khác nhau để làm sáng tỏ khuôn mẫu tăng trưởng và thay đổi
cơ cấu ngành và nền kinh tế Việt Nam kể từ sau đổi mới vẫn còn rất hạn chế. Vì vậy,
nghiên cứu: “Các mô hình phân tích sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” là rất cần thiết hiện nay.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của luận án là sử dụng các mô hình định lượng để phân tích sự
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH đất nước,
đồng thời, đánh giá lại những đóng góp của các ngành và chuyển dịch cơ cấu ngành
vào tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong thời gian qua. Và qua đó có thể đóng góp
một số gợi ý chính sách về cơ cấu ngành cho quá trình CNH, HĐH đất nước.
Nghiên cứu này sẽ đi vào trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
Sự chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế diễn ra như thế nào trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn 1989 - 2014?
Tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến tăng trưởng kinh tế
như thế nào?
Khác với các nghiên cứu trước về chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế,
nghiên cứu này sử dụng ba phương pháp tiếp cận khác nhau để phân tích sự chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 1989 – 2014 và đã chỉ ra rằng: 5
1. Sự thay đổi cơ cấu nền kinh tế Việt Nam được thúc đẩy bởi sự dịch chuyển
trong nhu cầu cuối cùng - chủ yếu là tiêu dùng, thương mại, và những thay đổi
trong mối quan hệ giữa các ngành.
2. Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành cho thấy có sự thay đổi đáng kể trong
vai trò của các ngành sơ cấp và các ngành công nghiệp chế biến chế tạođối với tăng
trưởng tổng giá trị sản xuất của nền kinh tế. Sự chuyển dịch diễn ra theo hướng
giảm tỷ trọng đóng góp của các ngành sơ cấp, tăng tỷ trọng của các ngành chế biến
chế tạo vào tăng trưởng đầu ra của nền kinh tế. Ngành công nghiệp chế biến chế tạo
không chỉ đóng vai trò then chốt trong tăng trưởng giá trị sản xuất của nền kinh tế
qua các thời kỳ mà cơ cấu ngành còn chuyển dịch tích cực từ các ngành thâm dụng
tài nguyên và lao động đến các ngành thâm dụng vốn và công nghệ.
3. Các nhân tố đặc trưng riêng của từng ngành và sự khác nhau về định hướng
thương mại của các ngành tạo nên tính đa dạng trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế ở Việt Nam.
4. Chuyển dịch cơ cấu ngành có đóng góp quan trọng vào tăng trưởng năng
suất lao động của Việt Nam thời kỳ 1995 – 2014, và tầm quan trọng của chuyển
dịch cơ cấu ngành thay đổi mạnh mẽ qua các thời kỳ nghiên cứu, trong đó ảnh
hưởng mạnh nhất ở thời kỳ 2000 - 2010.
5. Chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng CNH, HĐH có quan hệ chặt chẽ và
có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam thời kỳ 1998 - 2011.
6.2. Những kết luận, đề xuất mới rút ra từ các kết quả nghiên cứu
Từ các kết quả nghiên cứu, luận án rút ra một số kết luận sau:
1. Cơ cấu ngành của khu vực sơ cấp chuyển dịch từ nông nghiệp sang khai
khoáng rồi đến thủy sản. So với các nền kinh tế khác, Việt Nam là một trong số rất
Phần đầu của chương 1 trình bày những khái niệm cơ bản nhất về sự
CDCCN kinh tế trong quá trình CNH, HĐH. Phần tiếp theo sẽ mô tả ngắn gọn một
số mô hình lý thuyết về CDCCN kinh tế. Phần cuối chương sẽ giới thiệu tổng quan
các nghiên cứu đã có trên thế giới và ở Việt Nam về quá trình CDCCN kinh tế và
tăng trưởng kinh tế theo ba phương pháp tiếp cận: tiếp cận vào - ra, tiếp cận lý
thuyết tăng trưởng mới, và tiếp cận kinh tế lượng.
1.1. Khái niệm cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu kinh tế là tương quan giữa các bộ phận trong tổng thể kinh tế, thể
hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa
các bộ phận. Có nhiều dạng khác nhau của cơ cấu kinh tế, mỗi dạng phản ánh một
khía cạnh nhất định của sự phát triển, trong đó cơ cấu ngành chính là dạng quan
trọng nhất, phản ánh rõ nhất trình độ phát triển của một nền kinh tế [15].
Xét trên khía cạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế thì cơ cấu theo ngành của
nền kinh tế được xem là quan trọng nhất, được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất vì nó
phản ánh sự phát triển của khoa học công nghệ, lực lượng sản xuất, phân công lao
động, chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất, đồng thời nó cũng thể hiện tính hiệu quả
của việc phân bổ và sử dụng nguồn lực có lợi thế tương đối, khả năng cạnh tranh của
quốc gia và hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Cơ cấu ngành kinh tế là tương quan giữa các ngành trong tổng thể nền kinh
tế quốc dân, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và
chất lượng giữa các ngành với nhau. Các mối quan hệ này được hình thành trong
những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn vận động và hướng vào những mục
tiêu cụ thể [15]. Bản chất của cơ cấu ngành kinh tế thể hiện trên các khía cạnh:
Thứ nhất, đó là tổng thể các nhóm ngành, các ngành kinh tế được hình thành,
số lượng các ngành kinh tế luôn thay đổi trong quá trình phát triển của. Theo tính chất
phân công lao động xã hội (hay sự khác nhau về quy trình công nghệ của các ngành
trong quá trình tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ), các ngành kinh tế được phân 8
9
của các ngành là khác nhau. Do đó, cơ cấu ngành kinh tế luôn thay đổi theo từng
thời kỳ phát triển.
Quá trình thay đổi của cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác
ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển gọi là sự
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế [15].
Như vậy, CDCCN không chỉ là sự thay đổi về số lượng các ngành, tỷ trọng
của mỗi ngành mà còn là sự thay đổi về vai trò, tính chất mối quan hệ trong nội bộ cơ
cấu ngành. Quá trình CDCCN là một quá trình diễn ra liên tục, gắn liền với tăng
trưởng và phát triển kinh tế. Hơn nữa, CDCCN kinh tế diễn ra linh hoạt, phù hợp với
những điều kiện bên trong và bên ngoài, phù hợp với các lợi thế tương đối của nền
kinh tế là cơ sở cho tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững.
Hầu hết các nhà kinh tế đều nhất trí rằng tình trạng kém phát triển bao giờ
cũng gắn liền với sản xuất nông nghiệp trong khi trình độ phát triển cao luôn đi kèm
với một khu vực công nghiệp phát triển. Lịch sử phát triển kinh tế thế giới cũng như
từng quốc gia đều cho thấy quá trình phát triển đi đôi với quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế đặc biệt là CDCCN kinh tế, trong đó tỷ trọng khu vực nông nghiệp giảm
đi và tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng lên. Như vậy, CDCCN là một
quá trình diễn ra gắn liền với quá trình CNH và được xem là kết quả của quá trình
CNH đối với các nước đang phát triển
1.3. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình CNH, HĐH
1.3.1. Công nghiệp hóa
Theo định nghĩa của Liên hợp quốc (1963):“Công nghiệp hoá là phương
thức phát triển kinh tế trong đó phần lớn nguồn lực quốc gia được sử dụng và phát
triển công nghệ và kỹ thuật tiên tiến để đa dạng hoá sản xuất, đặc biệt là sản xuất
công nghiệp, nhằm tạo ra và duy trì được một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao và vượt
qua được những lạc hậu về kinh tế xã hội” [98].
Theo khái niệm này, CNH bao gồm hai nội dung cơ bản: thứ nhất, CNH
nhập khẩu, nghĩa là các ngành sản xuất hàng hóa trong nước sẽ phát triển, và sau đó
có thể cạnh tranh được trên thị trường thế giới trong tương lai khi đạt được tính kinh
tế theo quy mô. Chiến lược này đòi hỏi chính phủ cần áp dụng các chính sách thực
hiện lựa chọn các hàng hóa sản xuất ở trong nước, thường là các hàng hóa được sản
xuất dựa vào tay nghề thấp, thâm dụng lao động như dệt may, giày dép. Các biện
pháp bảo hộ những ngành công nghiệp trong nước thường là dựng lên các hàng rào 11
mậu dịch chống lại hàng nhập khẩu và các khoản trợ cấp để khuyến khích các
ngành công nghiệp trong nước [15, tr 267 – 272].
Chiến lược CNH thay thế nhập khẩu được ủng hộ dựa trên những lập luận
sau: các nước tiến hành CNH sẽ giữ vững được độc lập về kinh tế tránh được những
bất ổn do phụ thuộc kinh tế vào nước ngoài; thoát khỏi vị thế làm nước cung cấp
nguyên liệu, nông sản; có thể học tập thông qua thực tiễn: gây dựng kinh nghiệm
kinh doanh cho doanh nghiệp trong nước thông qua môi trường cạnh tranh không
quá khắc nghiệt khi không có hàng nhập khẩu; đạt được tính kinh tế theo quy mô;
tạo ra các mối liên kết liên ngành: các ngành thay thế nhập khẩu phát triển có thể
tạo cơ hội cho các ngành khác cung cấp đầu vào cho chúng hay sử dụng đầu ra của
chúng phát triển theo; và xây dựng được những ngành công nghiệp then chốt dựa
vào nguồn lực trong nước.
Các nước áp dụng chiến lược này thường trải qua hai giai đoạn: giai đoạn
đầu tập trung vào đầu tư phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng với mục
đích sản xuất hàng thành phẩm; giai đoạn sau tập trung chuyển hướng phát triển các
ngành sản xuất tư liệu sản xuất bắt đầu từ những ngành sản xuất đầu vào trung gian,
sau đó sản xuất hàng hoá máy móc thiết bị.
Một số quốc gia đã thu được thành công nhất định trong việc áp dụng chiến
lược này (Phổ, Đức và một số nước Đông Á sau Chiến tranh thế giới thứ hai) cho
đến những thập kỷ cuối của thế kỷ 20. Với hàng rào bảo hộ cao bằng thuế nhập
khẩu và các biện pháp phi thuế quan, các nước có thể bán sản phẩm trên thị trường
1.3.3. Công nghiệp hoá theo hướng xuất khẩu
Công nghiệp hóa theo hướng xuất khẩu là chiến lược CNH lấy phát triển
khu vực sản xuất hàng xuất khẩu làm động lực chủ yếu lôi kéo toàn nền kinh tế phát
triển. Đây là một chiến lược hướng ngoại, dựa trên sự mở cửa và thương mại quốc
tế. Tăng trưởng đạt được bằng cách tập trung vào tăng xuất khẩu, và doanh thu xuất
khẩu là nhân tố dẫn dắt tổng cầu của quốc gia. Xuất khẩu tăng kéo theo GDP tăng,
dẫn đến thu nhập cao hơn và cuối cùng, tăng trưởng tại các thị trường trong nước
cũng như các thị trường xuất khẩu. Quốc gia theo đuổi chiến lược này sẽ tập trung
vào sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm mà nó có lợi thế so sánh. Xu hướng chung
là xuất khẩu các sản phẩm sơ cấp giảm dần, trừ dầu và một số kim loại. Điều này là
do cung hàng hóa sơ cấp ngày càng tăng còn cầu tăng không đáng kể. Cùng với sự
bảo hộ ngày càng tăng của các nước phát triển, tăng trưởng dẫn dắt bởi xuất khẩu 13
không thể đạt được nếu chỉ dựa vào xuất khẩu các sản phẩm sơ cấp. Do đó, tăng
trưởng dẫn dắt bởi xuất khẩu thường dựa vào tăng xuất khẩu hàng chế biến, chế tạo
[15, tr280 – 284].
Chiến lược này từng được nhiều nước đang phát triển áp dụng và không ít
trong số đó đã thành công, điển hình là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, một số
nước ASEAN và Trung Quốc. Các quốc gia này đã xuất khẩu những sản phẩm mà
họ đã có lợi thế so sánh (như chi phí lao động thấp) và đã rất thành công. Theo thời
gian, loại sản phẩm được xuất khẩu phần lớn bởi các quốc gia này cũng có xu
hướng thay đổi từ các sản phẩm được sản xuất bởi các phương pháp sản xuất thâm
dụng lao động, đến các sản phẩm tinh xảo hơn sử dụng các phương pháp sản xuất
thâm dụng vốn và lao động có kỹ năng cao hơn.
Theo chiến lược này, chính phủ sẽ ưu tiên phát triển những ngành công
nghiệp có thể xuất khẩu được sản phẩm của mình. Các biện pháp ưu tiên thường
được sử dụng gồm: trợ cấp xuất khẩu, tạo thuận lợi trong tiếp cận tín dụng, hỗ trợ
về thông tin thị trường, tạo thuận lợi cho nhập khẩu đầu vào cho sản xuất, ưu đãi về
Bậc thang thứ ba liên quan đến việc sản xuất máy móc vốn (capital -
machinery), thiết bị và công nghệ. Các ngành được lựa chọn là những ngành thâm
dụng vốn và lao động có kỹ năng như: sản xuất hàng điện gia dụng - điện tử, cơ khí
đơn giản như chế tạo máy nông nghiệp, sản xuất xe gắn máy.
•
Ở giai đoạn thứ tư, các ngành được lựa chọn là những ngành thâm dụng
công nghệ như chế tạo máy chính xác, hóa chất, chế tạo ô tô, v.v
Ba giai đoạn sau được gọi chung là CNH theo hướng xuất khẩu của khu vực
cấp hai (khu vực chế biến - chế tạo). Các giai đoạn trên có thể gối nhau, thậm chí,
một số nền kinh tế đang phát triển mà hầu như tất cả các phân ngành chế tạo đều có
thì có thể thực hiện bốn giai đoạn đồng thời với sự xuất phát của mỗi giai đoạn có thể
khác nhau; điển hình cho trường hợp này là Trung Quốc, nước đồng thời xuất khẩu từ
nông sản tới các thiết bị công nghệ cao. Các nước Đông Nam Á bắt đầu thực hiện
chiến lược này từ những năm 1970. Các thành quả của chiến lược này là: kinh tế tăng
trưởng nhanh; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại, năng động; các nguồn
lực trong và ngoài nước được tận dụng triệt để; thị trường nước ngoài mở rộng. Tuy
nhiên, áp dụng chiến lược này có thể dẫn đến mất cân đối trong cơ cấu kinh tế do quá
chú trọng vào một số ít ngành hướng ra xuất khẩu, phụ thuộc vào một số thị trường
xuất khẩu chủ yếu, không quan tâm đúng mức đến thị trường nội địa.
1.3.4. Chuyển dịch cơ cấu ngành trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNH được thừa nhận là một trong những động cơ chính của tăng trưởng kinh
tế, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của sự phát triển. CDCCN linh hoạt, phù hợp với
những điều kiện bên trong, bên ngoài và các lợi thế tương đối của nền kinh tế sẽ tạo
nên tính chất bền vững, hiệu quả của tăng trưởng, củng cố thành quả và tác dụng 15
đến các mục tiêu của CNH. Xu hướng có tính quy luật chung ở các nước đang phát
triển là cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng CNH và ngày càng hiện đại
hơn, từ một nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công − nông nghiệp rồi từ đó
sau đó các ngành thâm dụng công nghệ tương đối cao sẽ có ành hưởng chi phối (sự
thống trị của một phân ngành cụ thể có thể được hiểu là nó chiếm tỷ trọng giá trị gia
tăng và/hoặc tỷ trọng việc làm tương đối cao). Cho dù có những thuật ngữ khác
nhau được sử dụng trong các nghiên cứu tương ứng, nhưng có thể thấy rằng trong
giai đoạn đầu các ngành công nghiệp thâm dụng lao động cao và có kỹ năng thấp
như dệt may, thực phẩm, đồ da và đồ nội thất phát triển; trong giai đoạn tiếp theo sẽ
phát triển các ngành thâm dụng công nghệ và kỹ năng tương đối cao như sử dụng
kim loại, phương tiện vận tải…, di chuyển lên đến các ngành công nghiệp ở mức
cao hơn trong nấc thang công nghệ như cơ khí và hoá chất.
Như vậy, CNH là một quá trình tích lũy liên quan đến việc di chuyển từ một
giai đoạn sang giai đoạn khác thông qua việc thành lập các ngành công nghiệp mới
có giá trị gia tăng và hàm lượng công nghệ cao hơn [31]. Nhưng quá trình này
không phải là tự động vì nó đòi hỏi phải dịch chuyển có mục đích vào những công
nghệ hiệu quả, phức tạp và thâm dụng kỹ năng hơn và không ngừng nâng cấp công
nghệ [65]. Do đó, đặc điểm của CNH bền vững là đi cùng với triển vọng tăng
trưởng năng động trong thế giới hiện nay của các thị trường không hoàn hảo và
không chắc chắn có thể đạt được bằng khả năng của đất nước để khai thác tính kinh
tế theo quy mô, tiếp thu, áp dụng và hấp thu công nghệ.
Sự phát triển mạnh mẽ của các quốc gia là một "con đường phụ thuộc” vào
quá trình chuyển dịch cơ cấu từ các ngành hiệu suất thấp đến ngành hiệu suất cao
[83]. Chuyển dịch cơ cấu là một trong sáu đặc điểm chính của tăng trưởng kinh tế
hiện đại, trong đó, chuyển dịch cơ cấu là quá trình tái phân bổ hoạt động kinh tế trên
các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp chế biến chế tạo và dịch vụ [63]. Do đó,
nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu trở thành trung tâm của việc tìm hiểu tăng trưởng
kinh tế hiện đại [89].
Các cường quốc kinh tế mới nổi, nhìn chung, đã trải qua một quá trình tăng
trưởng kinh tế liên tục, kéo dài và được thúc đẩy bởi sự chuyển dịch cơ cấu nhanh
chóng của nền kinh tế. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các nền kinh tế này được
đặc trưng bởi sự chuyển dịch từ sản xuất sơ cấp (khai khoáng và nông nghiệp) tới
các hoạt động chế biến - chế tạo; và sự dịch chuyển trong khu vực chế biến - chế tạo