MỤC LỤC
Lời nói đầu 2
Phần I: Những vấn đề lý luận chung 3
I. Quy luật mâu thuẫn 3
1. Khái niệm mâu thuẫn 3
2. Đặc điểm mâu thuẫn 4
3. Nội dung quy luật 5
II- Vai trò của vốn đầu tư đối với sự phát triển của nền kinh tế 9
1. Khái niệm vốn đầu tư 9
2. Tầm quan trọng của vốn đầu tư 9
Phần II: Phân tích thực trạng mâu thuẫn giữa nhu cầu vốn và
khả năng huy động vốn cho phát triển kinh tế Việt Nam 13
I- Nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế Việt Nam 13
1. Mục tiêu phát triển kin2h tế 13
2. Nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế Việt Nam 14
II- Thực trạng khả năng huy động vốn cho đầu tư phát triển
kinh tế 15
1. Huy động vốn trong nước 15
2. Huy động vốn nước ngoài 18
III- Phân tích mâu thuẫn và một số nguyên nhân của mâu thuẫn 19
1. Phân tích mâu thuẫn 19
2. Nguyên nhân của mâu thuẫn 20
Phần III: Một số giải pháp nhằm giải quyết mâu thuẫn 21
I- Giải pháp cân đối vốn đầu tư bằng nguồn vốn trong nước 21
II- Giải pháp bảo đảm cân đối vốn đầu tư bằng nguồn vốn nước
ngoài 22
Kết luận 24
LỜI NÓI ĐẦU
Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam thời gian qua đã thu được những kết
quả bước đầu quan trọng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 5 năm liền (1996-
2000) đạt mức 7%, đời sống của nhân dân liên tục được cải thiện. Tuy nhiên,
nhau tồn tại trong cùng một sự vật, hiện tượng, tạo nên sự vật, hiện tượng đó.
Ví dụ như điện tích âm và dương trong nguyên tử, đồng hoá và dị hoá trong
sinh học, tích luỹ và tiêu dùng trong kinh tế...
Cần phân biệt rằng không phải bất kì hai mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu
thuẫn. Bởi vì trong các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan không phải
chỉ tồn tại trong nó hai mặt đối lập. Trong cùng một thời điểm ở mỗi sự vật có
thể cùng tồn tại nhiều mặt đối lập, chỉ có những mặt đối lập nào tồn tại thống
nhất trong cùng một sự vật như một chỉnh thể, nhưng có khuynh hướng phát
triển ngược chiều nhau, bài trừ, phủ định và chuyển hoá lẫn nhau (sự chuyển
hoá này tạo nguồn gốc, động lực, đồng thời quy định cả bản chất, khuynh
hướng phát triển của sự vật) thì hai mặt đối lập như vậy mới gọi là hai mặt đối
lập tạo thành mâu thuẫn. Ví dụ, trong một nền sản xuất xã hội xuất hiện hàng
loạt các mặt có khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau như lực lượng sản
xuất, quan hệ sản xuất; cung và cầu; tích luỹ và tiêu dùng; nhu cầu vốn và khả
năng huy động vốn...Trong đó, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai
mặt đối lập chính tạo thành mâu thuẫn. Bởi vì hai mặt đối lập này không chỉ
là nguồn gốc, động lực mà còn quy định rõ bản chất, khuynh hướng phát triển
của nền sản xuất.
2 .Đặc điểm của mâu thuẫn
Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan
Đối lập với các quan điểm của triết học cũ, phép biện chứng duy vật
khẳng định rằng tất cả các sự vật, hiện tượng tồn tại trong thực tại khách quan
đều chứa đựng trong nó mâu thuẫn. Sự hình thành và phát triển của mâu
thuẫn là do cấu trúc tự thân vốn có bên trong của sự vật, hiện tượng quy định.
Mâu thuẫn tồn tại không phụ thuộc vào bất kì một lực lượng siêu tự nhiên
nào, kể cả ý chí của con người. Mỗi một sự vật, hiện tượng đang tồn tại đều là
một thể thống nhất được cấu thành bởi các mặt, các khuynh hướng, các thuộc
tính phát triển ngược chiều nhau, đối lập nhau. Sự liên hệ, tác động qua lại,
đấu tranh chuyển hoá, bài trừ và phủ định lẫn nhau, tạo thành động lực bên
trong của mọi quá trình vận động và phát triển khách quan của chính bản thân
3. Nội dung quy luật
Qui luật mâu thuẫn là qui luật quan trọng nhất của phép biện chứng
duy vật. Quy luật này là "hạt nhân của phép biện chứng". Nó vạch ra nguồn
gốc, động lực của sự vận động, phát triển của bản thân sự vật, hiện tượng;
đồng thời tác động đến tất cả các quy luật và phạm trù của phép biện chứng.
3.1. Thống nhất của các mặt đối lập:
"Thống nhất" của các mặt đối lập được hiểu với ý nghĩa không phải
chúng đứng bên cạnh nhau mà là nương tựa vào nhau, tạo ra sự phù hợp, cân
bằng nhưng liên hệ phụ thuộc, quy định và ràng buộc lẫn nhau. Mặt đối lập
này lấy mặt đối lập kia làm tiền đề cho sự tồn tại của chính mình và ngược lại.
Nếu thiếu một trong hai mặt đối lập chính tạo thành sự vật thì nhất địn sẽ
không có sự tồn tại của sự vật. Bởi vậy, sự thống nhất của các mặt đối lập là
điều kiện không thể thiếu được cho sự tồn tại của bất kỳ sự vật hiện tượng
nào. Sự thống nhất này là do những đặc điểm riêng có của bản thân sự vật tạo
nên. Ví dụ tích luỹ và tiêu dùng là hai mặt đối lập thống nhất với nhau trong
nền sản xuất. Không có tích luỹ thì không thể thực hiện được quá trình tái sản
xuất mở rộng và như vậy không có điều kiện để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng
ngày càng cao. Ngược lại, nếu không đảm bảo thoả mãn nhu cầu về tiêu dùng
thì cũng không thể đẩy mạnh sản xuất phát triển. Không đẩy mạnh sản xuất
phát triển thì cũng không có tích luỹ.
Như vậy, nhờ sự thống nhất mà sự vật tồn tại là chính nó. Sự thống
nhất tạo tính ổn định và tương đối của sự vật.
Khái niệm "sự thống nhất của các mặt đối lập" còn được dùng cùng
một nghĩa với khái niệm "sự đồng nhất của các mặt đối lập". Tuy nhiên, trong
trường hợp các mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau thì hai khái niệm này không
còn đồng nghĩa với nhau nữa. Mỗi một sự vật, hiện tượng vừa là bản thân nó,
vừa là một cái khác với bản thân nó. Trong sự đồng nhất đã bao hàm sự khác
nhau, không có cái gì đồng nhất thuần tuý, không có đối lập, không có chuyển
hoá.
3.2. Đấu tranh của các mặt đối lập
Tuy nhiên không phải bất kì sự đấu tranh nào của các mặt đối lập đều
dẫn đến sự chuyển hoá giữa chúng. Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập
phát triển đến một trình độ nhất định, hội đủ các điều kịên cần thiết mới dẫn
đến sự chuyển hoá, bài trừ và phủ định lẫn nhau. Chuyển hoá của các mặt đối
lập chính là lúc mâu thuẫn được giải quyết, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra
đời. Đó là quá trình diễn biến rất phức tạp với rất nhiều hình thức khác nhau.
Do đó không nên hiểu sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối lập chỉ là sự
hoán đổi vị trí một cách giản đơn, máy móc như A chuyển thành B và ngược
lại. Thông thường mâu thuẫn chuyển hoá theo hai phương thức : Một là, mặt
đối lập này chuyển hoá thành mặt đối lập kia nhưng ở trình độ cao hơn xét về
phương diện chất của sự vật. Ví dụ lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
trong xã hội phong kiến chuyển hoá lẫn nhau để hình thành quan hệ sản xuất
mới- quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và lực lượng sản xuất ở trình độ cao
hơn. Hai là, cả hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau để hình thành hai mặt đối
lập mới hoàn toàn.
Như vậy, đấu tranh đưa đến sự chuyển hoá làm các mặt đối lập thay
đổi dẫn đến sự vận động. Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc
động lực của sự vận động, xuyên qua quá trình vận động mà thể hiện một xu
hướng tiến lên. Có thể khẳng định đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn
gốc và động lực của sự phát triển.
3.3. Mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh
Đó là hai mặt tồn tại trong cùng một quá trình giải quyết mâu thuẫn
và có liên quan chặt chẽ với nhau. Thống nhất tạo tiền đề cho đấu tranh. Đấu
tranh phá vỡ thể thống nhất cũ xác lập thể thống nhất mới.
Thống nhất là điều kiện để sự vật tồn tại là chính nó- nhờ có sự thống
nhất của các mặt đối lập mà chúng ta nhận biết được các sự vật, hiện tượng
tồn tại trong thế giới khách quan. Song bản thân sự thống nhất chỉ là tạm thời,
tương đối. Đấu tranh giữa các mặt đối lập mới là tuyệt đối. Nó diễn ra thường
xuyên, liên tục trong suốt quá trình tồn tại của sự vật. Kể cả trong trạng thái
sự vật ổn định cũng như khi chuyển hoá nhảy vọt về chất. Lênin viết: "Sự
doanh dịch vụ, là tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác được
đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn
có và tạo tiềm lực mới cho nền sản suất xã hội.
2. Tầm quan trọng của vốn đầu tư
Bất kì một quốc gia nào muốn tăng trưởng và phát triển đều cần một
điều kiện không thể thiếu được, đó là phải tạo vốn cho nền kinh tế. Việt Nam
cũng nằm trong quy luật đó. Hoạt động đầu tư là chìa khoá cho sự tăng trưởng
và phát triển kinh tế, người ta không thể thực hiện đầu tư mà không có vốn.
Thực tế ở nhiều nước cho thấy: muốn giữ được mức tăng trưởng ổn
định ở mức trung bình khoảng 6% - 7% năm cần phải duy trì mức đầu tư từ
15% - 20% GDP. Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Hàn quốc đạt tốc độ tăng
trưởng kinh tế thần kỳ trong 2-3 thập kỷ gần đây, vì họ đều kiên trì thực hiện
đầu tư cao 30% - 40% so với GDP. Nhiều nước nếu tỷ lệ đầu tư bằng 30%
GDP thì thường đạt tốc độ tăng trưởng 7% - 8% năm. Có thể nói, để đạt tốc
độ tăng trưởng 1% thì tỷ lệ đầu tư phải là 4% GDP. Đối với nước ta, các
chuyên gia kinh tế cho rằng muốn tăng GDP lên gấp 2 lần vào năm 2000 thì
số vốn đầu tư từ 35 - 40 tỷ USD.
Trong văn kiện Đại hội VIII đã chỉ rõ "Cần huy động mọi nguồn vốn
trong và ngoài nước để đầu tư phát triển, trong đó vốn trong nước có ý nghĩa
quyết định, vốn nước ngoài có ý nghĩa quan trọng" cụ thể là:
2.1. Với nguồn vốn đầu tư trong nước :
Trong lịch sử phát triển, các nước phát triển kinh tế cùng dựa trên lí
luận chung là: nếu bản thân nền kinh tế không tiết kiệm nội bộ thì đó là nền
kinh tế "tiêu hao' ăn dần vào của cải, kết cục sẽ đi vào con đường bế tắc cho
sự phát triển.
Đối với pham vi vi mô, cùng với bên ngoài nhất thiết phải có vốn đối
ứng bên trong mới có thể triển khai công trình thuận lợi. Thêm vào đó cần có
vốn để đầu tư vào các công trình như: điện, cấp thoát nước, thông tin, giao
thông và hạ tầng xã hội khác.