LUẬN VĂN:
Phân tích tính tất yếu khách quan, đặc điểm
của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam, và các giải pháp để phát
triển nó ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Lời nói đầu
Trải qua một thời gian dài sau khi dành độc lập, xây dựng đất nước, Nhà
thêm sự giúp đỡ tận tình của các nước xã hội chủ nghĩa cũ mô hình kế hoạch hoá
tập trung đã phát huy được tính ưu việt của nó. Từ một nền kinh tê nông nghiệp
lạc hậu và phân tán bằng công cụ kế hoạch hoá. Ta đã tập trung được vào tay một
lực lượng vật chất quan trọng về đất đai,tài sản, tiền vốn để phát triển ổn định về
kinh tế. Vào những năm đầu của thập kỷ ở miền Bắc đã có những chuyển biến về
kinh tế xã hội. Trong thời kỳ đầu, nền kinh tế tập trung đã tỏ ra phù hợp với nền
kinh tế tự cung tự cấp vốn có của ta lúc đó, đồng thời cũng thích hợp với nền kinh
tế thời chiến lúc đó.
b.Nhược điểm:
Sau ngày giải phóng, miền Nam bức tranh về hiện trạng kinh tế đã thay đổi.
Trong một nền kinh tế cùng một lúc tồn tại cả ba loại hình kinh tế tự cấp tự túc,
nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và kinh tế hàng hoá.
Đó là thực tế khách quan ,tồn tại sau năm 1975, nhưng chúng ta vẫn tiếp tục
chủ chương xây dựng nền kinh tế tập trung theo cơ chế kế hoạch hoá trong phạm
vi cả nước. Do các quan hệ kinh tế đã thay đổi rất nhiều, việc áp dụng cơ chế quản
lý cũ vào điều kinh tế đã thay đổi làm xuất hiện rất nhiều hiện tượng tiêu cực. Do
chủ quan cứng nhắc không cân nhắc tới sự phù hợp của các cơ chế quản lý kinh tế
mà chúng ta đã không quản lý có hiệu quả các nguồn tài nguyên sản xuất của đât
nước,trái lại đã dẫn đến việc sử dụng lãng phí một cách nghiêm trọng các nguồn
tài nguyên đó . Tài nguyên thiên nhiên bị phá hoại, môi trường bị ô nhiễm , sản
xuất kém hiệu quả, nhà nước thực hiện bao cấp tràn lan. Những sự việc đó gây ra
nhiều hậu quả xấu cho nền kinh tế, sự tăng trưởng kinh tế “gặp nhiều khó khăn ,
sản phẩm trở nên khan hiếm, ngân sách bị thâm hụt năng nề, thu nhập từ nền kinh
tế không đủ tiêu dùng, tích luỹ hàng năm hầu như không có. Vốn đầu tư chủ yếu
dựa vào vay ,viện trợ của nước ngoài. Đến cuối nhưng năm 80, giá cả leo thang,
khủng hoảng kinh tế đi liền với lạm phát cao,làm cho đời sống nhân dân bị giảm sút thậm chí một số đại phương nạn đói đang rình dập . Nguyên nhân sâu xa về sự
suy thoái nền kinh tế ở nước ta là do ta đã dập khuôn một mô hình kinh tế chưa
vấn đề môi trường .các hoạt động sản xuất đã gây ra hiện tượng ô nhiễm môi
trường trầm trọng .
Một mặt tiêu cực nữa đó là vấn đề đạo đức ,lối sống trong dân . Ngày nay
do mức sống của con người được nâng cao , con người dễ tiếp xúc đối với những
loại văn hoá độc hại làm ảnh hưởng tới tình trạng đạo đức trong dân
Từ những mặt tích cực và tiêu cực trên ta phải tìm ra những phương pháp
để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực để nền kinh tế
được phát triển toàn diện hơn , từ đó cuộc sống của người dân được nâng cao hơn
mà không bị ảnh hưởng của những mặt tiêu cực.
3. có thể thực hiện được kinh tế thị trường ở nước ta không?
Một điều cần khẳng định rằng, kinh tế thị trường là hoàn toàn có thể thực
hiện được trong Chủ nghĩa xã hội, câu hỏi được trả lời bổi các lý do sau :
a)Kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản.
Kinh tế thị trường là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá, mà kinh
tế hàng hoá đã từng tồn tại trước chủ nghĩa tư bản. Những điều kiện ra đời và tồn
tại của kinh tế hàng hoá, và các trình độ phát triển của kinh tế hàng hoá : kinh tế
hàng hoá giản đơn (kinh tế thị trường sơ khai), kinh tế thị trường tự do, kinh tế thị
trường hiện đại do sự phát triển của lực lượng sản xuất tạo ra. Còn bản chất cố hữu
của chủ nghĩa tư bản là bóc lột lao động làm thuê và bần cùng hoá họ. Kinh tế
hàng hoá không phải là cái do chủ nghĩa tư bản tạo ra, mà là thành tựu văn minh
do con người đã đạt được trong quá trình phát triển sản xuất của mình. Theo C.
Mác, sản xuất và trao đổi hàng hoá là “một nét chung cho những hình thái kinh tế
– xã hội hết sức khác nhau” tức là kinh tế hàng hoá tồn tại trong nhiều hình thái
kinh tế xã hội chứ không phải là đặc trưng riêng của chủ nghĩa tư bản. Vì vậy, không thể cho rằng xây dựng kinh tế thị trường là đồng nghĩa với phát triển chủ
nghĩa tư bản.
b) Kinh tế thị trường là thể chế kinh tế vận hành, nó không phải là cơ sở
kinh tế của một chế độ xã hội.
4.Sự cần thiết khách quan phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Về phương diện kinh tế có thể khái quát rằng, lịch sử phát triển của sản
xuất và đời sống xã hội của nhân loại đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế
thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã
hội, hai thời đại kinh tế khác hẳn nhau về chất. Đó là: thời kinh tế tự nhiên, tự
cung tự cấp; và thời đại kinh tế hàng hoá mà giai đoạn cao của nó được gọi là kinh
tế thị trường.
Kinh tế tự nhiên là kiểu tổ chức kinh tế-xã hội đầu tiên của nhân loại. Đó là
phương thức sinh hoạt kinh tế ở trình độ thấp ban đầu là sử dụng những tăng vật
của tự nhiên và sau đó được thực hiện thông qua những tác động trực tiếp vào tự
nhiên để tạo ra những giá trị sử dụng trong việc duy trì sự sinh tồn của con người.
Nó được bó hẹp trong mối quan hệ tuần hoàn khép kín giữa con người và tự nhiên
kinh tế tự nhiên lấy quan hệ trực tiếp giữa con người và tự nhiên, mà tiêu biểu là
giữa người lao động và đất đai làm nền tảng. Hoạt động kinh tế đó gắn liền với xã
hội sinh tồn, với kinh tế nông nghiệp, tự cung tự cấp. Nó đã tồn tại và thống trị
trong các xã hội cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tuy không
còn giữ địa vị thống trị nhưng vẫn còn tồn tại trong xã hội tư bản cho đến ngày
nay. Kinh tế tự nhiên, hiên vật, sinh tồn, tự cung, tự cấp gắn liền với kém phát
triển và lạc hậu.
Kinh tế hàng hoá, bắt nguồn từ kinh tế hàng hoá đơn giản, ra dời từ khi chế
độ cộng sản nguyên thuỷ tan giã, dựa trên hai tiền đè cơ bản là có sự phân công
lao động xã hội và có sự tách biệt về kinh tế do chế độ sở hữu khác nhau về tư
liệu sản xuất. Chuyển từ kinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp sang kinh tế hàng hóa là
đánh dấu bước chuyển sang thời đại kinh tế của sự phát triển, thời đại văn minh
của nhân loại. Trong lịch sử phát triển của mình, vị thế của kinh tế hàng hoá cũng dần được đổi thay: Từ chỗ như là kiểu tổ chức kinh tế-xã hội không phổ biến,
không hợp thời trong xã hội chiếm hữu nô lệ của những người thợ thủ công và
kinh doanh không ngừng đổi mới, ứng dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật, nâng cao
năng xuất lao động, tiết kiệm chi phí, mở rộng qui mô của sản xuất-kinh donh.
Quá trình hình thành và phát triển kinh tế thị trường là quá trình mở rộng phân
công lao động xã hội, phát triển khoa học-công nghệ mới và ứng dụng chúng vào
thực tiễn sản xuất-kinh doanh. Sự phát triển của KTTT gắn liền với quá trình phát
triển của văn minh nhân loại, của khoa học-kỹ thuật, của lực lượng sản xuất.
Nhiều học giả đã khái quát rằng: Giai đoạn kinh tế hàng hoá giản đơn gắn liền với
nền văn minh nông nghiệp và kỹ thuật thủ công; Giai đoạn kinh tế thị trường hiện
đại gắn liền với nền văn minh trí tuệ, kỹ thuật vi điện tử-tin học
Cho đến cuối những năm 80, về cơ bản, trong nền kinh tế nước ta, sản xuất
nhỏ vẫn còn là phổ biến, trạng thái kinh tế tự nhiên, hiện vật, tự cung, tự cấp còn
chiếm ưu thế. Xã hội Việt Nam, về cơ bản vẫn dựa trên nền tảng của văn minh
nông nghiệp lúa nước, nông dân chiếm đại đa số.Việt Nam vẫn là một nước nghèo
nàn, lạc hậu và kém phát triển. Phát triển trở thành nhiệm vụ mục tiêu số một đối
với toàn đảng, toàn dân ta trong bước đường đi tới. Muốn vậy, phải chuyển toàn
bộ nền kinh tế quốc dân sang trạng thái của sự phát triển, là sự phát triển kinh tế
thị trường, cùng với nó là công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Sự cần thiết tất yếu phải chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN.
Trước sự suy thoái nghiêm trọng, viện trợ nước ngoài lại giảm sút đã đưa
nền kinh tế nước ta tới sự bức bách phải đổi mới. Tại đại hội VI của đảng đã chủ
trương phát triển kinh tế nhiều thành phần và thực hiện chuyển đổi sang cơ chế
hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Đến đại hội VII đảng ta đã xác định việc
đổi mới cơ chế kinh tế nước ta là một tất yếu khách quan và trên thực trạng diễn ra
việc đó tức là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập chung sang nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Đây là một sự thay
đổi về nhận thức có ý nghĩa rất quan trọng trong lý luận cũng như trong thực tế
lãnh đạo của đảng trên mặt trận làm kinh tế. Việc chuyển đổi trên hoàn toàn đúng
mà là tiềm lực kinh tế. Mục đích của các chính sách của các quốc gia tạo được
nhiều của cải vật chất trong quốc gia của mình là tốc độ phát triển kinh tế cao, đời
sống nhân dân được cải thiện, thất nghiệp thấp , tiềm lực kinh tế đã trở thành
thước đo chủ yếu , vai trò và sức mạnh của mỗi dân tộc, là công cụ chủ yếu để bảo
vệ uy tín duy trì sức mạnh của các đảng cầm quyền.
Tuy vậy,nền kinh tế thị trường hướng tới của nước ta sẽ không phải là nền
kinh tế thị trường thuần tuý. Lý thuyết “để mặc” cho thị trường tự do cạnh tranh là
không tồn tại. Ngoài bàn tay “vô hình” , vai trò của chính phủ để điều tiết, khắc
phục những khuyết tật của thị trường tạo cho nền kinh tế ổn định và phát triển. Đói
với nước ta vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường cũng sẽ rất quan
trọng.
Sự phát triển kinh tế –xã hội nào rút cuộc cũng nhằm mục tiêu xãhội , nhân
văn nhất định. Phát triển theo nghĩa đầy đủ là bên cạnh sự gia tăng về lượng (tăng
trưởng kinh tế) còn bao hàm những thay đổi về chất(những biến đổi về mặt xã
hội). “Phát triển là nâng cao phúc lợi của nhân dân. Nâng cao tiêu chuẩn sống và
cải tiến giáo dục, sức khoẻ và bình đẳng về cơ hội là tất cả những yếu tố cơ bản
của phát triển kinh tế. Bảo đảm các quyền chính trị và công dân là một mục tiêu
phát triển rộng hơn ”. Học thuyết về hình thái kinh tế xã hội của C.Mác là một
thành tựu khoa học của loài người. Nó phác hoạ quy luật vận động tổng quát của
lịch sử nhân loại, và sự phát triển của xã hội loài người sẽ tiến tới chủ nghĩa cộng
sản, mà giai đoạn thấp của nó là chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội không đói lập
với phát triển, với kinh tế thị trường, mà là một nấc thang phát triển của loài người
được đánh dấu bằng tiến bộ-xã hội của sự phát triển. Nó là cach thức giải quyết
các quan hệ xã hội vì cuộc sống tốt đẹp của đại đa số nhân dân lao động, của toàn
tể xã hội ,là sự thiết lập một trật tự xã hôi với mục tiêu công bằng văn minh. Sự
phát triển chỉ đem lại sự giàu có và sự thống trị của tư bản, của một số ít người
trong xã hội, thì sự phát triển đó mang tính chất tư bản chủ nghĩa là sự phát triển
cổ điển.Sự phát triển đem lại sự giàu có, phồn vinh , hạnh phúc cho đại đa số nhân
dân lao động cho toàn thể xã hội, thì sự phát triển đó mang tính chất xã hội chủ
khỏi những khủng hoảng, thất bại. Mỗi nền kinh tế đều có chu kỳ hoạt động, phát
triển tức là có sự tăng, giảm GDP.Với vai trò ổn định kinh tế của mình nhà nước làm dịu đi những giao động nên xuống của các chu kỳ kinh doanh. Việc điều tiết
này thông qua các chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ. Do đó với vai trò quản lý
của mình nhà nước đã làm giảm đi tình trạng thất nghiệp và lạm phát. Tuy nhiên
nhà nước cũng không thể điều tiết một cách hoàn hảo cho nên trong nền kinh tế
vẫn có những thất bại của thị trường nhưng nó đã ở mức độ thấp hơn.
Ba là, Đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả. Trong quá trình vận
động của KTTT thì nền kinh tế phải chịu những tác động mà các nhà kinh tế gọi là
các tác động bên ngoài. Các doanh nghiệp vì lợi nhuận của mình nên đã khai thác
quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên gây ô nhiễm môi trường sống của con
người và xã hội. Dựa trên sự quản lý của chính phủ buộc những doanh nghiệp gây
ô nhiễm môi trường phải trả tiền cho những thiệt hại đó. Chính sự can thiệp của
chính phủ đã ngăn chặn những tác động bên ngoài nhằm nâng cao hiệu quả quản
lý. Một nguyên nhân khác cũng làm giảm hiệu quả trong hoạt động của thị trường.
Đó là việc xuất hiện các công ty độc quyền. Do xuất hiện các công ty độc quyền
trên thị trường, các công ty độc quyền họ ép giá trên thị trường gây ra tình trạng
các công ty khác không cạnh tranh được. Do đó làm hạn chế khả năng cạnh tranh
của các doanh nghiệp trên thị trường do đó dẫn tới tình trạnh kinh tế không phát
triển được.
Bốn là, nhà nước phải can thiệp vào phân phối nhằm phân phối công bằng
trong xã hội, bảo vệ những thành phần kinh tế trong quá trình hoạt động kinh tế.
Việc phân phối công bằng sẽ làm cho cuộc sống của người nghèo trong xã hội
được nâng cao.
Một vai trò khác của nhà nước thể hiện ở chức năng quản lý vĩ mô nền
kinh tế. Với sự quản lý của nhà nước thì các nước có một nền kinh tế tăng trưởng
ổn định nhờ các chính sách của nhà nước. Nhà nước đã định hướng cho nền kinh
tế, các thành phần kinh tế hướng đi. Nhà nước trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực
một cách hợp pháp. Nhân có giàu thì nước mới mạnh, bảo đmr độc lập, tự chủ và
toàn vện lãnh thổ của quốc gia.
Thứ hai, nền kinh tế của chúng ta là nền kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần
với vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước trong một số lĩnh vực, một số khâu quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của kinh tế – xã hội của đất
nước. Nền kinh tế hàng hóa, nền kinh tế thị trường phải là một nền kinh tế đa
thành phần, đa hình thức sở hữu. Thế nhưng, nền kinh tế thị trường mà chúng ta sẽ
xây dựng là nền kinh tế thị trường hiện đại, cho nên cần có thamgia bởi bàn tay
“hữu hình” của nhà nước trong việc điều tiết, quản lý nền kinh tế đó. Đồng thời,
chính nó sẽ bảo đảm sự định hướng phát triển của nền kinh tế thị trường. Sự quản
lý, điều tiết, định hướng phát triển nền kinh tế thị trường của nhà nước là thông
qua các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô và vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế
nhà nước. Kinh tế nhà nước phải nắm giữ vai trò ở một số lĩnh vực then chốt, có ý
nghĩa là “đài chỉ huy”, là “mạch máu” của nền kinh tế. Cùng với việc nhấn mạnh
vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, cần coi trọng vai trò của khu vực kinh tế tư
nhân và kinh tế hỗn hợp, đặt chúng trong mối quan hệ gắn bó, hữu cơ, thống
nhất,không tách rời, biệt lập.
Thứ ba, nhà nước quản lý nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là nhà nước của
dân, do dân và vì dân.Thành tố quan trọng mang tính quyết định trong nền kinh tế
thị trường hiện đại là nhà nước tham gia vào các quá trình kinh tế. Nhưng khác với
nhà nước của nhiều nền kinh tế thị trường trên thế giới.Nhà nước ta là nhà nước
“của dân,do dân và vì dân”,nhà nước công nông, nhà nước của đại đa số nhân dân
lao động, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Nó có đủ bản lĩnh,
khả năng và đang tự đổi mới để bảo đảm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa
trong việc phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại ở nước ta. Sự khác biệt về bản
chất nhà nước là môt nội dung và là một điều kiện, một tiền đề cho sự khác biệt về
bản chất của mô hình kinh tế thị trường ở nước ta so với nhiều mô hình kinh tế thị
hội nhấp với nền kinh tế thế giới. Sự mở cửa, hội nhập được thực hiện trên 3 nội
dung chính là: thương mại; đầu tư; và chuyển giao khoa học – công nghệ. Tuy
nhiên, sự mở cửa, hội nhập không có nghĩa là sự hoà tan, đánh mất mình, mà phải
trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của
nền kinh tế, giữ vững độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia.
Thứ sáu, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế đồng thời với việc bảo đảm công
bằng xã hội cũng là một nội dung rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường ở
nước ta. Phát triển trong công bằng và phát triển bền vững là những thuật ngữ phổ biến và là xu thế của thời đại hiện nay. Phát triển trong công bằng được hiểu là
những chính sách phát triển phải bảo đảm sự công bằng xã hội, lừ tạo cho mọi
tầng lớp nhân dân đều có cơ hội tham gia vào quá trình phát triển và được hưởng
với những thành quả tương xứng với sức lực, khả năng và trí tuệ của họ bỏ ra, là
giảm khoảng cách chênh lệch giàu – nghèo giữa các tầng lớp dân cư và giữa các
vùng. Khác với nhiều nước, chúng ta phát triển kinh tế thị trường nhưng chủ
trương bảo đảm công bằng xã hội, thực hịên sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh
tế và công bằng xã hội trong tất cả các giai doạn của sự phát triển kinh tế ở nước
ta. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng, sự bảo đảm công bằng trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hoàn toàn xa lạ và khác hẳn về
chất với chủ nghĩa bình quân, cào bằng thu nhập và “chia đều sự nghèo đói” cho
mọi người. Mức độ bảo đảm công bằng cho xã hội phụ thuộc rất lớn vào sự phát
triển, khả năng và sức mạnh kinh tế của quốc gia. Vì vậy, nếu qúa nhấn mạnh tới
công bằng xã hội trong điều kiện nền kinh tế còn kém phát triển, ngân sách còn co
hẹp, thì chác chắn sẽ làm triệt tiêu động lực phát triển kinh tế – xã hội của đất
nước.
Thứ bảy, giải quyết mối quan hệ giữa lao động và tư bản (vốn), thông qua
phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta, được thực hiệ n theo kết quả lao động là chủ yếu kết hợp với một phần
theo vốn và tài sản. Đây là điểm khác biệt giữa nền kinh tế thị trường trong chủ
+ Cũng có sự bảo hộ của Nhà nước
- Sự khác nhau:
+ Kinh tế thị trường TBCN lấy chế độ tư hữu làm nền tảng, thì kinh tế thị
trường xã hội chủ nghĩa dựa trên ché độ công hữu
+ Trong mô hình kinh tế thị trường TBCN, các thành phần kinh tế tồn tại
biệt lập, cạnh tranh, liên kết loại trừ nhau thì ngược lại trong kinh tế thị trường
định hội chủ nghĩa chúng không tồn tại đối lập, không loại trừ nhau mà hợp tác đi
lên chủ nghĩa xã hội thông qua kinh tế hợp tác.
+ Mục rtiêu của chủ nghĩa tư bản là lợi cho các nhà tư sản, thì chủ nghĩa xã
hội có mục tiêu cho toàn xã hội. + chính quyền của CNTB là chính quyền của giai cấp tư sản, còn chính
quyền của CNXH là chính quyền của nhân dân.
+ Sự phân cực trong xã hội của CNTB lớn hơn, rõ ràng hơn, chủ nghĩa xã
hội quan tâm tới công bằng xã hội.
Iii:Các giải pháp để xây dựng phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn qua 15 năm đổi mới. Tuy
vậy cũng cần phải có những phương hướng để phát triển nền kinh tế của nước ta
trong giai đoạn hiện nay – giai đoạn hội nhập mở cửa với các nước trên thế giới.
Những phương hướng cụ thể đó là:
a)Định hướng phát triển nông nghiệp và nông thôn.
Chuyển đổi nhanh chóng cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn,
xây dựng các vùng sản xuất hàng hoá chuyên canh phù hợp với tiềm năng và lợi
thế về khí hậu, đất đai và lao động của từng vùng, từng địa phương. ứng dụng
nhanh chóng khoa học và công nghệ vào sản xuất, nhất là ứng dụng công nghệ
sinh học; gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến; gắn sản xuất với thị truờng
tiêu thụ; hình thành sự liên kết nông nghiệp – công nghiệp – dich vụ ngay trên địa
bàn nông thôn.
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia
đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp với nhiều qui mô, nhiều trình độ; chú trọng
các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phù hợp định hướng chung và lợi thế của từng vùng.
b) Định hướng phát triển các ngành dịch vụ.
Đa dạng hoá các ngành dịch vụ, mở rộng thị trường tiêu dùng các sản phẩm
dịch vụ, đáp ứng tôtd nhu cầu phát triển kinh tế và đời sống xã hội. Phát triển
thương mại, cả nội thương và ngoại thương, bảo đảm hàng hoá lưu thông thông
suốt trong thị trường nội địa và giao lưu buôn bán với nước ngoài. Chú trọng công tác tiếp thị và mở rộng thị trường nông thôn, thị trường miền núi, tạo liên kết chặt
chẽ giữa các vùng trong nước. Phát triển và đa dạng hoá các loại hình và các điểm
du lịch sinh thái, du lịch văn hoá. . . hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.
c) Định hướng phát triển kinh tế đối ngoại.
Tăng nhanh tổng kinh ngạch xuất khẩu, bảo đảm nhập khẩu những vật
tư, thiết bị chủ yếu có tác động tích cực đến sản xuất kinh doanh. Tạo thị trường
ổn định cho một số loại mặt hàng nông sản, thực phẩm và hàng công nghiệp có
khả năng cạnh tranh, tìm kiếm các thị trường cho mặt hàng xuất khẩu mới.
Đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Khuyến khích đầu
tư nước ngoài vào các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp
chế biến, các ngành công nghệ cao, vật liệu mới, điện tử phát triển kết cấu hạ tầng
kinh tế, xã hội và các ngành mà nước ta có lợi thế.
d) Định hướng phát triến giáo dục và đào tạo.
Tiếp tục quán triệt quan điểm giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu và tạo
sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục và đào tạo. triển khai
thực hiện có hiệu quả luật giáo dục đào tạo. Định hình qui mô giáo dục đào tạo,
điều chỉnh cơ cấu đào tạo, nhất là cơ cấu cấp học, ngành nghề và cơ cấu theo lãnh
thổ phù hợp với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển nền kinh tế
xã hội. Nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên các cấp.
Thực tế sau 15 năm đổi mới đã chứng minh phát triển nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là hoàn toàn đúng đắn.
Qua 15 năm đổi mới, thực hiện đường lối do Đảng ta đề xướng. Đất nước ta
– dân tộc ta đã thu được những thành tựu to lớn cả về kinh tế và xã hội. Kinh tế
thoát khỏi khủng hoảng triền miên hàng chục năm qua và bước đầu thờ kì phátt
riển toàn diện và tăng trưởng liên tục. Tốc độ tăng GDP bình quân một năm của
thời kỳ 1996 đến năm 2000 đạt 7% so với 3,9% thời kỳ 1986 – 1990. Lạm phát
giảm từ 774,6% năm 1986 xuống còn 67,4% năm 1990; 12,7% năm 1995; 0,1% năm 1999; 0% năm 2000. Sản xuất công nghiệp tăng trưởng liên tục với tốc độ
trên 2 con số. Bình quân thời kỳ 1991 – 1995 tăng 13,7%, thời kỳ 1996 – 2000
trên 13,2%. Mức bình quân đầu người của nhiều sản phẩm công nghiệp như điện,
than, vải, thép, xi măng, , tăng nhanh hơn trong những năm đổi mới, đáp ứng tốt
hơn nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân, xuất khẩu. Riêng ngành công nghiệp
khai thác dầu khí, xuất hiện trong thời kỳ đổi mới với sản lượng 40 ngàn tấn dầu
thô năm 1986 đã tăng lên 15 triệu tấn năm 2000 với giá trị xuất khẩu 3,3 tỉ USD.
Không chỉ tăng trưởng cao mà sản xuất công nghiệp những năm cuối thế kỷ XX
đã xuất hiện xu hướng đa ngành, đa sản phẩm và đa thành phần, trong đó công
nghiệp quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo.
Nông nghiệp phát triển toàn diện cả về trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng,
nghề thuỷ sản. Thành tựu nổi bật nhất là đã giải qyết vững chắc an toàn lương thực
quốc gia, biến Việt Nam từ nước thiếu lương thực trước năm 1989 thành nước
xuất khẩu gạo thứ 2 trên thế giới. Tính trung 12 năm qua, nước ta đã xuất khẩu
30,5 triệu tấn gạo, bình quân 2,54 triệu tấn/năm nhưng thị trường và giá cả lương
thực trong nước vẫn ổ định, kể cả những năm gặp thiên tai lớn như năm 1999,
2000. Tốc độ tăng sản lượng lương thực bình quân 5%/năm, cao hơn tốc độ tăng
dân số (1,8%) nên lương thực bình quân đầu người từ 280 kg năm 1987 tăng lên
450 kg năm 2000. Các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam vừa tăng nhanh
về số lượng vừa tăng nhanh về chất lượng nên ngày càng có uy tín trên thị trường
Thuỷ, cầu Sông Gianh, Quán Hàu, cầu Mỹ Thuận – một kỳ quan của khu vực
Đông Nam á, nâng cấp quốc lộ 1A, quốc lộ 5, quốc lộ 18, cùng nhiều sân bay, bến
cảng đã và đang được nâng cấp và hiện đại hoá. Cùng với các cơ sở vật chất, kỹ
thuật của chủ nghĩa xã hội phục vụ sản xuất là hàng loạt các công trình phúc lợi
phục vụ đời sống nhân dân như bệnh viện, trạm y tế, trường học, nhà ở cho người
nghèo, nhà tình nghĩa Đến năm 2000, điện lưới quốc gia phủ 98% số huyện,
70% số xã và 98% số hộ thành thị, 60% số hộ nông thôn. Hệ thống đường giao
thông, bưu điện được xây dựng mới và nân gcấp đang vươn tới mọi miền đất
nước, kể cả vùng sâu, vùng xa. Thu nhập và đời sống nhân dân ngày càng được
cải thiện cả về vật chất và tinh thần. Thu nhập của dân cư tăng bình quân 10%
trong 15 năm đổi mới và năm 1999 đạt 295 nghìn đồng/người/tháng, tăng 30% so
với năm 1996. Số hộ giàu tăng lên và đến nay đã đạt trên 10%, số hộ nghèo giảm xuống, từ trên 51% trong thập niên 80 xuống còn 13,3% năm 1999 và 11% năm
2000. văn hoá, y tế và giáo dục được nhà nước quan tâm và đầu tư thoả đáng. Đến
nay, cả nước đã hoàn thành chương trình xoá mù chữ và hoàn thành phổ cập tiểu
học. Năm 2001-2002 có 25 triệu học sinh các cấp, cứ 3 người dân có 1 người đi
học, 100% số xã có trạm y tế, 40% số xã có bác sĩ
Thành tựu 15 năm đổi mới đã khẳng định sự sáng suốt của Đảng và tính ưu
việt của kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do vậy một lần nữa
ta khẳng định lại phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là
hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với tình hình cụ thể và thực tế của thời đại ngày
nay.
Nhận xét: Tuy kinh tế thị trường có nhiều ưu điểm, song nó cũng tồn tại rất
nhiều khuyết điểm:
- Về môi trường: nó làm tăng lượng khí CO2 trong không khí, thải vào môi
trường sống một lượng chất thải khổng lồ, môi trường bị ô nhiễm, sức khoẻ y tế
cộng đồng bị ảnh hưởng đòi hỏi phải có chi phí tốn kém cho việc khắc phục nó.