Luận văn: Thương mại và các biện pháp phát triển thương mại trong giai đoạn hiện nay - Pdf 11

1
Luận văn
Thương mại và các biện
pháp phát triển thương mại
trong giai đoạn hiện nay
2
LỜI MỞ ĐẦU
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao
cấp sang cơ chế thị trường có sự điểu tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, chúng ta đã giành được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh
vực kinh tế - chính trị - xã hội. Bức tranh kinh tế - xã hội ngày càng sáng sủa
lên, nó phản ánh diện mạo của nền kinh tế. Trên lĩnh vực kinh tế tốc độ tăng
trưởng tương đối cao và ổn định, thu nhập bình quân đầu người không ngừng
tăng lên, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện. Trên lĩnh vực chính trị -
xã hội cũng có nhiều chuyển biến tích cực. Để đạt được điều đó, chúng ta không
thể không kể đến vai trò của ngành kinh tế khác nói chung. Thương mại cùng
với các ngành khác làm thay đổi cơ bản diện mạo của nền kinh tế. Với nỗ lực
của mình thương mại ngày càng đóng góp đáng kể vào kết quả của nền kinh tế.
Điều này được thể hiện ngay trong giai đoạn hiện nay.
Cùng với quá trình quốc tế hoá hiện nay, thương mại càng nổi lên như một
ngành không thể thiếu được, đóng vai trò là ngành dẫn đầu tham gia vào quá
trình hội nhập. Tuy nhiên, ngành thương mại nước ta còn tồn tại nhiều hạn chế,
nhược điểm. Chưa thực sự giữ được vai trò dẫn dắt các ngành khác trong quá
trình chuyển đổi. Vì vậy để khắc phục nhược điểm, phát huy những mặt tích
cực, chúng ta phải không ngừng cải thiện để hoàn thiện chính sách thương mại
để nó phát huy được vai trò của nó, một công cụ quan trọng để phát triển kinh tế.
Trên cơ sở nghiên cứu vấn đề này, cộng với vốn kiến thức đã được học
đồng thời nhằm ngày càng hoàn thiện vấn đề này em đã mạnh dạn lựa chọn đề

sản xuất xã hội và là một trong những động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế
và tiến bộ khoa học kỹ thuật. Phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản
xuất đã đặt ra sự cần thiết phải trao đổi sản phẩm trong xã hội giữa các chủ thể
với nhau.
Như vậy thương mại là quá trình trao đổi, mua bán hàng hoá dịch vụ trên
thị trường.
Còn sản xuất thì còn trao đổi. Quá trình trao đổi hàng hoá diễn ra lâu dài
trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Thoạt đầu trao đổi hàng hoá diễn
ra trực tiếp hàng lấy hàng (trao đổi hiện vật). Hình thức này có nhiều hạn chế về
không gian thời gian và về các chủ thể trao đổi. Thị trường và thương mại xuất
hiện mở ra bước ngoặt xoá đi những hạn chế đó, đồng thời thúc đẩy sản xuất
hàng hoá phát triển. Đặc biệt khi tiền tệ tham gia và quá trình lưu thông hàng
hoá thì trao đổi hiện vật không còn tồn tại nữa. Tiền tệ có mặt trong lưu thông
4
làm cho quá trình trao đổi nhanh hơn, thúc đẩy quy mô sản xuất tăng lên và đời
sống nhân dân được nâng cao.
2-/ Nguyên nhân hình thành thương mại.
Để tồn tại và phát triển, con người cần phải thoả mãn nhiều nhu cầu khác
nhau. Mà muốn thoả mãn những nhu cầu đó thì không còn con đường nào khác
là phải thông qua sản xuất, trao đổi mặt khác trong xã hội, do sự phân công lao
động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất cũng dẫn đến trao đổi hàng hoá giữa
các cá thể với nhau. Thật vậy khi có sự phân công lao động và chuyên môn hoá
sản xuất thì mỗi người chỉ sản xuất một, một vài sản phẩm, trong khi đó nhu cầu
của họ lại cần nhiều hàng hoá. Vì vậy để đáp ứng nhu cầu của mình thì họ phải
trao đổi hàng hoá với nhau. Như vậy trao đổi xuất hiện, lúc đầu cần đơn giản
trao đổi hiện vật, đặc biệt là nền kinh tế thị trường hiện đại. Khi tiền tệ tham gia
vào quá trình lưu thông. Như vậy phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá
sản xuất, tính chất sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sản phẩm đầu ra là
nguồn gốc để hình thành thương mại.
3-/ Quan điểm về thương mại.

nền kinh tế nước ta với nền kinh tế thế giới.
- Nhiệm vụ của thương mại: Huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực
đầu tư và lĩnh vực thương mại; đáp ứng tốt nhất mọi nhu cầu của sản xuất và đời
sống về các hàng hoá dịch vụ, góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội
quan trọng của đất nước; không ngừng hoàn thiện bộ máy quản lý kinh doanh.
b, Đặc trưng của thương mại trong nền kinh tế thị trường.
Trong cơ chế thị trường, mọi hoạt động của nền kinh tế đều vận động theo
những quy luật nhất định nào đó. Thương mại cũng không nằm ngoài sự vận
động chung đó. Trong thương mại mọi hoạt động đều diễn ra theo quy luật mua
để bán rồi lại tiếp tục bán để mua. Cứ như thế mua - bán là vòng chu chuyển
khép kín của thương mại. Vì vậy thương mại đã nổi lên với những đặc trưng cơ
bản của nó, những đặc trưng này có thể được xem xét với những khía cạnh sau:
- Trong thương mại, mọi hoạt động đều diễn ra một cách tự do bình đẳng,
tức là mọi người đều được tự do mua bán, tự do trao đổi hàng hoá trên cơ sở
nguyên tắc ngang giá chung. Người ta có quyền mua cái gì người ta thích, bán
cái gì mà người ta có.
Như vậy trong quá trình mua - bán diễn hai thái cực trái ngược nhau đó là
người mua bao giờ cũng muốn mua hàng hoá tốt nhưng giá phải rẻ còn người
bán thì luôn mong muốn bán với giá cao. Đây là xu hướng biến động cung - cầu
trong mọi nền kinh tế là không loại trừ cả nền kinh tế thị trường. Quy luật tự do
mua bán, tự do lưu thông đã tồn tại từ lâu nhưng nó càng khẳng định vai trò rõ
rệt trong nền kinh tế thị trường. Ở nước ta, trong giai đoạn kinh tế như hiện nay,
6
với chủ trương phát triển một nền kinh tế thị trường có nhiều thành phần thì vấn
để tự do kinh doanh, tự do mua bán lại càng được Đảng và Nhà nước ta khẳng
định và tiếp tục thừa nhận. Nhưng tự do kinh doanh phải đi đôi với việc tuân thủ
pháp luật. Và đây chính là đặc trưng thứ hai của thương mại.
- Hoạt động thương mại phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật:
Theo điều 57 Hiến pháp năm 1992 của nước ta thì “ Mọi cá nhân, tổ chức
đều được tự do thành lập doanh nghiệp nhưng phải nằm trong khuôn khổ của

liên quan tới việc điều hành và vận chuyển hàng hoá, dịch vụ từ sản xuất đến
tiêu dùng nhằm đạt hiệu quả tối đa. Quá trình này giải quyết các vấn đề: thay đổi
quyền sở hữu tài sản, di chuyển hàng dự trữ, bảo quản đóng gói, bốc dỡ và cung
cấp thông tin thị trường cho nhà sản xuất, tránh rủi ro trong kinh doanh.
d, Vị trí và vai trò của thương mại trong nền kinh tế thị trường.
- Vị trí: thương mại có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường ở
nước ta. Trước hết thương mại là một bộ phận hợp thành của tái sản xuất.
Thương mại nối liền giữa sản xuất với tiêu dùng. Dòng vận động của sản phẩm
hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng phải thông qua khâu phân phối và
trao đổi. Thì chính thương mại đã bao gồm cả hai khâu này. Ở vị trí cấu thành
của tái sản xuất, thương mại được coi như là hệ thống dẫn lưu, tạo ra sự liên tục
của quá trình tái sản xuất. Khâu này bị ách tắc sẽ dẫn tới sự khủng hoảng của
sản xuất và tiêu dùng. Sản xuất hàng hoá với mục đích là để thoả mãn nhu cầu
của người tiêu dùng để trao đổi, mua bán hàng hoá và để thực hiện được mục
đích này khi và chỉ khi phải thông qua thương mại. Thứ ba là thương mại là lĩnh
vực kinh doanh, thu hút trí lực và tiền vốn của các nhà đầu tư để thu lợi nhuận.
Bởi vậy kinh doanh thương mại đã trở thành ngành sản xuất vật chất thứ hai
theo như nhận xét của một số nhà kinh tế thì thương mại là một ngành sản xuất
đặc biệt.
- Vai trò của thương mại: Thương mại đã được coi là công cụ quan trọng,
một mũi nhọn đột kích phá vỡ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp để
chuyển sang cơ chế thị trường.
Thứ nhất, thương mại thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, chấn hưng các
quan hệ hàng hoá tiền tệ. Hoạt động mua bán tạo ra động lực kích thích người
sản xuất không ngừng gia tăng khối lượng sản phẩm của mình, thúc đẩy phân
công lao động xã hội, tổ chức lại sản xuất, hình thành nên các vùng chuyên môn
hoá lớn. Phát triển thương mại cũng có nghĩa là phát triển các quan hệ hàng hoá
tiền tệ. Đó là con đường ngắn nhất để chuyển từ sản xuất tự nhiên thành sản xuất
hàng hoá.
Thứ hai, thương mại kích thích sự phát triển của lực lượng sản xuất, kích

Thứ nhất, trên lĩnh vực mua bán hàng hoá, chúng ta đã chuyển việc mua
bán hàng hoá từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang mua bán theo cơ chế thị
trường, giá cả được hình thành trên cơ sở giá trị và quan hệ cung cầu. Trong
thương mại nói chung là không còn tình trạng ép giá đầu ra, nâng giá đầu vào,
Nhà nước không chi phối hoàn toàn giá cả trên thị trường mà chỉ tác động vào
thị trường bằng những công cụ điều tiết của mình để cho thị trường tự điều tiết
lấy, tự bình ổn lấy. Thêm vào đó, do đời sống của người dân có nhiều cải thiện,
được nâng cao nên sức mua trên thị trường tăng lên đáng kể. Tính đến năm
1999, tổng mức luân chuyển hàng hoá bán lẻ xã hội ước đạt 195 ngàn tỷ đồng,
9
tăng khoảng 6% so với năm 1998 (184 ngàn tỷ đồng), nếu loại trừ yếu tố giá thì
chỉ tăng khoảng 1,5%, đây là năm có tốc độ tăng thấp nhất trong giai đoạn 1991-
1999. Thông thường, ở nước ta tốc độ tăng trưởng GDP năm 1999 là 4,8% thì
lưu chuyển hàng hoá bán lẻ phải tăng ở mức thấp nhất là 10% mới tương xứng.
Vậy mà nếu tốc độ lưu chuyển hàng hoá là 6% thì vấn đề đặt ra cho tổng cung,
tổng cầu là một vấn đề đáng lưu ý.
Giá cả nói chung trong những năm qua không có nhiều biến động, phù hợp
với thu nhập của người dân, ngày càng đáp ứng được nhu cầu của sản xuất và
tiêu dùng. Nếu như trước kia, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao
cấp, giá cả nói riêng và toàn bộ các hoạt động mua bán trao đổi đều do Nhà
nước chi phối quyết định dẫn đến tình trạng cung không đáp ứng nổi cầu, sản
xuất cầm chừng, lãi giả lỗ thật, việc hạch toán sản xuất kinh doanh thực hiện
theo chế độ hạch toán kinh tế. Thì bây giờ trong cơ chế thị trường, Nhà nước
cho phép các thành phần kinh tế tự do sản xuất kinh doanh, do vậy vấn đề đặt ra
là phải làm thế nào để giảm mức tối đa chi phí đầu vào thì từ đó mới có được lợi
nhuận. Do đó, các doanh nghiệp phải chuyển sang hạch toán theo chế độ hạch
toán kinh doanh, giá cả được hình thành trên cơ sở giá trị, phần lớn là các doanh
nghiệp phải chấp nhận giá thị trường. Chính điều này đã trở thành động lực cho
kinh tế phát triển, tạo bước chuyển lớn về mặt kinh tế xã hội ở nước ta trong
những năm qua.

Thứ hai, giá một số mặt hàng chủ lực của nước ta trên thị trường thế giới
tăng nhanh. Cơ cấu hàng xuất khẩu ngày càng phong phú, nhiều mặt hàng xuất
khẩu của ta đã có mặt trên nhiều thị trường khu vực và thế giới và ngày càng
khẳng định được chỗ đứng của mình. Những mặt hàng chủ lực có thể kể đến là
gạo, cà phê, dầu thô, hàng dệt may, giày dép, thuỷ sản Đây là những mặt hàng
xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam. Trong những năm tới, để tăng nhanh tốc độ
xuất khẩu thì Nhà nước phải chú trọng quan tâm nhiều đến cơ cấu của những
mặt hàng này, có như thế mới đạt được những mục tiêu đã đề ra cho những năm
sau này.
Cơ cấu xuất nhập khẩu được mô tả thông qua bảng số liệu sau:
BẢNG 1 - CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN TỔNG TRỊ GIÁ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU
10 NĂM (1990-1999).
(Đơn vị %)
Năm Xuất khẩu

Nhập khẩu

Năm Xuất khẩu

Nhập khẩu

1990 123,5

107,3

1995 134,4

140,0

1991 86,8


11

12
BẢNG 2 - XUẤT NHẬP KHẨU QUA CÁC NĂM.
1995 1996 1997 1998
Tăng giảm so
với 97 (%)
Xuất khẩu
5.448.9

7.255,9

9.269

9.356- DN có vốn ĐTNNXK trực tiếp 440,1

786,0

1,790

1,990

11,2

+ Hạt điều


696

781

850

8,8

+ Hàng dệt, may 850

1.150

1.349

1350

0,1

+ Giày dép các loại 296,4

530

965

960

- 0,5

+ Hàng thủ công mỹ nghệ 66,0


2.902

2.646

- 17,2

- Máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế

2.168

1.777

2004

12,8

- Hoá chất

193

216

236

9,3

- Tân dược 69,1

206


chim 65,8% v tng 8,3%; nhúm hng tiờu dựng t 0,6 t USD, chim 5,2%
v gim 29,4% so vi nm 1998.
Nhp siờu l khong 113 triu USD, chim 1% tng kim ngch xut khu,
bng 5,2% mc nhp siờu nm 1998.
- V th trng: Trong nhng nm i mi va qua, thc hin ch trng
a dng hoỏ, a phng hoỏ cỏc quan h kinh t i ngoi cng thờm nhng n
lc to ln ca ng v nhõn dõn ta, ó gúp phn vo vic m rng th trng
xut nhp khu ca nc ta. Tớnh n ht thỏng 11/ 1999 chỳng ta ó cú quan h
mua bỏn vi tt c cỏc chõu lc: , c, u, M v Phi. Trong ú chõu vn l
th trng ng u vi kim ngch chim 59% tng kim ngch xut khu ca c
nc. Sau cuc khng hong chõu ang trờn hi phc v phỏt trin nờn
xut khu sang cỏc khu vc ny tng, c bit xut khu sang cỏc nc Hn
Quc, Thỏi Lan, Trung Quc, Malaysia, Lo, Nht v Philippin tng trung bỡnh
t 18 - 35% so vi nm 1998. Quan h buụn bỏn gia nc ta vi cỏc nc khỏc
ngy cng xit cht, vi phng chõm Vit Nam mun lm bn vi tt c cỏc
nc trờn th gii thỡ chỳng ta ó, ang v s ngy cng cú nhiu i tỏc lm
n, buụn bỏn hn. Theo thụng bỏo ca B Thng mi thỡ c cu xut khu ca
Vit Nam tớnh n 11/ 1999 l:
i vi th trng trong nc, sau hn 10 nm i mi, th trng ó
chuyn t trng thỏi chia ct khộp kớn theo a gii hnh chớnh kiu t cp t
tỳc sang t do lu thụng theo quy lut kinh t th trng v theo phỏp lut. Vi
s tham gia ca nhiu thnh phn kinh t bc u ó huy ng c cỏc tim
nng v vn, k thut vo lu thụng hng hoỏ, lm cho th trng trong nc
phỏt trin, sc mua ca ngi dõn tng lờn, tng mc lu chuyn hng hoỏ xó
hi khụng ngng tng lờn. Hu ht cỏc mt hng ch lc u ỏp ng c
nhng nhu cu c bn ca sn xut v tiờu dựng trờn th trng xó hi, Giỏ c
cỏc loi vt t, vt liu xõy dng v hu ht cỏc loi hng tiờu dựng v c bn l
6%
26%
3%

cực học tập, nâng cao trình độ có thể đối tác trong điều kiện quốc tế hoá các
quan hệ kinh tế.
Thứ bảy là hoạt động thương nghiệp đã góp phần đảm bảo các nhu cầu về
vật tư, hàng hoá cho nền kinh tế quốc dân, quốc phòng và đời sống nhân dân.
Hàng hoá trong nước phong phú, giá cả tương đối ổn định, lạm phát được kiềm
chế, ngày càng có nhiều mặt hàng Việt Nam có mặt trên thị trường thế giới.
Thương nghiệp góp phần tích cực vào việc phát triển sản xuất, phân công lao
động xã hội, thúc đẩy các ngành đổi mới công nghệ, cải tiến cơ cấu sản xuất,
nâng cao chất lượng sản phẩm, làm cho sản xuất từng bước gắn với nhu cầu thị
trường bước đầu phát huy được lợi thế so sánh giữa các vùng, các miền, giữa thị
trường nước ta với thị trường thế giới, tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế, cải
thiện đời sống nhân dân.
Đạt được những thành tự bước đầu rất quan trọng này là do có đường lối và
chính sách đổi mới đúng đắn của Đảng và Nhà nước, sự nỗ lực phấn đấu của các
15
ngành, các cấp, tinh thần khắc phục khó khăn, hoạt động năng động của các
doanh nghiệp, gắn liền với sự chuyển biến tích cực của toàn bộ nền kinh tế.
2-/ Những hạn chế của hoạt động thương mại trong thời gian qua.
Bên cạnh những thành tựu và kết quả đã đạt được, thương mại nước ta vẫn
còn tồn tại nhiều yếu kém, thiếu sót, phát sinh những vấn đề phức tạp mới, cần
có chủ trương và biện pháp giải quyết đúng đắn nhằm đảm bảo định hướng của
sự phát triển, phát huy những mặt tích cực và hạn chế, giảm thiểu mức tối đa
những mặt yếu kém. Có thể kể đến những yếu kém khuyết điểm đó như sau:
- Thứ nhất, thị trường hàng hoá và số lượng doanh nghiệp bung ra kinh
doanh phát triển với tốc độ nhanh, nhưng mang nặng tính tự phát. Nếu thương
nghiệp về cơ bản vẫn là một nền thương nghiệp nhỏ, tổ chức phân tán, manh
mún, buôn bán theo kiểu chụp giựt qua nhiều tầng nấc, dẫn đến tình trạng ép giá
đầu vào, nâng giá đầu ra ở thị trường trong nước, bị chèn ép ở thị trường nước
ngoài. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước là phát triển nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần, trong những năm qua số lượng các doanh nghiệp tổ

không những không suy giảm mà ngày càng trầm trọng. Về mặt chủ trương
chính sách có lúc xem nhẹ thị trường trong nước hơn thị trường nước ngoài.
Tình trạng kinh doanh không đăng ký, không chấp hành chế độ hoá đơn chứng
từ, trốn thuế, cạnh tranh không lành mạnh còn diễn ra ở nhiều nơi. Trình độ văn
minh thương nghiệp, tiêu chuẩn vệ sinh trong kinh doanh ăn uống và thực phẩm
thấp. Hoạt động quảng cáo thương mại cũng như thị trường văn hoá phẩm chưa
được quản lý tốt, gây tác hại đến đạo đức lối sống, ảnh hưởng xấu đến thuần
phong mỹ tục.
- Thứ ba là quản lý Nhà nước về thương nghiệp còn nhiều yếu kém, không
ít tiêu cực. Chỉ đạo xuất nhập khẩu và điều hành thị trường có khuyết điểm và
thiếu sót, tổ chức thu thập và xử lý thông tin để dự báo các động thái của thị
trường chưa tốt, không kịp thời, bị tư thương lợi dụng đầu cơ tăng giá. Chưa hỗ
trợ đúng mức cho phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu, thay thế nhập khẩu
những mặt hàng mà trong nước sản xuất có hiệu quả. Chưa làm tốt việc điều tiết
và hướng dẫn tiêu dùng, thực hiện chính sách tiết kiệm cho đầu tư phát triển, tạo
ra năng lực mới, thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh và bền vững của toàn bộ nền
kinh tế. Vấn đề này được xem xét một cách cụ thể như sau:
+ Thứ nhất, hoạt động thương mại mang nặng tính tự phát còn nhiều thiếu
sót về vai trò của Sở Thương mại trong việc giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo
phát triển các mặt hàng xuất khẩu, phát triển thị trường nông thôn, miền núi, thị
trường nước ngoài. Sở chưa giúp nhiều được cho các doanh nghiệp chưa có cac
biện pháp hữu hiệu tổ chức sản xuất kinh doanh quản lý vốn, quản lý lao động,
ưl doanh nghiệp, mở rộng thị trường - Vai trò của Sở đối với các doanh nghiệp
thường là hướng dẫn, nhắc nhở, góp ý thực chất Sở không có vai trò chỉ đạo
điều hành cho nên mối quan hệ giữa Sở với các doanh nghiệp lỏng lẻo, kém hiệu
lực, vai trò của Sở ngày càng lu mờ. Các đối tượng này còn nhiều lúng túng và
bất cập - Việc hướng dẫn, kiểm tra nắm bắt tình hình xử lý các vi phạm của các
đối tượng ngoài quốc doanh còn hạn chế.
17
+ Thứ hai là mặc dù Đảng và Nhà nước ta vẫn đưa ra phương hướng phát

Mỹ. Bên cạnh đó việc triển khai một số thủ tục theo quy định mới của Nhà nước
về xuất, nhập khẩu còn gây phiền hà cho các doanh nghiệp do một số quy định
thiếu rõ ràng và chưa cụ thể, luật thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh
nghiệp mới được áp đụng nên các cơ quan quản lý Nhà nước còn nhiều lúng
túng. Luật thuế mới ra đời nhưng đã phải diều chỉnh liên tục, phương pháp thu
18
thuế và hoàn thành thuế còn nhiều bất cập đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là
các doanh nghiệp thương mại Nhà nước.
Thứ năm là hợp tác xã mua bán không được quan tâm giúp đỡ để đổi mới,
hầu hết bị tan rã, thị trường nông thôn phần lớn do tư thương chi phối.
3-/ Nguyên nhân của những hạn chế đó.
Sở dĩ trong thời gian qua, hoạt động thương mại nước ta còn tồn tại nhiều
khuyết điểm, yếu kém hạn chế sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế,
ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ công nông, quan hệ thành thị nông thôn, dẫn
đến sự tiến bộ và công bằng xã hội là do những nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Thứ nhất quá trìh chuyển đổi nền kinh tế đã gây ra những khó khăn và mât
cân đối lớn trong nền kinh tế, tính phức tạp của quá trình chuyển đổi và sự bất
cập trong việc xây dựng, hoàn thiện thể chế Nhà nước, nhưng về mặt chủ quan
chủ yếu là do:
- Bộ Chính trị, Ban bí thư chưa kịp thời ban hành những nghị quyết, chỉ thị
hướng dẫn để đổi mới và phát triển định hướng hoạt động thương nghiệp tròn cơ
chế mới.
- Nhận thức về cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo đinh
hướng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn đầu chuyển đổi còn nhiều lúng túng, còn
những lệch lạc, kiến thức và năng lực quản lý điều hành còn yếu. Từ đó có sơ
hở, không đồng bộ và thiếu nhất quán trong việc hoạch định chính sách vĩ mô
trong quản lý và phát triển thương nghiệp.
- Xử lý chưa đúng mối quan hệ giữa kế hoạch và thị trường, giữa chức
năng quản lý Nhà nước và quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy,
vừa chưa phát huy đầy đủ vai trò của Nhà nước đối với lĩnh vực phân phối lưu

vai trò lãnh đạo của nó, đặc biệt là trong giai đoạn quốc tế hoá như hiện nay, thì
Đảng và Nhà nước ta trên cơ sở thực tiễn đã phân tích những mặt tốt và những
mặt yếu kém của nó đã đưa ra các giải pháp nhằm ngày càng hoàn thiện các
chính sách thương mại.
20
PHẦN II
NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI NƯỚC
TA TRONG THỜI GIAN TỚI
I-/ Mục tiêu phát triển kinh tế của nước ta trong thời gian tới.
Phát triển kinh tế là một trong những chiến lược lâu dài và quan trọng nhất
đối với bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới. Nó bao trùm lên toàn bộ nền kinh
tế. Vì vậy xác định mục tiêu phát triển kinh tế là một vấn đề có tính chất chiến
lược, sống còn đối với đất nước ta. Trên cơ sở nhận thức vấn đề này, Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VIII, Ban chấp hành Trung Ương Đảng đã đưa ra mục
tiêu phát triển kinh tế của nước ta trong giai đoạn hiện nay và cả trong những
năm tới như sau:
Thứ nhất là thực hiện đồng thời 3 mục tiêu về kinh tế: tăng trưởng cao, bền
vững và có hiệu quả; ổn định vững chắc kinh tế vĩ mô; chuẩn bị các tiền đề cho
bước phát triển cao hơn sau năm 2000 chủ yếu là phát triển nguồn nhân lực,
khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, hoàn thiện thể chế.
Thứ hai là tiếp tục thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy mọi nguồn lực để phát triển
lực lượng sản xuất đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Đổi mới
căn bản tổ chức và quản lý, nâng cao hiệu quả khu vực kinh tế Nhà nước để phát
huy vai trò chỉ đạo. Đổi mới và phát triển đa dạng các hình thức kinh tế hợp tác
từ thấp đến cao, triển khai thực hiện luật hợp tác xã. Mở rộng các hình thức liên
doanh, liên kết giữa kinh tế Nhà nước với kinh tế tư nhân trong và ngoài nước,
phát huy khả năng của kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân. Xác lập, củng cố
và nâng cao địa vị làm chủ của người lao động trong nền sản xuất xã hội.

trên những lĩnh vực, địa bàn và mặt hàng quan trọng.
Mở rộng thị trường ngoài nứoc gắn với việc phát triển ổn định thị trường
trong nước, lấy thị trường trong nước làm cơ sở, đặt hiệu quả kinh doanh thương
nghiệp trong hiệu quả kinh tế - xã hội của toàn bộ nền kinh tế.
Đặt sự phát triển của lưu thông hàng hoá và hoạt động của các doanh
nghiệp dưới sự quản lý của Nhà nước; khuyến khích, phát huy mặt tích cực,
đồng thời có biện pháp hạn chế các mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm
tăng trưởng kinh tế đi đôi tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước phát
triển.
2-/ Những biện pháp chủ yếu.
2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, các cơ chế, chính sách và công cụ
quản lý.
22
Xây dựng và ban hành luật Thương mại nhằm điều chỉnh mọi việc mua
bán, lưu thông hàng hoá và các hoạt động dịch vụ trên thị trường. Đồng thời xây
dựng đồng bộ hệ thống pháp luật các chính sách thị trường, bao gồm chính sách
giá cả, các định chế về thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh, về kiểm
tra, kiểm soát ban hành quy chế đại lý nhằm thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế
và ban hành các kênh lưu thông.
Chấn chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu theo hướng khuyến khích mạnh xuất
khẩu, đáp ứng nhu cầu nhập khẩu vật tư cho sản xuất, hàng tiêu dùng thiết yếu
cho đời sống, bảo đảm cân đối cung - cầu, ổn định giá cả. Hết sức tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu, tạo điều kiện rộng rãi
cho các thành phần kinh tế tham gia trực tiếp kinh doanh xuất nhập khẩu tát cả
các mặt hàng xuất khẩu. Xoá bỏ cơ chế xin - cho mà quản lý, điều hành theo
pháp luật. Điều gì pháp luật không cấm làm thì phải được tự do kinh doanh theo
đúng nghĩa của nó, chứ không nên để tình trạng gây khó khăn, phiền hà, dẫn tới
xin - cho dưới mọi hình thức. Quản lý chặt chẽ và điều hành công tác nhập khẩu
phối hợp tốt với các ngành sản xuất, các cơ quan chức năng góp phần giữ vững
các cân đối lớn của nền kinh tế quốc dân, ngăn ngừa và khắc phục các cơn sốt

văn minh thương nghiệp.
Phát huy vai trò phát luồng hàng, khả năng định hướng và điều tiết thị
trường xã hội trong khu vực của thị trường đô thị, đặc biệt là các trung tâm
thương mại lớn. Thị trường đô thị được tổ chức theo nhiều quy mô và cấp độ
khác nhau, toạ điều kiện hình thành các Công ty lớn có khả năng tích tụ và tsập
trung vốn, liên kết chặt chẽ với sản xuất, đầu tư vào sản xuất, thực hiện kinh
doanh theo phương thức tiên tiến, làm đầu tàu hiện đại hoá ngành thương mại.
Bố trí hợp lý các chợ trung tâm là nơi phát luồng hàng, phát triển mạng lưới bán
lẻ đa dạng.
Phát triển mạng lưới thương mại ở nông thôn, lấy chợ và các cụm kinh tế
thương mại dịch vụ ở thị trấn làm mô hình chủ yếu. Thúc đẩy việc hình thành
các cơ sở sơ chế, phân loại đóng gói, bảo quản gắn với các cửa hàng mua bán tư
liệu sản xuất, vật tư nông nghiệp nông sản thực phẩm, hàng tiêu dùng của
thương nghiệp Nhà nước, hợp tác xã mua bán và của các thành phần kinh tế
khác tại các cụm kinh tế thương mại dịch vụ. Tạo lập các quan hệ liên kết lâu
dài, ổn định giữa sản xuất và thương nghiệp, qua đó thúc đẩy sản xuất mở rộng
thị trường, bảo đảm ổn định lưu thông và giá cả một số mặt hàng thiết yếu.
2.4. Phát triển các hình thức kinh tế hợp tác trong lĩnh vực thương mại
và dịch vụ:
Tổng kết thực trạng hợp tác xã mua bán trong những năm qua phát hiện mô
hình tốt mới xuất hiện. Chính Phủ quy định các chính sách cụ thể áp dụng cho
loại hình thương mại dịch vụ. Trên cơ sở đó, chỉ đạo việc củng cố và xây dựng
mới các hợp tác xã mua bán, trước hết là ở địa bàn nông thôn.
24
2.5. Tổ chức và hướng dẫn các thành phần kinh tế khác kinh doanh
thương mại:
Phát huy vai trò tích cực của các thành phần kinh tế khác trong việc mở
rộng thị trường, phát triển giao lưu hàng hoá tổ chức hướng dẫn các thành phần
kinh tế này kinh doanh theo đúng pháp luật, chấp hành nghiêm chỉnh chính sách
thuế, các quy định về đăng ký kinh doanh, chế độ kế toán, hoá đơn chứng từ.

mại. Thị trường ngoài nước là quan trọng đối với xuất khẩu của mọi quốc gia
trong xu thế hội nhập hiện nay nhưng không bao giờ thị trường nước ngoài có
thể thay thế thị trường trong nước nhất là đối với nền kinh tế thị trường chưa
phát triển của nước ta hiện nay. Ngành thương mại phải luôn chăm lo thị trường
trong nước, thị trường trong nước phải là địa bàn hoạt động của các doanh
nghiệp, các thành phần kinh tế, Nhà nước phải tạo ra các sân chơi bình đẳng đó,
cho các doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng, hợp pháp trên thị trường.
2.8. Đấu tranh chống buôn lậu và các hành vi kinh doanh trái phép.
Đề cao trách nhiệm của cấp uỷ đảng và chính quyền ở các ngành các cấp từ
trung ương đến cơ sở trong tổ chức và chỉ đạo đấu tranh chống buôn lậu, làm
hàng giả, gian dối thương mại và mọi biểu hiện của hiện tượng độc quyền. Sử
dụng các biện pháp đồng bộ kiên quyết để ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn này. Kiện
toàn lực lượng làm công tác chống buôn lậu, làm hàng giả tổ chức tốt sự phối
hợp giữa các lực lượng để nâng cao hiệu quả hoạt động. Thường xuyên kiểm tra,
kiểm soát việc chấp hành chính sách, pháp luật, các quy định về đăng ký kinh
doanh, về hoá đơn chứng từ, sổ sách kế toán ở các doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế.
2.9. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực thương mại.
Hoàn thiện sự lãnh đạo của các ban cán sự, các cấp uỷ đảng trong các cơ
quan quản lý Nhà nước về thương mại. Củng cố tổ chức quản lý cán bộ, nâng
cao sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ và tổ chức đảng cơ sở ở các
tổng công ty, công ty trong việc xác định phương hướng kinh doanh, ngăn chặn
và đáu tranh với các biểu hiện tiêu cực về quan điểm, tư tưởng và đạo đức trong
doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả và vai trò chủ đạo của thương nghiệp
Nhà nước trên thị trường.
Chấn chỉnh hoạt động của các tổ chức đảng trong các xí nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài, các đơn vị thuộc các thành phần kinh tế khác, bảo đảm sự lãnh
đạo của Đảng đối với các tổ chức quần chúng cán bộ công nhân viên chức, giám
sát việc chấp hành luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và của người lao động.
Thực hiện đúng nguyên tắc Đảng thống nhất và lãnh đạo và quản lý công tác cán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status