LUẬN VĂN: Đảng bộ tỉnh sơn la lãnh đạo công tác di dân,
tái định cư trong giai đoạn hiện nay Mở ĐầU
năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”[17, tr.3].
Xây dựng công trình Thuỷ điện này là vận hội to lớn có tính lịch sử đối với các tỉnh Tây
Bắc nói chung và tỉnh Sơn La nói riêng; là thời cơ lớn để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sắp xếp lại lao động dân cư, đẩy nhanh
tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, sớm đưa Sơn La ra khỏi tình trạng tỉnh đặc biệt khó
khăn, tạo lập các yếu tố cơ bản để phát triển nhanh hơn và bền vững trong những năm
tiếp theo.
Theo thiết kế, Thủy điện Sơn La là công trình thủy điện lớn nhất Việt Nam, đồng
thời là công trình thủy điện lớn nhất Đông Nam á, xây dựng công trình này phải tiến hành
công cuộc di dân, tái định cư có tổ chức lớn nhất ở nước ta cho tới thời điểm hiện nay.
Xây dựng công trình Thủy điện Sơn La đặt ra cho tỉnh Sơn La yêu cầu, nhiệm vụ mới, to
lớn và có tính lịch sử, vừa là thời cơ lớn nhưng cũng có rất nhiều khó khăn, thách thức
đã, đang và sẽ tác động mạnh đến nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đang trong
tình trạng một tỉnh đặc biệt khó khăn. Cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh công tác xóa đói
giảm nghèo cho 88.279 hộ nghèo (chiếm 46,03% theo tiêu chí mới), tỉnh Sơn La phải tổ
chức công tác di dân, tái định cư đến năm 2010 cho 12.479 hộ dân, đảm bảo di dân đến
nơi ở mới an toàn, đúng tiến độ thi công xây dựng công trình; từng bước ổn định sản
xuất, đời sống để người dân đến nơi ở mới có điều kiện sản xuất và đời sống tốt hơn nơi
ở cũ.
Di dân, tái định cư là nhiệm vụ mới, quan trọng, toàn diện và nhạy cảm, liên quan
đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội của tỉnh, như: đất
đai, phong tục, tập quán, tư tưởng, nhận thức, tâm lý dân tộc, môi sinh, môi trường, chế
độ chính sách, đời sống, sản xuất, kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, an ninh, quốc
phòng, trật tự an toàn xã hội Vì thế, công tác vận động di dân, tái định cư Thủy điện
Sơn La có vị trí đặc biệt quan trọng. Nhiệm vụ này phải bảo đảm thực hiện thống nhất,
đúng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác di dân, tái
định cư. Nội dung và phương pháp tổ chức thực hiện phải phù hợp với tâm lý và nhận
thức của đồng bào, để mỗi người dân hiểu sâu sắc về tầm quan trọng và sự hỗ trợ to lớn
của Đảng và Nhà nước, lợi ích của đất nước, của tỉnh Sơn La và của đông đảo nhân dân
- Nghị quyết số 27-NQ/TU ngày 17/9/2004 của Ban Thường vụ tỉnh ủy về lãnh
đạo công tác bồi thường di dân tái định cư Thủy điện Sơn La.
- Quyết định số 57/2005/QĐ-UB ngày 9/5/2005 của ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La
về việc ban hành Cơ chế quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện dự án tái định cư Thủy
điện Sơn La.
2.2. Sách
- “Tỉnh Sơn La 110 năm 1895 – 2005”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, do
Ban Thường vụ tỉnh ủy Sơn La chỉ đạo biên soạn. Các tác giả đã tập trung giới thiệu
những đặc điểm về địa lý, tự nhiên và các dân tộc anh em trên mảnh đất Sơn La và một
số hoạt động kinh tế - xã hội khởi sắc trong những năm thực hiện đường lối đổi mới.
- “Sơn La thế và lực mới trong thế kỷ XXI” của Thào Xuân Sùng (chủ biên), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008. Các tác giả đã giới thiệu những đặc điểm, tiềm năng,
thế mạnh của Sơn La và các định hướng lớn trong phát triển kinh tế - xã hội cũng như các
ngành, lĩnh vực quan trọng của tỉnh Sơn La.
- “Sau 4 năm thực hiện tái định cư Thuỷ điện Sơn La”, chuyên đề của Đài Tiếng nói
Việt Nam ra ngày 19/11/2007. Chuyên đề đánh giá kết quả công tác đầu tư xây dựng dự án
thành phần tại các khu, điểm tái định cư dự án Thuỷ điện Sơn La giai đoạn I (2003-2007).
Tỉnh Sơn La đã phê duyệt quy hoạch chi tiết các khu, điểm tái định cư đáp ứng việc bố trí
dân cư di chuyển theo kế hoạch.
-“Nhà máy thủy điện Sơn La và công cuộc di dân, tái định cư” của Ban chỉ đạo
Dự án bồi thường di dân, tái định cư tỉnh Sơn La. Nhà xuất bản Thương mại, Hà Nội,
12/2006. Cuốn sách đã nêu vị trí, tầm quan trọng và những lợi ích của việc xây dựng
công trình Thủy điện Sơn La. Đặc biệt, cuốn sách còn tổng hợp các văn bản chỉ đạo của
Đảng, Nhà nước và của Đảng bộ tỉnh Sơn La từ năm 2002 - 2006. Trong đó, chỉ rõ quan
điểm, mục tiêu, nhiệm vụ cũng như trách nhiệm của các ban, ngành, đoàn thể ở cơ sở về
phối hợp thực hiện công tác di dân, tái định cư Thủy điện Sơn La.
2.3. Các bài báo, báo cáo và tạp chí
- “Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải kiểm tra tiến độ xây dựng công trình thủy
đối với Sơn La về công tác di dân, tái định cư, để công trình hoàn thành đúng tiến độ cần
có sự đầu tư động viên kịp thời không chỉ cho công trình mà đồng thời cả công tác di
dân, tái định cư. - “Ngày xuân 2009 trên đại công trường” của hai tác giả Ngọc Lan và Thu Cúc,
đăng trên báo Lao động ra ngày 23/1/2009. Hai tác giả đã phản ánh không khí lao động
khẩn trương của công nhân Công trường nhà máy Thủy điện Sơn La, bằng tinh thần trách
nhiệm cao của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công nhân các hạng mục công trình sẽ đáp ứng
yêu cầu tiến độ phát điện tổ máy số 1 vào năm 2010.
- “Di dân tái định cư giải pháp nào?” của nhóm phóng viên Quốc phòng - An
ninh, đăng trên Báo Quân đội nhân dân, số ra ngày 30/9/2007. Bài viết chỉ ra những
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc giải ngân chậm trễ dự án tái định cư thủy điện Sơn
La là do trách nhiệm và năng lực của cán bộ yếu, công tác thẩm định, phê duyệt quy
hoạch chi tiết dự án tái định cư chậm. Tác giả kiến nghị phải mở rộng dân chủ, tạo điều
kiện thuận lợi cho người dân tham gia giám sát các khâu, các bước trong quy trình đầu
tư xây dựng các dự án.
- “Công các vận động di dân, tái định cư dự án Thuỷ điện Sơn La tại huyện Yên
Châu kết quả bước đầu và bài học, kinh nghiệm”, Báo cáo điển hình về kết quả công tác
vận động di dân, tái định cư tại huyện Yên Châu, 1 trong 10 điểm tái định cư của Đảng
bộ tỉnh Sơn La. Báo cáo đã phản ánh các bước triển khai thích hợp, sự tham gia của các
đoàn thể - chính trị xã hội trong công tác vận động di dân, tái định cư từ năm 2008 đến
năm 2009 tại một đảng bộ huyện điển hình
Nhìn chung, các công trình, bài viết nêu trên đã phản ánh bức tranh sinh động về
tiến độ thi công công trình Thủy điện Sơn La, tiến độ di dân, tái định cư tại các vùng, các
điểm tái định cư, cuộc sống trên quê mới của đồng bào các dân tộc và sự quan tâm đặc
biệt của Đảng và Nhà nước đối với Sơn La. Các công trình, bài viết trên đã đề cập đến
nhiều nội dung phong phú, ở nhiều góc độ phục vụ cho mục đích của mình. Tuy nhiên,
đến nay chưa có công trình, bài viết nào đề cập một cách có hệ thống về sự lãnh đạo của
Đảng bộ tỉnh Sơn La đối với công tác di dân, tái định cư trong giai đoạn hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là quá trình lãnh đạo công tác di dân, tái định
cư của Đảng bộ tỉnh Sơn La, trong đó luận văn tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Tỉnh
uỷ và các huyện uỷ ở các huyện nằm trong chương trình, kế hoạch di dân tái định cư
Thủy điện Sơn La, bao gồm cả nhân dân ở điểm đi và nhân dân ở điểm đến từ năm 2005
đến nay. 5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận và thực tiễn:
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về
Đảng và xây dựng Đảng, trong đó có những tư tưởng, quan điểm về công tác vận động
quần chúng. Vận dụng các quan điểm, tư tưởng đó vào thực tiễn lãnh đạo công tác di dân,
tái định cư của Đảng bộ tỉnh Sơn La trong giai đoạn hiện nay.
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp phương pháp lôgic và lịch sử; phân tích và tổng hợp; tổng kết
thực tiễn, khảo sát, thống kê, so sánh, đối chiếu
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần xây dựng cơ sở lý luận về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn
La đối với công tác di dân, tái định cư trong giai đoạn hiện nay.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng nhằm phục vụ trực tiếp
công tác lãnh đạo, chỉ đạo, công tác tuyên truyền, vận động di dân, tái định cư của các
cấp uỷ đảng thuộc Đảng bộ tỉnh Sơn La; đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận văn có
thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cấp uỷ đảng ở các địa phương khác
trong quá trình lãnh đạo công tác di dân, tái định cư.
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, học tập ở các ban xây
dựng Đảng của tỉnh ủy, trường chính trị tỉnh, trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, các
đoàn thể chính trị - xã hội ở các vùng tái định cư Thủy điện Sơn La.
7. Kết cấu của luận văn
Cùng với các tỉnh Hoà Bình, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La là mái nhà xanh của Đồng
bằng Bắc Bộ, với diện tích gần một triệu ha đất rừng đã và đang có vai trò to lớn về môi
sinh, phòng hộ đầu nguồn Sông Đà, điều tiết nguồn nước cho công trình Thuỷ điện Hoà
Bình và công trình Thuỷ điện Sơn La.
Đặc điểm khí hậu: Với vị trí địa lý cùng độ cao địa hình tạo nên những nét chung
và riêng của khí hậu Sơn La, bên cạnh đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa chí tuyến của
miền khí hậu Bắc Bộ, khí hậu Sơn La còn có những nét đặc thù. Đặc trưng khí hậu mùa
hè ở Sơn La là cán cân bức xạ lớn, nắng nhiều, nhiệt độ cao, mưa nhiều và phần lớn là
mưa dông. ảnh hưởng của bão dẫn đến mưa lớn nên độ ẩm khá cao. Gió Tây khô nóng thịnh hành suốt mùa hè, gây nhiều tác hại nhưng lại góp phần hạn chế sự tàn phá của gió
bão. Mùa hè kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, nóng nhất là tháng 6 và tháng 7. Như vậy,
thuộc tính khí hậu Sơn La là sự trùng hợp giữa mùa nóng và mùa mưa, sự phong phú về
điều kiện nhiệt ẩm của mùa hè, đôi khi dẫn đến tình trạng nắng hạn gay gắt hoặc lũ lụt.
Sự trùng hợp giữa mùa lạnh với mùa khô - đặc trưng bằng sự nghèo về điều kiện nhiệt,
điều kiện ẩm, nhiều khi dẫn đến tình trạng rét hại và khô kéo dài.
Đặc điểm tài nguyên: Sơn La có tiềm năng rất lớn về tài nguyên nước với 35
suối lớn; 2 sông lớn là sông Đà dài 280 km với 32 phụ lưu và sông Mã dài 90 km với
17 phụ lưu; 7.900 ha mặt nước hồ Hoà Bình và 1.400 ha mặt nước ao hồ. Mật độ sông
suối 1,8km/km
2
nhưng phân bố không đều, sông suối có độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh
do địa hình núi cao, chia cắt sâu. Dòng chảy biến đổi theo mùa, biên độ dao động giữa
mùa mưa và mùa khô khá lớn. Mùa lũ thường diễn ra từ tháng 6 đến tháng 10 trong
năm nhưng diễn ra sớm hơn ở các nhánh thượng lưu và muộn hơn ở hạ lưu. Có đến 65
- 80% tổng lượng dòng chảy trong năm tập trung trong mùa lũ này. Việc khai thác thế
mạnh tài nguyên nước phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội là cần thiết và
cấp bách. Chính vì vậy, Sơn La có lợi thế rất lớn về tiềm năng Thuỷ điện.
Đặc điểm hành chính lãnh thổ: Tỉnh Sơn La có 1 thành phố, 10 huyện, 206 xã,
2
.
Huyện Mai Sơn nằm ở phía Tây Nam của tỉnh, có 1 thị trấn Hát Lót và 20 xã.
Huyện Mai Sơn có tổng diện tích tự nhiên 1.410 km
2
. Dân số: 123.442 người với mật độ
dân số 88 người/km
2
.
Huyện Mường La nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh, có 1 thị trấn và 16 xã. Huyện
Mường La có tổng diện tích tự nhiên 1.408 km
2
. Dân số: 78.023 người với mật độ dân số
55 người/km
2
.
Huyện Yên Châu nằm ở phía Nam của tỉnh, có 1 thị trấn và 14 xã. Huyện Yên
Châu có tổng diện tích tự nhiên 844 km
2
. Dân số: 63.049 người với mật độ dân số 75
người/km
2
.
Huyện Thuận Châu nằm ở phía Bắc của tỉnh, có 1 thị trấn, 28 xã. Huyện Thuận
Châu có tổng diện tích tự nhiên 1.535 km
2
. Dân số: 133.656 người với mật độ dân số 87
người/km
2
.
đới, nhiệt đới, á nhiệt đới với quy mô trên 30.000 ha.
Một trong những đặc điểm nổi bật về kinh tế của tỉnh Sơn La đó là tài nguyên
đất dồi dào, đặc điểm này rất thuận lợi cho công tác di dân, tái định cư nội tỉnh. Diện tích
tự nhiên toàn tỉnh 1.412.500 ha, trong đó đất đang được sử dụng là 753.520 ha (chiếm
53,3% đất tự nhiên), so với cả nước tỷ lệ này là 97%, vùng Trung du miền núi phía Bắc
là 56,14%. Diện tích đất đang sử dụng sẽ có thay đổi khi Thuỷ điện Sơn La hoàn thành
vào năm 2015. Theo tính toán, Sơn La có 3 huyện bị ngập, tổng diện tích bị ngập khoảng
13.730 ha, trong đó có 6.321 ha đất nông nghiệp, đất rừng 2.451 ha, đất chưa sử dụng
7.214 ha. Như vậy, đến nay đất chưa sử dụng và sông suối trong toàn tỉnh còn rất lớn:
651.980 ha, chiếm 46,1% diện tích tự nhiên.
Sơn La còn có tiềm năng để phát triển du lịch do có nhiều danh lam thắng cảnh,
hang động kỳ thú, các mỏ suối nước khoáng nóng, vùng hồ sông Đà, các di tích lịch sử
cách mạng như bảo tàng nhà tù Sơn La, văn bia Lê Thánh Tông, hang Chi Đảy có thể kết
hợp với các tỉnh bạn để phát triển du lịch tổng hợp, nhất là vùng cao nguyên Mộc Châu
có khí hậu mát mẻ giống như Đà Lạt.
Sơn La là tỉnh có diện tích rừng và đất có khả năng phát triển lâm nghiệp khá lớn
(chiếm 73% diện tích tự nhiên), đất đai phù hợp với nhiều loại cây, có điều kiện xây dựng
hệ thống rừng phòng hộ và tạo các vùng rừng kinh tế hàng hoá có giá trị cao. Rừng Sơn
La có nhiều thực vật quý hiếm, có các khu đặc dụng có giá trị đối với nghiên cứu khoa
học và phục vụ du lịch sinh thái trong tương lai. Hiện nay, diện tích rừng của Sơn La là
480.057 ha, trong đó rừng tự nhiên là 439.592 ha, rừng trồng 41.047 ha. Độ che phủ rừng
đạt khoảng 40%, tỷ lệ này còn thấp so với yêu cầu - nhất là đối với một tỉnh có độ dốc
lớn, mưa tập trung theo mùa, lại có vị trí là mái nhà phòng hộ cho đồng bằng Bắc Bộ,
điều chỉnh nguồn nước cho Thuỷ điện Hoà Bình.
Với đặc điểm kinh tế đó, Sơn La có nhiều tiềm năng để phát triển song lại thiếu
nhiều nhân lực qua đào tạo để khai thác những tiềm năng, thế mạnh một cách có kế
hoạch như việc xây dựng các nhà máy, xí nghiệp lớn để công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, lâm nghiệp và dịch vụ. Đặc điểm này đòi hỏi cùng với việc tiến hành công
Đời sống của nhân dân các dân tộc còn nhiều khó khăn, công tác chăm sóc sức khỏe
chưa thực sự tốt, ở nhiều xã chưa có bác sĩ, bệnh viện cấp huyện thiếu phương tiện
khám chữa bệnh hiện đại, vẫn còn nhiều tập tục hủ tục lạc hậu trong nề nếp lối sống
của một bộ phận dân cư như di canh di cư tự do, tái trồng cây thuốc phiện, mê tín dị
đoan, học và truyền đạo trái pháp luật, bảo thủ chưa hòa nhập với đời sống văn hóa mới
tiến bộ.
Chính vì vậy, khi chủ trương của các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước về di dân,
tái định cư đến với các cộng đồng đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tư tưởng, tình
cảm và tâm lý của đồng bào, không ít người đã không muốn chấp nhận rời bỏ quê hương,
bản quán đã cư trú từ lâu đời đến nơi ở mới, nhất là việc di dân ngoại huyện. Hầu hết bà
con chỉ muốn di vén tại huyện hoặc xã nơi đã và đang cư trú. Phong tục tập tập quán
cũng như các mối quan hệ giữa các cộng đồng giữa các bản, giữa các xã trong một huyện
rất bền chặt từ lâu đời, nó được ràng buộc bởi các quan hệ dòng họ, hôn nhân, huyết
thống, dòng tộc, gia đình, quan hệ kinh tế Song song đó là các nề nếp, tập quán quan hệ
sản xuất gắn bó với thiên nhiên tại nơi ở cũ, đời sống của đồng bào các dân tộc hầu hết
đều đã định cư lâu đời, làm ăn sinh sống trên vùng đất ven sông, ven suối có tập quán sản
xuất, sinh hoạt văn hoá hàng trăm năm không dễ chấp nhận một cuộc sống tại nơi ở mới.
Đặc điểm quốc phòng, an ninh:
Sơn La là tỉnh miền núi biên giới phía Tây Bắc của Tổ quốc có chung 250 km
đường biên giới với hai tỉnh Hủa Phăn và Luông Pha Băng của nước bạn Lào, trong đó
có 24 cột mốc quốc giới, hai cửa khẩu quốc gia và 7 trạm kiểm soát tiểu ngạch thuộc địa
bàn 19 xã của 5 huyện. Nhìn trên bản đồ, Sơn La là vùng đất phên dậu của Tổ quốc, giữ
vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng - an ninh. Những năm qua, tình hình khu vực
biên giới của tỉnh diễn biến khá phức tạp. Các hoạt động di dịch cư tự do, xuất nhập cảnh
trái phép, truyền và học đạo trái pháp luật, tranh chấp đất đai, mâu thuẫn dòng họ, tái
trồng cây thuốc phiện và buôn bán, vận chuyển trái phép chất ma túy qua biên giới ngày
càng gia tăng. Do tác động của những luận điệu tuyên truyền, lôi kéo từ phía ngoại biên,
một số đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã nội địa và các xã biên giới bị kẻ xấu lợi dụng
móc nối, lôi kéo đã vượt biên trái phép sang Lào tham gia vào các hoạt động gây rối,
tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Tiêu biểu là cuộc nổi dậy hưởng ứng nghĩa quân
Lường Xám (1914), nghĩa quân Pa Chay (1918) đánh Tây… Tuy các phong trào cuối
cùng đều bị đàn áp, thất bại, song đã thể hiện tinh thần yêu nước, ý chí quật cường của
nhân dân, thể hiện tình đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc, tạo thành sức mạnh to lớn, cùng
đứng lên chống kẻ thù xâm lược.
Để tăng cường đàn áp cách mạng, uy hiếp nhân dân, thực dân Pháp đã mở rộng
hàng loạt nhà tù, bắt giữ và giết hại hàng vạn chiến sĩ cách mạng và quần chúng yêu
nước. Nhà tù Sơn La được chúng đổi tiên thành Ngục Sơn La. Trong những năm 1930 -
1935, thực dân Pháp liên tiếp đày lên đây 6 đoàn tù với tổng số 436 người; từ cuối năm
1939 đến cuối năm 1942, thực dân Pháp tiếp tục đày 7 đoàn tù chính trị lên, trong đó đa
số là tù chính trị, nhiều đồng chí là ủy viên Trung ương, xứ ủy viên, tỉnh ủy viên như:
Trịnh Đình Cửu, Trường Chinh, Lê Duẩn, Trần Văn Lan, Khuất Duy Tiến, Nguyễn
Lương Bằng, Đặng Việt Châu, Phạm Quang Lịch
Xuất phát từ yêu cầu phải thống nhất chỉ đạo hoạt động, đấu tranh trong nhà tù,
cuối tháng 12/1939, một số đảng viên trong nhà ngục đã bí mật triệu tập hội nghị để thảo
luận việc thành lập chi bộ đảng. Chi bộ lâm thời được thành lập gồm 10 đồng chí, đồng
chí Nguyễn Lương Bằng được cử làm Bí thư. Tháng 2/1940, chi bộ lâm thời được
chuyển thành chi bộ chính thức, đồng chí Trần Huy Liệu được cử làm Bí thư, đồng chí
Tô Hiệu được cử làm chi uỷ viên. Tháng 5/1940, Chi uỷ đã triệu tập Đại hội chi bộ để
thảo luận, quyết định các chủ trương công tác. Đồng chí Tô Hiệu được bầu làm Bí thư chi
bộ. Ban chi ủy có các đồng chí: Tô Hiệu, Trần Huy Liệu, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Trần
Quốc Hoàn, Lê Thanh Nghị. Sự ra đời của chi bộ nhà ngục Sơn La đánh dấu một bước
ngoặt mới trong cuộc đấu tranh của tù chính trị ở Sơn La; đồng thời, đánh dấu một giai
đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng ở Sơn La. Đây là chi bộ cộng sản đầu tiên
ở Sơn La, vì thời kỳ này toàn tỉnh chưa có đảng viên và tổ chức cơ sở đảng. Chi bộ nhà
ngục Sơn La ra đời đã thực sự trở thành cơ quan tổ chức, xây dựng cơ sở, lãnh chỉ đạo
phong trào cách mạng ở địa phương, tạo tiền đề quan trọng cho sự ra đời của Đảng bộ
Sơn La sau này.
củng cố xây dựng cơ sở, xây dựng thành công các lực lượng vũ trang và cơ sở chính trị, đẩy mạnh chiến tranh du kích, kết hợp chặt chẽ chiến tranh du kích với tác chiến của bộ
đội chủ lực, bộ đội địa phương, tạo ra sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, ngăn
chặn có hiệu quả các cuộc tiến công lấn chiếm của địch, bảo vệ và phát triển khu căn cứ
kháng chiến. Trong chiến dịch Tây Bắc và chiến dịch Điện Biên Phủ, quân và dân Sơn
La đã đóng góp một phần không nhỏ xương máu và vật chất cho chiến dịch toàn thắng. ở
khắp nơi, bộ đội địa phương và dân quân du kích đều đi phục vụ chiến đấu và sát cánh
tác chiến cùng bộ đội chủ lực, trực tiếp tham gia thu dọn chiến trường, phục vụ cáng
thương, tiếp lương, tải đạn cho bộ đội chủ lực truy kích địch.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc, Sơn La vững vàng vừa
sản xuất, vừa chiến đấu góp phần đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc
Mỹ, bảo vệ vững chắc quê hương, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong nội
địa và biên giới; đồng thời dốc sức người, sức của chi viện cho cách mạng miền Nam và Lào
giành thắng lợi hoàn toàn.
Sau khi đất nước thống nhất, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Chính
phủ, Sơn La luôn coi trọng việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao tinh thần giác ngộ cách
mạng và ý thức đoàn kết giữa các dân tộc, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với
phát triển văn hóa - xã hội, nâng cao dân trí, đào tạo bồi dưỡng và sử dụng cán bộ dân tộc
thiểu số. Từng bước làm cho đồng bào các dân tộc miền núi thay đổi nếp sống du canh,
du cư, tập tục lạc hậu, thực hiện định canh, định cư, có cuộc sống ổn định, hăng hái lao
động sản xuất, hướng tới đời sống ấm no, nếp sống văn hóa mới, miền núi tiến kịp miền
xuôi, dân tộc thiểu số bình đẳng với dân tộc đa số, kề vai sát cánh xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc.
Trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh,
Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La đã phát huy truyền thống đoàn kết, ý chí tự
lực, tự cường, chủ động, sáng tạo, được sự quan tâm giúp đỡ có hiệu quả của Trung ương
Đảng, Chính phủ, các Bộ, Ngành, đoàn thể ở Trung ương và các tỉnh bạn, tỉnh Sơn La đã
hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, đảm bảo chất lượng công việc.
Đội ngũ cán bộ cơ sở của tỉnh đang từng bước được xây dựng và củng cố theo
hướng chuẩn hoá. Những năm qua, thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Sơn La lần thứ XI và XII về
công tác xây dựng Đảng, Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 12/7/2002 của Ban Thường vụ
tỉnh uỷ về quy hoạch, đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ theo tiêu chuẩn từng chức danh
cán bộ xã, phường, thị trấn, đội ngũ cán bộ cơ sở cấp xã từng bước củng cố và tăng
cường theo hướng chuẩn hoá, trẻ hoá, chất lượng đội ngũ cán bộ có bước chuyển biến
tích cực, cơ cấu ngày càng hợp lý hơn.
Tuy nhiên, chất lượng cán bộ lãnh đạo của cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể, nhất là
cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp xã còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp
đổi mới. Trình độ chuyên môn của cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn còn thấp. Trong
tổng số 1.120 cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn: có 34 đồng chí trình độ đại học; 7
đồng chí trình độ cao đẳng; 152 đồng chí trình độ trung cấp; 85 đồng chí trình độ sơ cấp;
842 đồng chí chưa qua đào tạo về chuyên môn (chiếm 75,17%). Trong tổng số 478 cán
bộ chủ chốt thuộc 90 xã đặc biệt khó khăn có: 5 đồng chí trình độ đại học; 3 đồng chí
trình độ cao đẳng; 29 đồng chí trình độ trung cấp; 13 đồng chí trình độ sơ cấp; 428 đồng
chí (chiếm 89,54%), chưa qua đào tạo về chuyên môn.
Thực tiễn trên đòi hỏi Đảng bộ tỉnh phải tiếp tục thực hiện tốt công tác quy
hoạch, luân chuyển, điều động, đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ, nâng cao trình độ
chuyên môn, chính trị và năng lực công tác của đội ngũ cán bộ cơ sở, góp phần thực hiện
thắng lợi nhiệm vụ chính trị của tỉnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, hội nhập kinh tế quốc tế.
1.1.2. Khái quát về chủ trương, kế hoạch xây dựng Thủy điện Sơn La và
những vấn đề đặt ra đối với Đảng bộ tỉnh Sơn La trong lãnh đạo công tác di dân, tái
định cư
1.1.2.1. Khái quát về chủ trương, kế hoạch xây dựng Thuỷ điện Sơn La
Dự án Nhà máy Thủy điện Sơn La được Nhà nước ta đặt ra từ những năm 60 và
thủy điện trên sông Đà gồm ba bậc: Hòa Bình - Sơn La và Lai Châu (tại điểm Nậm
Nhùn); quy mô công trình ở mức nước dâng bình thường trong khoảng 210 m - 215 m và
phải bảo đảm được các yêu cầu Quốc hội đã nêu. Bộ Chính trị yêu cầu Chính phủ tiếp tục
hoàn chỉnh phương án tái định cư, nhằm mục tiêu tạo điều kiện để đồng bào tái định cư
sớm ổn định được chỗ ở, cuộc sống, sản xuất, tiến lên thay đổi cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, có cuộc sống vật chất và văn hóa tốt hơn và ổn định lâu dài.
Xây dựng công trình Thủy điện Sơn La phải tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế -
xã hội cả vùng Tây Bắc theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao đời sống
nhân dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, quốc phòng an ninh, môi trường sinh thái.
Thực hiện Nghị quyết số 44/2001/NQ-QH10 và sự chỉ đạo của Bộ Chính trị,
ngày 16/12/2002, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XI đã ra Nghị quyết số 13/2002/NQ-
QH11 về phương án xây dựng công trình Thủy điện Sơn La. Nghị quyết đã nêu rõ những
thông số cơ bản của công trình là: Quy mô công trình ứng với mức nước dâng bình
thường của hồ chứa từ 205 m đến 215 m, không vượt quá 215 m; Công suất lắp máy: từ
1.970 MW đến 2.400 MW; Sản lượng điện trung bình hàng năm: từ 7.555 triệu KWh đến
9.209 triệu KWh; Vốn đầu tư (chưa tính lãi vay): từ 31.000 tỷ đồng đến 37.000 tỷ đồng,
trong đó vốn trong nước khoảng 70%, vốn nước ngoài khoảng 30%. Dự kiến công trình
sẽ được khởi công vào năm 2005, phát điện tổ máy số 1 vào năm 2012, hoàn thành công
trình vào năm 2015.
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, ngày 15/1/2004 Thủ tướng Chính phủ đã ra
Quyết định số 92/QĐ-TTG Về việc phê duyệt đầu tư Dự án thủy điện Sơn La. Quyết định
nêu rõ: Công trình Thủy điện Sơn La được xây dựng tại tuyến Pá Vinh II, xã ít Ong,
huyện Mường La, tỉnh Sơn La, trên sông Đà, đây là phụ lưu lớn nhất trong hệ thống sông
Hồng, bắt nguồn từ vùng núi Ngụy Sơn - Vân Nam, Trung Quốc. Dự án xây dựng công
trình thủy điện Sơn la do Tổng công ty Điện lực Việt Nam là chủ đầu tư gồm: Dự án tái
định cư theo địa bàn quản lý do ủy ban nhân dân các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên là
chủ đầu tư. Dự án các công trình giao thông tránh ngập do Bộ giao thông vận tải là chủ
đầu tư.
sức lao động, từng bước thay đổi cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập,
cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng tốt hơn nơi ở cũ, góp phần phát triển kinh tế - xã
hội vùng Tây bắc theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giữ vững ổn định chính trị -
xã hội, quốc phòng - an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái.
+ Về yêu cầu:
1- Công tác di dân, tái định cư phải được các cấp, các ngành, các đoàn thể quần
chúng phối hợp chặt chẽ để tổ chức và thực hiện theo phương châm: Trung ương quy định và hướng dẫn cơ chế, chính sách chung, các tỉnh cụ thể hóa và tổ chức triển khai
thực hiện.
2- Tái định cư trong vùng, trong tỉnh là chính, thực hiện các hình thức tái định cư
khác nhau: tập trung nông thôn và đô thị, xen ghép, tự nguyện di chuyển, phù hợp với các
điều kiện cho sản xuất, phong tục, tập quán và nguyện vọng của đồng bào các dân tộc ở
nơi đi cũng như nơi đến. Khuyến khích đồng bào tự di chuyển nhà cũ, tự xây dựng nhà ở
tại nơi tái định cư theo quy hoạch và khuyến khích hình thức tái định cư xen ghép. Di
dân, tái định cư cần coi trọng việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, sự đoàn kết giữa
dân tái định cư và dân sở tại.
3- Ưu tiên nguồn vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án đầu tư khác trên địa
bàn (giao thông, thủy lợi, điện, xây dựng đô thị mới ) với dự án di dân, tái định cư để
xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng tại các vùng tái định cư.
1.1.2.2. Những vấn đề đặt ra đối với Đảng bộ tỉnh Sơn La trong lãnh đạo công
tác di dân, tái định cư
- Về công tác tư tưởng:
Thực hiện chủ trương, kế hoạch của Đảng, Nhà nước về xây dựng Thuỷ điện Sơn
La, Sơn La là tỉnh bị tác động ảnh hưởng, thiệt hại và di dân tái định cư lớn nhất so với
hai tỉnh Điện Biên và Lai Châu, cụ thể: vùng ngập lòng hồ thủy điện của tỉnh Sơn La bao
gồm 3 huyện Thuận Châu, Mường La và Quỳnh Nhai, với 17 xã, 145 bản, trong đó một
trung tâm huyện lỵ Quỳnh Nhai bị ngập hoàn toàn phải di dời và xây dựng mới. Diện tích
đất bị ngập khoảng 16.000 ha, trong đó đất nông nghiệp chủ yếu là đất nương rẫy (ruộng