LUẬN VĂN: Đảng bộ tỉnh Mỹ Tho lãnh đạo quân
dân tiến công và nổi dậy giải phóng toàn
tỉnh từ 1973 đến 1975 Mở đầu
1. Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã kết thúc thắng lợi vẻ vang từ 30 năm
lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Mỹ Tho trong thời kỳ này đã để lại nhiều bài học, kinh nghiệm
quý.
Trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước hiện nay theo mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, việc phát huy truyền thống
của Đảng bộ và nhân dân trong các thời kỳ trước; việc nghiên cứu, tổng kết những
bài học, những kinh nghiệm lịch sử về sự nghiệp giải phóng quê hương, đất nước
vẫn là những vấn đề cấp thiết. Điều đó không chỉ góp phần làm sáng rõ thêm lịch sử
một thời kỳ đấu tranh oanh liệt, đầy khó khăn, thử thách, hy sinh, chiến đấu anh
dũng, kiên cường của Đảng bộ và nhân dân Mỹ Tho đã giành thắng lợi vẻ vang, mà
còn đúc rút những giá trị lịch sử, những kinh nghiệm bổ ích để tiếp tục giáo dục truyền
thống yêu nước, truyền thống cách mạng, góp phần tạo nên một binh chủng tư tưởng -
tinh thần mới trong công cuộc xây dựng quê hương trên con đường công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
Với những suy nghĩ đó, tôi chọn vấn đề "Đảng bộ tỉnh Mỹ Tho lãnh đạo
quân dân tiến công và nổi dậy giải phóng toàn tỉnh từ 1973 đến 1975" làm đề tài
luận văn thạc sĩ thạc Khoa học lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt
Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong quá trình nghiên cứu, viết lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
của nhân dân ta ở miền Nam, vấn đề Đảng bộ tỉnh Mỹ Tho lãnh đạo quân dân trong tỉnh
tiến công và nổi dậy giải phóng đã được đề cập nhiều trong một số cuốn hồi ký cách
mạng của các tướng lĩnh, các đồng chí cách mạng lão thành, nhiều công trình khoa học
của các cơ quan chức năng nghiên cứu lịch sử ở Trung ương, miền, địa phương tỉnh và
nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học ở trong nước và ngoài nước.
Trong số đó có những công trình tiêu biểu như: "Đại thắng mùa Xuân" của
Đại tướng Văn Tiến Dũng, "Những năm tháng quyết định" của Đại tướng Hoàng Văn
Thái, "Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam" tập 2 (1954-1975) của Viện nghiên cứu chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, "Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước (1954-1975) " của Viện Lịch sử quân sự, các công trình biên soạn Lịch sử Đảng
ở địa phương Những công trình trên chỉ trình bày tổng quát về thời kỳ này trên bình
sử hoạt động của Đảng bộ, phong trào tiến công quân sự, binh vận và nổi dậy làm chủ
của quân dân Mỹ Tho, Gò Công trong những năm sau Hiệp định Pari đến giải phóng
hoàn toàn miền Nam (1973-1975)
5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
- Luận văn dựa vào những nguyên lý chung của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng về chiến tranh cách mạng
- Luận văn dựa trên thực tiễn lịch sử phong phú, sinh động về sự lãnh đạo của
Trung ương Đảng, Trung ương Cục miền Nam, của Khu ủy, của các Đảng bộ và
phong trào kháng chiến của nhân dân Mỹ Tho, Gò công, Khu VIII thực hiện đường
lối, chủ trương giải phóng hoàn toàn miền Nam của Đảng, động viên lực lượng chính
trị của nhân dân, lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với quân, dân toàn miền
trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn quê hương.
- Luận văn được trình bày bằng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc,
kết hợp với phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh để làm sáng tỏ nội
dung của đề tài.
-Nguồn tư liệu chủ yếu tác giả sử dụng trong luận văn là Văn kiện Đảng, Nghị
quyết của Đảng bộ Miền như các Nghị quyết, chỉ thị, báo cáo tổng kết của Ban
Thường vụ Trung ương Cục miền Nam, Khu ủy Tây Nam Bộ, Khu ủy Khu VIII, Tỉnh
ủy Mỹ Tho, Tỉnh ủy Gò Công trong thời kỳ 1973-1975; tham khảo có so sánh, đối
chiếu nguồn tư liệu đã được trình bày trong các công trình khoa học, hồi ký cách
mạng tiêu biểu viết về lịch sử Đảng bộ Mỹ Tho, Đảng bộ Gò Công. Ngoài ra, luận văn
còn tham khảo tài liệu của đối phương, người nước ngoài viết về cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước của nhân dân miền Nam. Bên cạnh đó tác giả luận văn chú trọng
sử dụng nguồn tư liệu qua khảo sát thực tiễn, như lời kể của các đồng chí cán bộ cách
mạng lão thành đã trực tiếp tham gia cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, Tây Nam Bộ, Khu
VIII và Mỹ Tho.
6. Đóng góp của luận văn
hội của tỉnh. Tiền Giang có 7 huyện, 1 thị xã và 1 thành phố. Là một tỉnh trù phú, trung
tâm của vùng Trung Nam Bộ, nằm dọc theo tả ngạn sông Tiền, cách thành phố Hồ Chí
Minh 70 km về phía Nam. Phía Nam giáp sông Tiền, phía Bắc giáp tỉnh Long An và
Đồng Tháp, phía Đông giáp biển, bên kia sông Tiền là tỉnh Bến Tre và Vĩnh Long.
Cùng với sự phát triển của lịch sử, vùng đất Mỹ Tho - Gò Công đã nhiều lần thay
đổi về tổ chức hành chính, địa giới và tên gọi. “Năm 1753 được gọi là đạo Trường Đồn.
Năm 1788 được gọi là Trấn Định. Năm 1832 đổi thành tỉnh Định Tường, là một trong 6
tỉnh Nam Kỳ” [1, tr.11]. Do yêu cầu lãnh đạo cách mạng sâu sát, trong hai cuộc kháng
chiến chống Pháp và chống Mỹ, hai tỉnh này được tách ra, sát nhập nhiều lần, có quan hệ
mật thiết với nhau về mọi mặt. Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Mỹ Tho,
Gò Công và thành phố Mỹ Tho được hợp nhất lại thành tỉnh Tiền Giang vào tháng 1 năm
1976.
Tỉnh Mỹ Tho trước đây bao gồm 4 huyện: Cai Lậy, Cái Bè, Châu Thành, Chợ
Gạo và thành phố Mỹ Tho. Trung tâm của tỉnh là thành phố Mỹ Tho. Do yêu cầu nhiệm
vụ lãnh đạo cách mạng, thành phố Mỹ Tho cũng tách ra và nhập vào tỉnh Mỹ Tho nhiều
lần.
Mỹ Tho có một vị trí chiến lược hết sức quan trọng, là một địa bàn án ngữ giữa
thành phố Sài Gòn với miền Tây Nam Bộ, là một vùng đông dân và trù phú. Trong chiến
tranh ai kiểm soát được vùng này thì có thể kiểm soát được cả vùng đồng bằng sông Cửu
Long rộng lớn. Địch chiếm vùng này lập tỉnh mới, thực hiện chế độ thực dân mới của
Mỹ.
Mỹ Tho là một trong những tỉnh có truyền thống cách mạng lâu đời, là căn cứ
của nhiều cuộc khởi nghĩa, các cuộc kháng chiến chống Pháp. Vì vậy, đối với kẻ địch
(Pháp - Mỹ) đều chọn nơi đây làm thí điểm các chiến lược quân sự, kinh tế - xã hội, chiến
lược chiến tranh xâm lược thực dân cũ và thực dân mới; luôn là nơi đụng đầu quyết liệt của
những cuộc đọ sức về trí, lực và sức chịu đựng giữa hai thế lực ngoại xâm, phản động và
cách mạng.
ách thống trị tàn bạo của bè lũ Ngô Đình Diệm, tay sai đế quốc Mỹ giành quyền sống và
làm chủ nông thôn năm 1960. Chính quê hương Mỹ Tho đã làm nên một trận ấp Bắc
vang dội (1-1963), đánh bại chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” của Mỹ - ngụy.
Chiến thắng này đã mở ra một phong trào phá ấp chiến lược mạnh mẽ trong tỉnh, phong
trào thi đua ấp Bắc giết giặc lập công trong toàn miền Nam và khắp cả nước
Cũng như nhân dân hai miền Nam- Bắc, nhân dân Mỹ Tho luôn luôn giữ vững
truyền thống cách mạng, vững tin vào Đảng. Đảng dựa vào dân đã vượt qua những chặng
đường đầy gian khổ, hy sinh, luôn động viên tinh thần cách mạng, giữ vững được lòng tin
đưa phong trào nhân dân kiên quyết bám trụ, bám đất, bám dân, liên tục tiến công địch
trong suốt kháng chiến chống Mỹ - ngụy. Đảng bộ đã lãnh đạo quân dân Mỹ Tho hoàn
thành mọi nhiệm vụ, thực hiện đúng ý đồ chiến lược của Trung ương Đảng, Trung ương
Cục trước và sau khi Hiệp định Pari được ký kết. Cuối năm 1974, ở Khu VIII, ta đã mở
rộng vùng giải phóng Đồng Tháp Mười, cắt đường 4, diệt nhiều đồn bốt địch, giải phóng
hơn 200 ấp và 13 vạn dân, trong đó có nhiều vùng thuộc Trà Vinh, Bến Tre, Mỹ Tho
Truyền thống yều nước, cách mạng và những chiến công vẻ vang đó là nền tảng để
Đảng bộ, nhân dân đi tới thắng lợi mùa Xuân 1975. Trong khí thế cách mạng sôi nổi của
cuộc kháng chiến chống Mỹ khắp cả nước, tiến công quân sự, chính trị vào quân ngụy trên
toàn Miền, quân và dân Mỹ Tho đã liên tục tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn tỉnh
vào ngày 1-5-1975.
1.1.2. Mỹ - ngụy phá hoại Hiệp định Pari, âm mưu kéo dài chiến tranh
Để đi tới thắng lợi, quân và dân Mỹ Tho đã anh dũng chiến đấu chống nhiều âm
mưu của Mỹ - ngụy suốt nhiều năm trước đó. Những tháng đầu năm 1972, mặc dù các
phong trào đấu tranh cách mạng đã giành được nhiều thắng lợi nhưng giữa ta và địch tiếp
tục giằng co quyết liệt. Địch thường xuyên bố trí ở tuyến hành lang biên giới Việt Nam-
Campuchia từ 1 đến 2 liên đoàn biệt động quân, 1 tiểu đoàn thiết giáp có pháo binh yểm
trợ; từng lúc có từ 1 đến 2 tiểu đoàn sư đoàn 7 hành quân đánh phá, ngăn chặn sự di
chuyển lực lượng và phương tiện chiến đấu của ta từ biên giới xuống nội địa. Sư đoàn 7
Thắng lợi căn bản của nhân dân dân ta là ở chỗ: Mỹ phải rút quân và cam kết
chấm dứt mọi sự dính líu quân sự vào miền Nam Việt Nam. Trong thời hạn 60 ngày kể từ
ngày ký Hiệp định này, sẽ hoàn thành việc rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam
mọi quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình định,
vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác.
Thắng lợi căn bản của nhân dân ta là ở chỗ, theo quy định của Hiệp định Pari,
hơn nửa triệu quân Mỹ và đồng minh sẽ rút khỏi Việt Nam. Trong khi đó, 13 sư đoàn chủ
lực cách mạng vẫn đứng vững ở các địa bàn chiến lược của miền Nam cùng hàng vạn bộ
đội địa phương và dân quân du kích. Vùng giải phóng cũng không phân tuyến chia vùng
với vùng ngụy quyền kiểm soát, mà giữ nguyên thực trạng trước khi ký Hiệp định, tạo
thành thế da báo xen kẽ với địch. Đây chính là lợi thế lớn mà Hiệp định Pari đem lại cho
lực lượng cách mạng và ngược lại, là bất lợi lớn nhất của ngụy quyền. Bởi vì lực lượng
cách mạng vẫn giữ được thế trận và lực lượng của cuộc chiến tranh nhân dân, đồng thời
giảm sút thực lực của Mỹ - ngụy, tạo nên chuyển biến lớn về so sánh lực lượng giữa cách
mạng và ngụy quyền.
Lịch sử tiếp theo của cách mạng miền Nam chứng minh, khi quân Mỹ đã rút đi,
quân ngụy sẽ suy yếu và quân ta vẫn còn ở đó thì lực lượng so sánh đã thay đổi căn bản,
tình thế cách mạng nhanh chóng chín muồi. Đây là tiền đề cơ bản cho việc giải phóng
hoàn toàn miền Nam hơn hai năm sau.
Nhưng với bản chất hiếu chiến và phản động, đế quốc Mỹ vẫn trắng trợn vi phạm
các điều khoản của Hiệp định. Khi buộc phải rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, nhà
cầm quyền Hoa Kỳ vẫn nuôi ý đồ duy trỡ chế độ thực dân mới ở miền Nam bằng một
cuộc chiến tranh không có người Mỹ nhưng được tiến hành bằng tiền bạc và vũ khí bom
đạn Mỹ.
Ngay từ đầu, Mỹ đó chủ trương vừa ký kết Hiệp định, vừa giỳp ngụy quyền Sài
Gũn tiếp tục chiến tranh, phỏ hoại Hiệp định. Trước khi rút quân, chúng đó gấp rỳt đưa
vào miền Nam "625 máy bay các loại, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép và nhiều
năm 1973, “địch mở 325.255 cuộc hành quân lấn chiếm, hành quân cảnh sát, chiếm lại
hầu hết các vùng ta mới giải phóng và một số vùng giải phóng từ trước” [58, tr.593].
Ở tỉnh Mỹ Tho, Gũ Công và thành phố Mỹ Tho mặc dù ngụy quân, ngụy quyền
đang hoang mang lo sợ, nhưng “chúng vẫn ngoan cố tăng cường bắt lính đôn quân, tập trung
quân chủ lực ở các nơi về, đưa quân số trong toàn Tỉnh lên trên 48.000 tên, tăng hơn năm
1972 là 6.000 tên” [2, tr.83]. Âm mưu của kẻ thù là xây dựng lực lượng quân đội lớn để
bỡnh định, lấn chiếm đồn bốt, xóa “thế da báo”; quyết tâm biến tỉnh Mỹ Tho, Gũ Cụng
và thành phố Mỹ Tho thành nơi phũng thủ phớa nam Sài Gũn và làm bàn đạp tấn công
lực lượng cách mạng khắp vùng trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long. Ngay sau Hiệp
định được công bố ngày 28-1-1973, bọn ngụy quân, ngụy quyền đồng loạt triển khai
nhiều chiến dịch như “tràn ngập lónh thổ”, “cắm cờ lấn đất giành dân” Chúng sử dụng
sư đoàn 7, 2 trung đoàn của sư đoàn 9, 28 tiểu đoàn bảo an cảnh sát, 2 đến 3 chi đoàn xe
M 113…, tiến hành càn quét, bắn phá khắp các nơi trong Tỉnh. Địch chủ yếu tập trung
lấn chiếm, chốt chặn các tuyến giao thông của ta như hai bên nam, bắc lộ 4, lộ Đông Hũa,
cỏc tuyến kờnh Nguyễn Văn Tiếp A, B, sông Ba Rài, kênh Chợ Gạo Chúng dùng lực
lượng bảo an, cảnh sát liên tục hành quân, lấn chiếm, đốt phá địa hỡnh, mở rộng vựng
chỳng kiểm soỏt, xúa “thế da bỏo” ở chung quanh thành phố Mỹ Tho, ven lộ 4 và cỏc thị
trấn khỏc.
Vừa lấn chiếm, chúng vừa bắt buộc nhân dân phải treo cờ ngụy lên mái nhà, xe
cộ, gốc cây Mặt khác, chính quyền Sài Gòn cũn tập trung cỏc phương tiện thông tin,
các loại cán bộ bỡnh định tâm lý chiến, tung tin, tuyên truyền xuyên tạc Hiệp định, nói
xấu cách mạng, vu cáo ta vi phạm Hiệp định, tuyên truyền bao che hành động phá hoại
Hiệp định và các chính sách phản động nhằm lừa mị, gây hoang mang trong quần chúng.
Chính quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu đưa số sĩ quan ác ôn về xây dựng, củng cố lại
ngụy quyền ở cơ sở, nắm các tổ chức phản động khác, củng cố lại hệ thống phũng vệ dõn
sự, bọn mật vụ chỉ điểm nhằm kỡm kẹp quần chỳng và tỏch quần chỳng ra khỏi ảnh
hưởng của Đảng. Trong khoảng thời gian này, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh
ngày 9 đến ngày 10-3-1973, bàn phương hướng, nhiệm vụ đấu tranh của cách mạng miền
Nam. Hội nghị thống nhất nhận định: tỡnh hỡnh miền Nam chưa ổn định và đang diễn
biến phức tạp. Cuộc chiến tranh hiện nay không cũn quyết liệt như trước đây nhưng cũng
chưa có hũa bỡnh mặc dự Hiệp định đó được ký kết. Địch phá hoại Hiệp định rất nghiêm
trọng và có hệ thống. Lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân đấu tranh buộc địch
phải thi hành Hiệp định, trước mắt đũi chính quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu phải thực
hiện ngừng bắn, đẩy lùi địch từng bước, tiến tới ổn định tỡnh hỡnh. Phải tớch cực xõy
dựng, củng cố thật vững mạnh vựng giải phúng và căn cứ địa cách mạng, đẩy mạnh
phong trào đấu tranh ở các vùng đô thị và vùng nông thôn cũn tạm chiếm, khẩn trương
xây dựng thực lực cách mạng nhất là lực lượng quân sự.
Hội nghị nhấn mạnh: nhiệm vụ cụ thể của cách mạng miền Nam trong giai đoạn
trước mắt là ngoài bạo lực vũ trang, chớnh trị cần phỏt huy tỏc dụng phỏp lý của Hiệp
định, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự và pháp lý; tựy tỡnh
hỡnh từng vựng, từng nơi mà lựa chọn, vận dụng phương châm, phương thức đấu tranh
chính trị hay vũ trang cho thích hợp. Phải chống khuynh hướng chỉ dùng lực lượng quân
sự, nhất là lực lượng quân sự đột nhập vùng địch đang kỡm kẹp nhõn dõn, nhưng cũng
không phải chỉ có đấu tranh chính trị, mà phải có lực lượng vũ trang, lực lượng du kích
mật ở mức cần thiết để diệt ác ôn và đưa phong trào đấu tranh lên cao. Ở vùng giải phóng
cần tập trung lực lượng, củng cố quốc phũng, kinh tế, văn hóa, xó hội để tạo thế, tạo lực
vững mạnh, đủ sức tăng cường phối hợp với phong trào đô thị và vùng xung yếu, đánh
sập cơ sở của địch ở tận sào huyệt.
Trước đó, ngày 3-2-1973, Hội nghị Thường vụ Khu ủy miền Tây Nam Bộ nhận
định âm mưu cơ bản của địch là bỡnh định, lấn chiếm, phá hoại Hiệp định Pari. Hội nghị
nhất trí xác định nhiệm vụ của toàn Khu và đề nghị với Trung ương Cục và Trung ương
Đảng, kiên quyết đánh trả; đẩy mạnh đấu tranh chính trị, tăng cường công tác binh vận,
giữ vững thành quả cách mạng, đưa phong trào tiếp tục tiến lên.
Ngày 16-3-1973, Ban Thường vụ Trung ương Cục cũng nhận định tỡnh hỡnh cú
ủy Đảng chậm phát hiện âm mưu và chính sách gây chiến của địch. Tư tưởng chiến lược tiến
công và quan điểm cách mạng bạo lực vỡ thế khụng được quán triệt. Kết quả là trong những
tháng đầu năm 1973, địch đó lấn chiếm hầu hết vựng giải phúng mới và một số vựng giải
phúng cũ bao gồm "khoảng 1.900 ấp, đóng thêm 1.774 bốt, kiểm soát hơn một triệu dân"
[58, tr.605].
Những khó khăn của cách mạng miền Nam sau khi có Hiệp định Pari cũng là
những khó khăn của địa phương tỉnh Mỹ Tho. Kẻ thù vẫn ngoan cố tăng cường đôn quân
bắt lính, tập trung quân chủ lực ở các nơi về. Chính quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu
quyết tâm biến Mỹ Tho thành nơi phũng thủ phớa nam Sài Gũn và làm bàn đạp tấn công
ta khắp vùng trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài việc dùng sức mạnh quân sự,
địch cũn dựng nhiều thủ đoạn về kinh tế thâm hiểm để nắm quần chúng. Ở vùng giải
phóng, bọn ngụy quân, ngụy quyền dùng pháo, bom Napan bắn phá đốt cháy làng mạc,
dùng xe M113 càn phá ruộng lúa, cướp bóc tài sản của nhân dân. Các huyện Cai Lậy, Cái
Bè, Châu Thành bọn tay sai thường xuyên đốt phá nhà cửa, ngăn chặn không cho quần
chúng về vùng giải phóng sản xuất. Đồng thời, ở một số xó ven lộ 4, thành phố Mỹ Tho,
thị xó Gũ Cụng chỳng lại đưa điện, kỹ thuật, tín dụng về nông thôn; cho nông dân vay
vốn, khuyến khích thâm canh tăng vụ, tăng năng suất nhằm lôi kéo nhân dân.
Vì vậy tỡnh hỡnh ở miền Nam sau khi Hiệp định Pari được ký kết, tuy buộc phải
rỳt quõn hết về nước và ngừng bắn phá, nhưng đế quốc Mỹ tiếp tục giúp đỡ và bao che
cho quân đội Sài Gòn vi phạm Hiệp định một cách trắng trợn và có hệ thống. Vỡ vậy
tỡnh hỡnh cỏch mạng miền Nam chưa ổn định và đó gặp khụng ớt khú khăn.
* Những thuận lợi cơ bản
Thành bại của cuộc cách mạng nói chung là do lực lượng so sánh quyết định.
Trong chiến tranh, thông thường mạnh thắng, yếu thua. Song nói mạnh, yếu là nói theo
quan điểm cách mạng, quan điểm phát triển, là căn cứ vào sự đánh giá tổng hợp cả quân
sự và chính trị, cả thế lực và thời cơ, cả điều kiện khách quan và nghệ thuật lónh đạo; là
xem xét các yếu tố ấy trong quá trỡnh vận động, trong không gian và thời gian xác định.
trị, kinh tế, văn hóa, đời sống trong vùng địch kiểm soát, ở nông thôn cũng như thành thị,
đặc biệt là thế yếu về chính trị của ngụy quyền do sự chống đối gay gắt của nhân dân, do
mâu thuẫn nội bộ bọn tay sai và mâu thuẫn giữa tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu với đế quốc
Mỹ, thỡ sự suy yếu của địch là toàn diện.
Trong khi đó phong trào dân tộc, dân chủ ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh
ngày càng phỏt triển mạnh mẽ. Chớnh phủ cỏch mạng lõm thời Cộng hũa miền Nam Việt
Nam ngày càng cú uy tớn trờn trường thế giới. "Cho đến ngày 6-10-1973, Chính phủ
cách mạng lâm thời Cộng hũa miền Nam Việt Nam đó cú quan hệ ngoại giao với 34 nước
trên thế giới. Năm 1973 là năm có nhiều nước công nhận ta nhất so với các năm trước
đó" [58, tr.610].
Vào thời điểm ấy, thế và lực của cách mạng miền Nam mạnh hơn bất cứ thời kỳ
nào từ sau 1954. Lực lượng vũ trang nhân dân đứng vững trên các địa bàn chiến lược.
Vùng giải phóng miền Nam rộng lớn nối liền với miền Bắc xó hội chủ nghĩa, đỏnh thụng
với cỏc vựng giải phúng Campuchia và Lào. Nhõn dõn vựng tạm chiếm bị kỡm kẹp vẫn
hướng về cách mạng. Miền Bắc đang khôi phục kinh tế, là chỗ dựa vững chắc cho cách
mạng miền Nam. Chiến tranh đến giai đoạn kết thúc thỡ vai trũ của hậu phương càng nổi
bật. Chúng ta chẳng những sẽ động viên những lực lượng quân sự, chính trị ở miền Nam,
trong vùng giải phóng cũng như trong vùng địch tạm thời kiểm soát, mà cũn dốc vào
cuộc chiến đấu quyết định này những binh đoàn chủ lực tinh nhuệ hùng mạnh, hầu hết
lực lượng dự bị chiến lược và nguồn dự trữ dồi dào của miền Bắc.
Âm mưu bỡnh định, lấn chiếm của địch thất bại rừ rệt. Lực lượng cách mạng đó
giành quyền chủ động trên các chiến trường, trừng trị các cuộc hành quân lấn chiếm của
địch, giành lại dân và những vùng bị mất, mở rộng vùng giải phóng. Ta đó củng cố và
hoàn chỉnh thế chiến lược liên hoàn từ Bắc vào Nam, từ rừng núi Trị Thiên đến Tây
Nguyên, miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sụng Cửu Long. Vỡ thế quõn ngụy lựi dần
vào thế bị động, phũng ngự trờn cỏc chiến trường.
Ở miền Nam nói chung và ở tỉnh Mỹ Tho nói riêng, khí thế cách mạng đang sôi
đồng chí lê Văn Phẩm (Chín Hải)-Bí thư Tỉnh ủy chủ trỡ. Trờn cơ sở quán triệt chỉ thị
của Trung ương Đảng, Trung ương Cục về chủ trương đấu tranh chống địch vi phạm
Hiệp định Pari, Tỉnh ủy đó đánh giá tỡnh hỡnh và đề ra chủ trương là giáo dục, tập hợp,
phát động phong trào đấu tranh chống địch vi phạm Hiệp định, giữ thế bố trí lực lượng,
đánh trả bọn lấn chiếm, giành lại các xó vựng nụng thụn nằm sâu trong vùng địch chiếm,
bảo đảm yêu cầu giữ vững và mở rộng vùng giải phóng như trước khi Hiệp định công bố.
Phương châm là kết hợp hai chân, ba mũi tiến công khắp trên ba vùng, đưa lực lượng vũ
trang luồn sâu đánh vào sào huyệt chỉ huy của địch ở thành phố Mỹ Tho và các huyện lỵ,
cùng đồng loạt với đánh địch ở nông thôn, khắc phục tư tưởng “tả”, hữu khuynh trong
Đảng bộ. Tăng cường phát triển lực lượng cách mạng, phát triển Đảng, củng cố nâng chất
lượng các tổ chức cách mạng và các chi bộ cơ sở. Tỉnh lấy móng 2 huyện Cai Lậy Nam
làm điểm chỉ đạo. Điểm chỉ đạo của huyện Cai Lậy Nam là tuyến sông Ba Rài, của Cai
Lậy Bắc là móng 3, huyện Cỏi Bố là lộ 20, huyện Chõu Thành Nam là vựng 20-7, huyện
Chõu Thành Bắc là đông tây kênh Nguyễn Tấn Thành, huyện Chợ Gạo là các xó Phỳ
Kiết, Mỹ Tịnh An, Trung Hũa, Đăng Hưng Phước, Thanh Bỡnh, Lương Hũa Lạc. Tỉnh
cũn lấy 31 xó trờn lộ 4 (quốc lộ 1A hiện nay) làm điểm tập trung tuyên truyền Hiệp định.
Để tăng cường chỉ đạo trong tỡnh hỡnh mới, Quõn khu quyết định thành lập Bộ
chỉ huy tiền phương J.10 phụ trách nam, bắc lộ 4 (Mỹ Tho) và J25 phụ trỏch móng 4 Cai
Lậy Bắc, Bắc Cỏi Bè. Đêm 2-3-1973, toàn Khu bước vào cao điểm tháng 3 đánh địch lấn
chiếm, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng. Ngày 4-3, Trung đoàn 1 và Trung đoàn 3 đánh
qụy tiểu đoàn 2/12, diệt hai đại đội ở xó Long Tiờn, hỳt phần lớn lực lượng chủ lực của địch
sang vùng 20-7. Ngày 5-3, Trung đoàn 1, Sư đoàn 5 và Tiểu đoàn 2009B uy hiếp căn cứ
chùa Phật Đá, đồn chùa Thầy Thắng, cầu Sáu Trứ. Ngày 6-3, Tiểu đoàn 2009B và một Đại
đội của Tiểu đoàn 514C phục kích diệt hai đại đội của tiểu đoàn 3/10 tại kênh Óc Lăng, xó
Mỹ Phước, huyện Châu Thành Bắc. Ngày 7-3, Tiểu đoàn 514C dùng hỏa lực bắn rơi một
trực thăng địch, bắn hỏng một chiếc khác, diệt và làm bị thương 19 tên của tiểu đoàn 3/10
trong lúc trực thăng địch đến bốc tiểu đoàn này ở xó Long Định [11, tr.293].
Từ ngày 8 đến ngày 10-3, Trung đoàn 1 Sư đoàn 5 đánh thiệt hại tiểu đoàn 2/10
và 3/12 tại kênh Cũ, chùa Phật Đá, Tiểu đoàn 514C bắn hỏng một tàu trên kênh Nguyễn
Trên cơ sở phân tích tỡnh hỡnh, Hội nghị nhận định Mỹ Tho là chiến trường
trọng điểm. Trước mắt kẻ thù có đánh phá ta ác liệt, nhưng thực chất địch không mạnh vỡ
Mỹ đó rỳt quõn, ngụy khụng cũn chỗ dựa về tinh thần và vật chất. Tỉnh ủy Mỹ Tho và Gũ
Cụng chủ trương:
Kiên quyết đánh bại âm mưu bỡnh định, lấn chiếm của địch, tăng cường
củng cố tư tưởng, tổ chức ở các cấp và đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính
trị, binh vận, vũ trang kết hợp với pháp lý của Hiệp định, đũi địch thi hành
nghiêm chỉnh Hiệp định. Đồng thời kết hợp lực lượng ba thứ quân bẻ gãy một
số mũi hành quân càn quét của địch, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng hỗ
trợ cho phong trào chiến tranh nhân dân phát triển mạnh trên diện rộng [2,
tr.85].
Hội nghị cũng đó quyết định tập trung xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ
trang, đũi quyền lợi thiết thõn cho dõn chỳng, làm tan ró cỏc đơn vị và tổ chức địch, kiên
quyết bám trụ và đánh bại âm mưu lấn chiếm của quân ngụy Sài Gòn. Trong Hội nghị
này, vấn đề tăng cường xây dựng Đảng được Tỉnh ủy xác định là nhiệm vụ hàng đầu.
Việc củng cố tư tưởng, xây dựng chi bộ là nhiệm vụ trọng tâm của các Đảng ủy xó và cỏc
huyện ủy. Ngoài ra, Tỉnh ủy cũn đề ra kế hoạch, biện pháp cụ thể trước mắt cho từng khu
vực, từng đơn vị vũ trang và các ban ngành, đoàn thể.
Dưới sự lónh đạo của Đảng bộ, quân dân Mỹ Tho và Gũ Cụng vẫn phỏt huy
được những thắng lợi đó đạt được, tiếp tục dấy lên phong trào đấu tranh trong điều kiện
mới.
Trước khi lệnh ngừng bắn được ban hành, quân dân Mỹ Tho và Gũ Cụng đó
đồng loạt cắm hàng chục ngàn lá cờ Mặt trận trờn ắ diện tớch của Mỹ Tho và một số ấp ở
Gũ Cụng. Ở thành phố Mỹ Tho, cờ cỏch mạng được cắm dọc theo sông Bảo Định, khu
chùa Vĩnh Tràng, tuyến lộ Nguyễn Huỳnh Đức. Quần chúng ở vùng nông thôn giải
phóng, vùng tranh chấp phấn khởi đón mừng hũa bỡnh bằng cỏch liờn tục tổ chức nhiều
cuộc mit tinh, biểu tỡnh, hội họp, học tập ý nghĩa Hiệp định Khi lệnh ngừng bắn được
giải phóng như đồn Chợ Cầu, đồn kênh 10 và chiếm lại hầu hết các vùng ta
mới giải phóng năm 1972. Cuối năm 1972 tỉnh Mỹ Tho cú 9 xó, 85 ấp giải
phúng liờn hoàn, đến tháng 2, tháng 3 năm 1973 ta chỉ cũn 45 ấp giải phúng
nhưng không liên hoàn [2, tr.86].
Mặc dù bị địch đánh phá ác liệt, nhưng dưới sự lónh đạo của Đảng bộ, bước đầu
quân dân trong Tỉnh vẫn giành được các thắng lợi có ý nghĩa trên tất cả các mặt chính trị,
quân sự, binh vận.
Khi địch xua quân phản kích, phong trào quần chúng chuyển sang đấu tranh trực
diện, chống lấn chiếm, chống gỡ cờ, chống bắn phá bừa bói, cướp bóc làm thiệt hại tài
sản của nhân dân. Chiều ngày 22-1-1973, sau khi thất bại trong việc lấn chiếm ở khu vực
chùa Vĩnh Tràng thuộc thành phố Mỹ Tho, địch dùng máy bay ném bom hủy diệt, làm
thiệt hại lớn tính mạng, tài sản của quần chúng. Căm phẫn trước tội ác của kẻ thù, hàng
trăm quần chúng liên tục trong nhiều ngày đã kéo tới Trụ sở ủy hội quốc tế tố cỏo tội ỏc
dó man của địch vi phạm Hiệp định, vi phạm quyền tự do dân chủ của nhân nhân và đũi
bồi thường thiệt hại. Nhiều nơi ở các huyện Cai Lậy, Cái Bè, Châu Thành các má, các chị
đó giăng tay cản đầu xe M113 không cho chúng càn phá lúa, cướp bóc; không nhổ cờ
cách mạng khi bị thúc ép. Sau đó đoàn người kéo vào các trụ sở của địch để đấu tranh
buộc địch bồi thường thiệt hại cho nhân dân. Bên cạnh đó Đảng bộ đó tổ chức được nhiều
cuộc hội họp, mít tinh chào mừng thắng lợi của Hiệp định Pari, mừng xuân hũa bỡnh.
Điển hỡnh là cuộc mớt tinh của hơn 5.000 quần chúng vùng Đỡa Đưng thuộc xó Long
Tiờn, huyện Cai Lậy mừng thắng lợi, mừng phỏi đoàn quân sự khu vực 6 ra mắt và qua
đó tố cáo tội ác phá hoại Hiệp định của địch. Thắng lợi của cuộc mít tinh ở Đỡa Đưng
càng cổ vũ tinh thần đấu tranh của quần chúng, làm cho quần chúng tin tưởng hơn nữa
vào thắng lợi cách mạng. Thắng lợi của phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng đó
gúp phần cản bước làm chậm tốc độ hành quân, càn quét, lấn chiếm, kiềm chân và căng
địch ở khắp nơi tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang đánh trả các mũi thọc sâu của chúng
vào vùng giải phóng.
triển mạnh. Trong tháng 5 và tháng 6-1973, ta đó rào được hàng chục mét hàng rào chiến
đấu, tổ chức đấu tranh kỡm căng địch khắp nơi. Quần chúng cùng với lực lượng vũ trang
bao vây trên 300 đồn bốt, hạn chế địch bung ra lấn chiếm, càn phá, đóng thêm đồn bốt.
Phong trào phỏt triển mạnh ở móng 3, 4 Cai Lậy, vựng 20-7, phần lớn cỏc xó ở hai bờn
nam, bắc lộ 4, lộ 20 ở huyện Cái Bè, làm cho phần lớn lực lượng chủ lực địch bị chôn
chân ở đây, tạo điều kiện thuận lợi cho các nơi khác giành thắng lợi.
Tuy nhiên, ở một số địa phương của miền Tây Nam Bộ lúc này vẫn chưa có
những phương án ngăn chặn được hành động bình định, lấn chiếm của ngụy quân, nguỵ
quyền. Một bộ phận cán bộ, chiến sĩ có biểu hiện cầu an, thụ động, ngồi trụng chờ hũa
bỡnh. Vẫn cú những quan điểm cho rằng sau những năm chiến tranh ác liệt (1969-1972)
nếu tiếp tục đánh lớn nữa sẽ gặp khó khăn về quân số, vũ khí, lương thực. Vỡ vậy, "lỳc này
cần phải đẩy mạnh đấu tranh binh vận là chính, kết hợp với đấu tranh ngoại giao buộc địch
thi hành Hiệp định, rút chủ lực về tuyến sau, củng cố lực lượng và phát triển vùng giải