đảng bộ huyện hạ hòa lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống thực dân pháp 1946 1954 - Pdf 33

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

======***======

PHẠM CÔNG LINH

ĐẢNG BỘ HUYỆN HẠ HÕA (PHÖ THỌ)
LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1946-1954)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng

Giáo viên hƣớng dẫn
Trần Thị Chiên

Hà Nội - 2012


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi
nhận được sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè.
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới cô giáo Trần Thị Chiên người đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2. Đặc biệt là các thầy cô trong khoa Giáo dục Chính trị đã
giảng dạy, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian qua.
Cảm ơn các bạn sinh viên đã đóng góp ý kiến và ủng hộ tôi hoàn thành
khóa luận này.
Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên
khóa luận khó tránh khỏi những thiếu xót, kính mong được sự đóng góp ý kiến

2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử ........................................................................... 20
2.1.2. Chủ trương kháng chiến chống Pháp ............................................ 21
2.2. Đảng bộ huyện Hạ Hoà lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống Pháp
...................................................................................................................... 27
2.2.1. Trên mặt trận quân sự .................................................................... 28
2.2.2. Trên mặt trận kinh tế ...................................................................... 31
2.2.3. Trên mặt trận văn hóa, giáo dục .................................................... 35
2.2.4. Công tác Y tế .................................................................................. 38
2.2.5. Trên mặt trận ngoại giao ............................................................... 39
2.2.6. Đảng bộ và nhân dân Hạ Hòa đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng
và tổ chức mặt trận................................................................................... 39
2.2.7. Xây dựng hậu phương trong kháng chiến chống Pháp.................. 43
2.3. Kết quả, ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm. 46
2.3.1. Kết quả, ý nghĩa lịch sử .................................................................. 46
2.3.2. Nguyên nhân thắng lợi ................................................................... 49
2.3.3. Bài học kinh nghiệm ....................................................................... 51
KẾT LUẬN .................................................................................................... 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 59


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hạ Hòa là một huyện miền núi nằm ở phía Bắc tỉnh Phú Thọ, đã từng là
một trong những trung tâm của quốc gia Văn Lang thời các vua Hùng dựng
nước. Hiện nay, ở Hạ Hòa còn lưu danh những tên tuổi mang dấu ấn truyền
thuyết như đền mẫu Âu Cơ (xã Hiền Lương - Hạ Hoà), đầm Ao Châu 99
ngách (thị trấn Hạ Hòa - huyện Hạ Hoà).
Trải qua hàng vạn năm lịch sử, nhân dân Hạ Hòa vốn cần cù trong lao
động, thông minh dũng cảm trong chiến đấu, năng động sáng tạo trong xây
dựng và bảo vệ quê hương, đã viết lên những trang sử hào hùng của mình.

Đảng bộ và nhân dân Hạ Hòa trong việc vận dụng sáng tạo, linh hoạt đường
lối của Trung ương Đảng vào tình hình cụ thể ở địa phương mình.
Huyện Hạ Hoà - Phú Thọ là quê hương của tôi, nhận thức được sự hy
sinh to lớn của cha anh trong cuộc đấu tranh bảo vệ quê hương, giành độc lập
dân tộc. Qua việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp tôi hiểu nhiều hơn, sâu sắc
hơn về một giai đoạn lịch sử oanh liệt của quê hương, về vai trò lãnh đạo của
Đảng bộ huyện. Từ đó tôi nhận thấy mình phải học tập, rèn luyện để xứng
đáng với truyền thống của quê hương và góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp xây
dựng quê hương mình ngày càng giàu đẹp hơn.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: Đảng bộ huyện Hạ
Hoà (Phú Thọ) lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp (1946
-1954) cho khoá luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đề tài Đảng bộ huyện Hạ Hoà - Phú Thọ lãnh đạo nhân dân kháng
chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954) là hoàn toàn mới mẻ. Đến thời điểm
này, chưa có một công trình nào nghiên cứu riêng lẻ, sâu rộng và hệ thống về
vấn đề này.


Trong khoa học lịch sử Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về
chiến tranh nhân dân như:
- Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ chính trị tiến hành
(1966), Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thắng lợi và bài học
kinh nghiệm, Nxb Sự thật, Hà Nội.
- Võ Nguyên Giáp (1972), Vị trí chiến lược của chiến tranh nhân dân ở
địa phương và các lực lượng vũ trang địa phương, Nxb Quân đội nhân dân,
Hà Nội.
- Võ Nguyên Giáp (1975), Sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân
Việt Nam trong thời đại mới, Nxb Sự thật, Hà nội.
Những cuốn sách trên chỉ nghiên cứu, trình bày chủ yếu về lý luận, trên

thống hoá nội dung mà đề tài nghiên cứu.
Nhiệm vụ cụ thể:
- Làm rõ vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và dân cư của huyện Hạ Hoà.
- Trình bày sự lãnh đạo của Đảng bộ Hạ Hoà, những thành tựu đạt được
trong kháng chiến chống Pháp của nhân dân Hạ Hoà.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu những nội dung liên quan đến cuộc
kháng chiến chống Pháp của nhân dân huyện Hạ Hoà từ năm 1946 đến năm
1954.
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
- Những tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp về
chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích.
- Các văn kiện của Đảng, báo cáo chính trị của tỉnh Phú Thọ của huyện
Hạ Hoà qua các thời kỳ.
- Lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, lịch sử Đảng bộ huyện Hạ Hoà, lịch sử
Đảng bộ các xã trên địa bàn huyện.


4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu dựa trên quan điểm lý luận và phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời dựa trên phương
pháp luận sử học, phương pháp lôgíc.
- Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp phân tích, phương pháp tổng
hợp, phương pháp hệ thống hoá…
5. Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì khoá luận gồm hai chương:
Chương 1. Khái quát về huyện Hạ Hoà
Chương 2. Đảng bộ huyện Hạ Hoà lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống thực
dân Pháp (1946 - 1954)


Huyện Hạ Hoà có diện tích tự nhiên là 339,34 km2, bao gồm một Thị
trấn (Thị trấn Hạ Hoà) và 32 xã. Địa hình huyện Hạ Hoà thuộc kiểu lòng chảo,
thoải dần theo hướng Đông Nam, được tạo thành bởi các sườn núi cao về phía
tả ngạn sông Thao. Do vậy, đã tạo ra các loại hình sinh thái khác nhau như:
vùng đất bãi, vùng đồi thấp, vùng núi cao có nhiều hứa hẹn để địa phương
phát triển nông, lâm, ngư nghiệp.
- Khí hậu
Huyện Hạ Hoà nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, mang nhiều nét
đặc trưng của khí hậu miền núi phía Tây Bắc. Nhiệt độ trong năm trung bình
220C đến 24 0C, cao nhất vào mùa hạ là 360C, thấp nhất vào mùa đông dưới
100C. Lượng mưa trung bình trong toàn huyện khoảng 2000 mm. Gió mùa
Đông Bắc ở Hạ Hoà kéo dài từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau, gió
mùa Đông Nam bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11 trong năm. Trong những năm
gần đây, Hạ Hoà xuất hiện bão lốc cục bộ, kèm theo mưa lớn, lũ lụt… Do
huyện Hạ Hoà nằm giữa lòng chảo hai khu vực hồ thuỷ điện lớn đó là: thủy
điện Hoà Bình và thủy điện Thác Bà.
Hạ Hoà có độ ẩm trung bình 80 - 85 % trên năm, trong đó độ ẩm cao
nhất đo được là 96 %, thấp nhất là 60 %.
- Sông ngòi
Chế độ thuỷ văn Hạ Hoà rất phong phú, lưu vực sông Thao (tên gọi
riêng từ biên giới Việt Trung đến Việt Trì của sông Hồng), kéo dài từ Tây Bắc
xuống Đông Nam với chiều dài 33,5 km. Với một hệ thống đầm, hồ, ngòi dày
đặc, thuận tiện cho sinh hoạt, sản xuất, du lịch và nuôi trồng thuỷ sản. Hơn
nữa, Hạ Hoà có thế mạnh về tài nguyên đất (đất phù xa, đất đỏ bazan, đất
chiêm trũng…) và các loại khoáng sản quý (quặng sắt, cao lanh…).
Sông ngòi và hồ đầm phong phú, trữ lượng nước lớn dùng trong việc
cung cấp cho sinh hoạt, sản xuất, vận chuyển, nuôi trồng thuỷ sản và du lịch.
Tuy nhiên, do tốc độ dòng chảy lớn về mùa mưa và luôn luôn thay đổi, lòng



Người dân Hạ Hoà đa phần là dân bản địa, chủ yếu là dân tộc
Kinh.Cùng với tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, nhân dân Hạ Hoà có
nhiều đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước.
Dân cư ở Hạ Hoà ngày càng đông lên, đầu thế kỷ XX khoảng 1 vạn
người, đến năm 1954 có khoảng 4 vạn người. Hiện tại ở Hạ Hoà có 308 điểm
dân cư, tập hợp thành 210 thôn chiếm diện tích là 2.597.74 ha. Cư dân Hạ Hoà
thuộc loại trẻ, số đang trong độ tuổi lao động cao. Toàn huyện tính đến giữa
năm 1997 có trên 52.000 lao động chiếm trên 50% dân số, trên 90% cư dân
sống bằng nghề nông.
* Truyền thống lịch sử
Trải qua bao biến thiên lịch sử, nhân dân huyện Hạ Hòa - Phú Thọ luôn
nêu cao truyền thống lao động cần cù, sáng tạo. Họ đã tạo ra những nét đặc
sắc trên quê hương mình và được lưu giữ, phát huy cao hơn từ đời này qua đời
khác. Tiêu biểu như truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm, truyền
thống hiếu học, truyền thống văn hóa.
Truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm là nét nổi bật trong
những trang sử vẻ vang của Hạ Hoà trong suốt tiến trình lịch sử. Do vị trí địa
lý, huyện Hạ Hòa thường ít nằm trong hướng xâm lược chính của kẻ thù,
nhưng khi có giặc thì nhân dân Hạ Hòa không ngần ngại vùng lên cầm gươm,
ôm súng chiến đấu với bè lũ cướp nước.
Vào đầu công nguyên, đất nước ta dưới ách thống trị của nhà Đông
Hán. Chúng ngày đêm ra sức thống trị, bóc lột của cải của nhân dân, thi hành
những chính sách đồng hóa “sát phu, hiếp phụ” một cách tàn nhẫn. Năm 34,
Tô Định sang thay Tích Quang làm thái thú Giao Chỉ, chúng thực hiện những
chính sách áp bức, bóc lột dã man. Các Lạc tướng bị đè nén, khống chế, ngày
đêm oán hạn chờ ngày vùng lên. Đúng vào thời điểm mùa xuân năm 40 sau
Công nguyên, hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa.



trương ấy, đội du kích Âu Cơ (Hạ Hoà) đã phối hợp với nông dân trong huyện
nổi dậy phá kho thóc của Nhật - Pháp ở Vân Hội thu được hàng trăm tấn thóc
cứu đói cho dân.
Nhận được tin Nhật đem quân từ Yên Bái xuống tấn công vào căn cứ
Vần - Hiền Lương. Đội du kích Âu Cơ đã vạch ra kế hoạch, chuẩn bị hành
quân đến bao vây địch tại nhà Chánh tổng Khánh. Mờ sáng ngày 20 tháng 6
năm 1945, đội du kích đã nổ súng thị uy, quân Nhật hoảng sợ tháo chạy lên
rừng. Ngày 22 tháng 6 năm 1945, Nhật tấn công đội du kích Âu Cơ - Hiền
Lương, đội du kích Âu Cơ do đồng chí Hoàng Quang Minh chỉ huy đã tổ chức
chặn đánh trên đồi Cây Vải (xã Hiền Lương). Từ đây khí thế cách mạng sục
sôi khắp nơi, nhân dân Hạ Hòa chuẩn bị mọi điều kiện để khởi nghĩa.
Đi đôi truyền thống đấu tranh đánh giặc giữ nước, vùng đất Hạ Hoà là
nơi đất thiêng, có phong tục, tập quán và tryền thống văn hoá lâu đời. Truyền
thống hiếu học của nhân dân Hạ Hoà được sử sách nghi nhận và ca ngợi. Lê
quý Đôn đã viết trong sách “Kiến văn tiểu lục”: Một dải sông Thao, dân tục
thuần hậu, biết lễ phép văn tự. Thời Trần ở xã Vụ Cầu (Hạ Hoà) có nhà thơ
Hàn Thuyên - người đầu tiên ở Việt Nam đã đưa đường luật vào thơ nôm.
Tưởng nhớ đến người xưa có công mở đất, tôn thờ Đạo gia tiên vừa là
mỹ tục vừa là tín ngưỡng của người dân Hạ Hoà. Nhân dân ở đây đã xây dựng
đền Mẫu Âu Cơ (Quốc Mẫu) ở xã Hiền Lương - Hạ Hoà và nhiều đình chùa
khác: đền Gò Chén (xã Đan Thượng), đền Chu Hưng (xã Ấm Hạ)… Với các
hội hè, đình đám, các trò chơi dân gian được tổ chức thường xuyên.
Kho tàng tục ngữ, ca dao, phương ngôn và văn nghệ dân gian của nhân
dân Hạ Hoà cũng rất phong phú. Làng chèo ở các xã Vĩnh Chân, Mai Tùng,
Xuân Áng, Minh Côi khá nổi tiến trong vùng. Những xóm làng trù phú, nên
thơ, những rừng cọ đồi chè bên bờ sông Thao đã tạo nguồn cảm hứng sáng


tác. Trong lao động sản xuất, nhân dân còn sáng tạo nên loại hình hát ví
đồi chè:

nguyên mới - kỷ nguyên độc lập tự do. Nhân dân Việt Nam trở thành người
làm chủ đất nước, làm chủ xã hội và bước đầu được hưởng những quyền lợi
do cách mạng đem lại. Họ hiểu rõ thiêng liêng của những quyền lợi ấy, một
lòng gắn bó và quyết tâm bảo vệ chính quyền cách mạng. Đây chính là nguồn
sức mạnh vô tận giúp Nhà nước cách mạng còn đang trong thời kỳ trứng nước
vượt qua mọi khó khăn, thử thách.
Nước việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời là một trong những sự kiện
quan trọng nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Bên cạnh những thuận lợi,
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gặp phải vô vàn những khó khăn thử
thách. Chính quyền cách mạng còn non trẻ, lực lượng vũ trang còn yếu, tài
chính trống rỗng, nạn đói, nạn dốt và giặc ngoại xâm đang đe doạ tới sự tồn
vong của đất nước. Cách mạng lúc này đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi
tóc”. Nhưng thuận lợi là cơ bản, khó khăn chỉ là tạm thời trước mắt. Nhân dân
cả nước cùng nhau đoàn kết, dưới sự lãnh đạo của Đảng nước ta bước sang
thời kỳ mới.
Trong tình hình chung của cả nước, nhân dân Hạ Hoà sau khi giành
được chính quyền cũng gặp rất nhiều khó khăn. Mượn cớ tước vũ khí quân
Nhật, quân Trung Hoa quốc dân Đảng đã theo sông Hồng và đường sắt Lào
Cai - Hà Nội tràn vào địa phận Hạ Hoà, theo sau là bọn Việt Nam quốc dân
đảng nhằm thủ tiêu thành quả cách mạng.
Thêm vào đó, hậu quả nạn đói năm 1945, cùng thiên tai, lũ lụt đã cướp
đi hàng trăm mẫu lúa, hoa màu làm cho đời sống của nhân dân càng thêm khổ
cực. Do tàn dư của chế độ cũ, hơn 90% dân số huyện mù chữ, các tệ nạn xã
hội tràn lan (cờ bạc, ma tuý, nghiện hút, trộm cắp…).


Chính quyền cách mạng huyện Hạ Hoà còn non trẻ, chưa có kinh
nghiệm, còn nhiều lúng túng trong tổ chức và điều hành mọi hoạt động xã hội.
Đội ngũ cán bộ Đảng viên quá ít, lại chưa được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên
môn, nghiệp vụ quản lý. Thực tế, tình hình hết sức khó khăn, phức tạp, đòi hỏi

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nhân dân Hạ Hoà anh hùng đã giành
được chính quyền, xây dựng và củng cố chính quyền, xây dựng tổ chức Đảng
vững mạnh, giải quyết những khó khăn trước mắt, phát triển kinh tế, xã hội.
Đó là những điều kiện, tiền đề quan trọng để Đảng bộ và nhân dân Hạ Hoà
bước vào một giai đoạn mới với những nhiệm vụ cam go, quyết liệt hơn, cùng
nhân dân cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954).


Chƣơng 2
ĐẢNG BỘ HUYỆN HẠ HÕA LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN ĐẤU
TRANH CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
2.1. Chủ trƣơng kháng chiến chống Pháp
2.1.1. Hoàn cảnh lịch sử
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp nổ súng gây chiến ở Nam
Bộ. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: ủng hộ cuộc kháng
chiến của đồng bào Nam Bộ. Nhân dân Hạ Hòa đã làm tốt nhiệm vụ, động
viên và đưa tiễn những đoàn quân Nam tiến. Thanh niên Hạ Hòa hăng hái tòng
quân, xung phong vào đội “Nam tiến”. Mặt trận và các Tổ chức đoàn thể đã
vận động hội viên cùng nhân dân ủng hộ tiền của, lương thực thực phẩm,
thuốc men, quân tư trang cho Nam Bộ kháng chiến.
Chính quyền huyện Hạ Hòa đã chỉ đạo nhân dân tổ chức mít tinh, biểu
tình lên án hành động xâm lược của thực dân Pháp và biểu thị ý chí quyết tâm
chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Thời gian này, hội phụ nữ xã Đan Thượng (Hạ Hoà)
đã tổ chức lao động gây quỹ, diễn kịch bán vé lấy tiền góp vào “quỹ Nam Bộ”
đồng thời gửi quyết tâm thư hứa sẵn sàng xung phong đi bộ đội, đi bất cứ nơi
đâu khi tổ quốc cần.
Năm 1946, toàn huyện có hàng trăm thanh niên tình nguyện lên dường
tòng quân (xã Lang Sơn có 48; Y Sơn có 17; Đan Thượng 18...). Nhiều người
con của Hạ Hòa đã có mặt trong đoàn quân Nam tiến, một số đã vĩnh viễn
nằm lại nơi chiến trường cho nền độc lập tự do cuả tổ quốc.

tịch Hồ Chí Minh đã quyết định phát động cả nước kháng chiến.
Ngày 12/12/1946, Ban thường vụ Trung ương Đảng đã ra chỉ thị “Toàn
dân kháng chiến”. Chỉ thị đã nêu rõ mục đích, tính chất, chương trình kháng
chiến. Những nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến đã được nêu cô
đọng trong văn kiện lịch sử này. Tuy chưa hoàn chỉnh nhưng những nội dung


đó là vấn để thiết yếu, cơ bản nhất để lãnh đạo thống nhất toàn dân, toàn quân
ta trong kháng chiến chống Pháp.
Hội nghị Ban thường vụ Trung ương Đảng mở rộng họp từ ngày 18 đến
19/12/1946, tại làng Vạn Phúc Thị xã Hà Đông đã phát động cả nước kháng
chiến. Đêm 19/12/1946, chủ tịch Hồ Chí Minh ra “lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến”, khẳng định thiện chí hòa bình, quyết tâm kháng chiến và niềm tin tất
thắng của nhân dân ta. Đồng thời lời kêu gọi “toàn quốc kháng chiến” đã nêu
lên tư tưởng cơ bản của đường lối chiến tranh nhân dân. Nhân dân cả nước
đứng lên theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch:
Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng
chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng
quyết tâm cướp nước ta lần nữa !
Không! Chúng ta hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất
nước, nhất định không chịu làm nô lệ…
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia
tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên
đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm
dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng. Ai cũng phải ra sức
chống thực dân Pháp cứu nước…
Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ
gìn đất nước.

quyền độc lập, bảo toàn lãnh thổ, thống nhất Trung, Nam, Bắc. Củng cố chế
độ Cộng hòa Dân chủ… Tăng gia sản suất, thực hiện kinh tế tự túc”.


Phương châm tiến hành kháng chiến: Tiến hành cuộc chiến tranh nhân
dân, thực hiện kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình
là chính.
Kháng chiến toàn dân: “Bất kỳ đàn ông đàn bà không chia tôn giáo,
đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, người trẻ. Hễ là người Việt Nam thì phải
đứng lên đánh thực dân pháp”, thực hiện mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi
làng xóm là một pháo đài.
Kháng chiến toàn diện: Đánh địch về mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh
tế, văn hóa, ngoại giao. Trong đó:
Về chính trị: Thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng Đảng,
chính quyền, các đoàn thể nhân dân; đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc
yêu chuộng tự do hòa bình.
Về quân sự: Thực hiện vũ trang toàn dân, tiêu diệt địch, giải phóng
nhân dân và đất đai, thực hiện du kích chiến tiến lên vận động chiến, đánh
chính quy, là “triệt để dùng du kích, vận động chiến. Bảo toàn thực lực, kháng
chiến lâu dài… Vừa đánh vừa võ trang thêm; vừa đánh vừa đào tạo thêm
cán bộ”.
Về kinh tế: Tiêu thổ kháng chiến, xây dựng kinh tế tự cung tự cấp, tập
trung phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công ghiệp
quốc phòng.
Về văn hóa: Xóa bỏ văn hóa thực dân phong kiến, xây dựng văn hóa
dân chủ mới theo ba nguyên tắc: Dân tộc, khoa học, đại chúng.
Về ngoại giao: Thực hiện thêm bạn bớt thù, biểu dương thực lực. “Liên
hiệp với dân tộc Pháp, chống phản động thực dân Pháp”, sẵn sàng đàm phán
nếu Pháp công nhận Việt Nam độc lập.
Kháng chiến lâu dài: Là để chống âm mưa đánh nhanh thắng nhanh của

Ủy ban hành chính thành Ủy ban kháng chiến huyện để phù hợp với tiến trình


Trích đoạn Xây dựng hậu phương trong kháng chiến chống Pháp Kết quả, ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm Nguyên nhân thắng lợi Bài học kinh nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status