24
Bôlykhămxay, Khămmuộn giai đoạn 1991 - 2000 cho thấy, kết quả hợp
tác mà các bên mang lại chưa cao. Đặc biệt, trong lĩnh vực kinh tế, tuy
đã được hai nước và ba tỉnh xác định là lĩnh vực hợp tác trọng tâm,
nhưng trong thực tế, hợp tác trong lĩnh vực này hiệu quả còn thấp, chưa
tương xứng với tiềm năng, yêu cầu phát triển và mong muốn của Đảng
bộ và nhân dân ba tỉnh.
Quan hệ hữu nghị hợp tác giữa Hà Tĩnh và Bôlykhămxay, Khămmuộn
giai đoạn 2001 - 2010: nội dung, phương thức hợp tác có những chuyển
biến mạnh mẽ so với những thập niên trước đây: từ quan hệ hợp tác chủ
yếu về chính trị, an ninh quốc phòng, chuyển sang quan hệ hợp tác toàn
diện trên tất cả các lĩnh vực. Bên cạnh hợp tác trong lĩnh vực chính trị, an
ninh quốc phòng được xác định là cơ sở và nền tảng, nhiệm vụ hợp tác
trên lĩnh vực kinh tế, thương mại thực sự được xem là lĩnh vực trọng tâm,
tạo động lực cho quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực khác phát triển lên một
bước mới. Hợp tác về văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học công nghệ được
quan tâm đúng mức và thu được những kết quả đáng phấn khởi; các hoạt
động xã hội, giao lưu hữu nghị nhân dân đã được tăng cường với nội dung
và hình thức phong phú, đa dạng. Từ quan hệ chủ yếu mang tính chất
tương trợ, một chiều, từng bước chuyển sang quan hệ đối tác kinh tế hai
chiều, liên kết sản xuất, kinh doanh bình đẳng, cùng có lợi, vận hành theo
cơ chế thị trường, phù hợp với xu thế hội nhập và đường lối, chính sách
đối ngoại của hai Đảng, hai Nhà nước. Trong giai đoạn này, quan hệ hữu
nghị hợp tác giữa tỉnh Hà Tĩnh với hai tỉnh bạn đạt được những kết quả
khá toàn diện trên các lĩnh vực và ngày càng đi vào chiều sâu.
4. Trong quá trình thực hiện các chương trình, nội dung hợp tác, tuy
còn bộc lộ không ít khó khăn, hạn chế do nhiều nguyên nhân chủ quan và
khách quan khác nhau, song những kết quả đạt được trong giai đoạn này
đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị,
kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của Đảng bộ và nhân dân ba tỉnh.
Thành tựu và những bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình hợp tác
đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế; đặc biệt là việc thực hiện Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác, các nội dung
hợp tác mang tính chiến lược Việt - Lào đang đi vào chiều sâu, nhiệm vụ
xây dựng mối quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa ba tỉnh càng được
tích cực đẩy mạnh và tăng cường. Do đó, việc nghiên cứu quá trình lãnh đạo
xây dựng mối quan hệ hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn của
Đảng bộ Hà Tĩnh từ ngày tái lập tỉnh đến nay, nhằm tổng kết, đánh giá
những thành tựu đạt được, chỉ rõ những hạn chế, khiếm khuyết, qua đó đúc
rút những kinh nghiệm trong quá trình hoạch định chủ trương chính sách
cũng như trong tổ chức triển khai thực hiện, nhằm góp phần thúc đẩy hơn
nữa mối quan hệ giữa ba tỉnh trong thời gian tới là việc làm cần thiết.
Đồng thời, việc nghiên cứu quá trình lãnh đạo xây dựng mối quan hệ
hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn của Đảng bộ Hà Tĩnh trong
chặng đường gần 20 năm đổi mới cũng góp phần tổng kết thực tiễn quá
trình thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở của Đảng trên một địa phương
cụ thể, có nhiều đặc thù cả về điều kiện tự nhiên và lịch sử. Trên cơ sở đó,
2
luận án không chỉ làm phong phú thêm lịch sử hoạt động đối ngoại của
Đảng, mà còn góp phần nghiên cứu toàn diện hơn về lịch sử Đảng bộ địa
phương và cung cấp cơ sở lịch sử để giáo dục truyền thống đoàn kết giữa
nhân dân tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn, tăng cường hơn
nữa mối quan hệ hợp tác lâu dài, toàn diện, bền vững giữa hai nước Việt
Nam - Lào nói chung và ba tỉnh nói riêng trong điều kiện lịch sử mới.
Xuất phát từ ý nghĩa nêu trên, tác giả chọn đề tài: "Đảng bộ tỉnh Hà
Tĩnh lãnh đạo phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay
và Khămmuộn (CHDCND Lào) từ năm 1991 đến năm 2010" làm đề tài
luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích
Nghiên cứu quá trình lãnh đạo xây dựng mối quan hệ hữu nghị hợp tác
địa lý và có những điểm tương đồng về lịch sử, văn hóa truyền thống,
điều kiện kinh tế - xã hội. Trên cơ sở mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước,
mối quan hệ hữu nghị hợp tác toàn diện giữa Hà tĩnh và Bôlykhămxay,
Khămmuộn ngày càng được củng cố và không ngừng phát triển. Tình
cảm đó được thể hiện sinh động trong lịch sử gần một thế kỷ đấu tranh
trường kỳ chống giặc ngoại xâm và dựng xây đất nước của nhân dân hai
nước nói chung và nhân dân tỉnh Hà Tĩnh - Bôlykhămxay, Khămmuộn
nói riêng. Đó là nền tảng, là cội nguồn sâu xa và là nhân tố khách quan,
bền vững để Đảng bộ, nhân dân ba tỉnh tiếp tục chung sức chung lòng,
đoàn kết bên nhau tiếp tục giữ vững những thành quả đã đạt được và tiếp
tục ra sức phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.
2. Quán triệt đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, thấm
nhuần tư tưởng “giúp nhân dân nước bạn tức là tự giúp mình” của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh luôn xác định việc tiếp tục
tăng cường tình đoàn kết hữu nghị và hợp tác toàn diện với tỉnh
Bôlykhămxay, Khămmuộn là nguyên tắc và là yêu cầu, nhiệm vụ có ý
nghĩa chiến lược; coi đây là nghĩa vụ quốc tế cao cả, đồng thời thể hiện
tình cảm cách mạng thủy chung, trong sáng mà Đảng và nhân dân ba
tỉnh dành cho nhau.
Trên tinh thần đó, ngay sau khi tái lập tỉnh, Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh
khóa XIII và các khóa XIV, XV, XVI, XVII giai đoạn 1991 - 2010 đã
kịp thời hoạch định chủ tương và từng bước đề ra phương hướng,
nhiệm vụ và các giải pháp cụ thể trong thời kỳ, đồng thời tăng cường
lãnh đạo Nhà nước, các ngành, đoàn thể, các tổ chức kinh tế xã hội và
các địa phương, cơ sở triển khai tổ chức thực hiện, biến những chủ
trương, nhiệm vụ đó thành hiện thực sinh động, đưa quan hệ hợp tác
giữa ba tỉnh ngày càng phát triển cả chiều rộng và chiều sâu.
3. Thực tiễn quan hệ hợp tác giữa tỉnh Hà Tĩnh với hai tỉnh bạn từ
1991 - 2010, là quá trình phát triển mối quan hệ qua hai giai đoạn: Giai
đoạn 1991 - 2000, quan hệ hợp tác giữa tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh
6. Tăng cường phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau giữa các hoạt động
chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoại, chú trọng công tác ngoại giao
phục vụ kinh tế
3
nghệ, an ninh quốc phòng, công tác biên giới, hoạt động tình nghĩa, giao lưu
hữu nghị nhân dân.
Về không gian: các hoạt động quan hệ hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn
diện trên địa bàn ba tỉnh: tỉnh Hà Tĩnh, tỉnh Bôlykhămxay và tỉnh
Khămmuộn
Về thời gian: Luận án nghiên cứu quá trình lãnh đạo xây dựng quan hệ
hữu nghị hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà
Tĩnh giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2010.
4. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và quan điểm đường lối chủ trương của Đảng về quan hệ đối
ngoại nói chung, quan hệ hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện với nước
Cộng hòa DCND Lào nói riêng. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của Luận
án là phương pháp lịch sử và phương pháp logic, đồng thời kết hợp các
phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành, trong đó đặc biệt chú
trọng phương pháp khảo sát thực tế, thống kê.
5. Đóng góp của luận án
- Qua sưu tầm tài liệu, nghiên cứu, khảo sát thực tế về ba tỉnh, Luận án
làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành mối quan hệ đặc biệt, hợp tác
toàn diện giữa tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn trong thời
gian từ năm1991 đến năm 2010.
- Đánh giá một cách khách quan thực trạng, những kết quả đạt được,
những khó khăn, hạn chế, bất cập trong quá trình hoạch định chủ trương và
lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ tăng cường tình hữu nghị và hợp tác với tỉnh
Bôlykhămxay, Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh. Từ đó, luận án góp
khoa học… Có thể thấy rằng, các công trình này đã tiếp cận được nhiều
tư liệu quan trọng ở cả hai quốc gia và tập trung theo các chủ đề chung
nhằm dựng lại lịch sử mối quan hệ giữa hai nước trên từng lĩnh vực cụ
thể như: Chính trị, Ngoại giao, An ninh, Quân sự, Văn hoá - giáo dục,
Kinh tế; nghiên cứu, làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng
đảng cầm quyền ở hai nước; góp phần tổng kết, phân tích, đánh giá
những đặc điểm của mối “quan hệ đặc biệt” và đúc kết những bài học
kinh nghiệm, đồng thời gợi mở những vấn đề vận dụng vào hiện tại và
tương lai…
1.2. Các công trình khoa học đề cập đến quan hệ Việt Nam - Lào
trên một số lĩnh vực, vùng miền hoặc địa phương cụ thể
Các công trình nghiên cứu trên góc độ này đã tập hợp một cách
tương đối đầy đủ nguồn tài liệu chuyên khảo và tài liệu gốc có giá trị,
phong phú và đáng tin cậy. Các giả đã trình bày khá chi tiết những vấn
đề về điều kiện địa lý, truyền thống lịch sử, văn hóa và những nhân tố
tác động đến quan hệ hợp tác; trình bày có hệ thống quan hệ hợp tác
trên các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa và một
số lĩnh vực khác; bước đầu rút ra một số nhận xét về thuận lợi, khó
khăn, bài học kinh nghiệm, phương thức, đặc điểm, kiến nghị về cơ
chế, chính sách để thực hiện tốt việc mở rộng hợp tác giữa các địa
phương của Việt Nam với một số tỉnh của Lào. Kết quả nghiên cứu của
các công trình này đã cung cấp cho tác giả những cơ sở quan trọng
trong quá trình phân tích, đánh giá và tổng kết những nét đặc thù
21
trọng được lãnh đạo cấp cao hai nước ưu tiên tập trung chỉ đạo, góp
phần phát triển kinh tế khu vực Bắc miền Trung, phục vụ hàng hóa quá
cảnh của Lào và phục vụ hành lang phát triển kinh tế Đông - Tây. Việc
thực hiện dự án này chắc chắn sẽ tạo động lực mới, góp phần nâng cao
chất lượng, hiệu quả hợp tác giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay,
Khămmuộn trong thời gian tới.
- Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện hợp tác có nơi, có lúc
chưa nghiêm, thiếu kịp thời, đồng bộ; phân công phân nhiệm thiếu cụ
thể; công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết chưa được chú trọng; còn có
biểu hiện đùn đẩy trách nhiệm lẫn nhau giữa các cơ quan liên quan …
20
3.1.3. Một số đặc điểm chủ yếu về mối quan hệ giữa tỉnh Hà
Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn
Nhìn lại quá trình hoạch định chủ trương và triển khai tổ chức thực
hiện nhiệm vụ hợp tác giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay,
Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh giai đoạn 1991 – 2010 chúng ta có thể rút
ra một số đặc điểm chủ yếu như sau:
- Mối quan hệ giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay,
Khămmuộn mang những đặc trưng chung của quan hệ đặc biệt, trong
sáng, mẫu mực hiếm có và ngày càng được củng cố, phát triển giữa hai
nước, hai dân tộc Việt Nam – Lào.
- Quan hệ hợp tác giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay,
Khămmuộn là sự cụ thể hóa chủ trương, đường lối, quan điểm, đồng
thời bổ sung, phát triển và góp phần làm phong phú thêm quan hệ đặc
biệt giữa hai Đảng, Chính phủ và nhân dân hai nước.
- Trong quá trình thực hiện các chương trình, nội dung hợp tác, tuy còn
bộc lộ không ít khó khăn, hạn chế do nhiều nguyên nhân chủ quan và
khách quan khác nhau song những kết quả đạt được trong giai đoạn này
đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị,
kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của Đảng bộ và nhân dân các tỉnh.
- Thông qua việc thực hiện các chương trình, nội dung hợp tác với các
tỉnh bạn đã góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp ủy Đảng,
hiệu lực, hiệu quả điều hành của chính quyền, sự phối hợp hoạt động
của các ngành, đoàn thể và cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở của
tỉnh Hà Tĩnh cũng như của các tỉnh bạn.
- Do có những điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên, kinh tế,
các lĩnh vực giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn.
2. Những nội dung có liên quan đến đề tài luận án các công
trình nghiên cứu đã đề cập đến
Qua các công trình nghiên cứu đã được công bố, chúng tôi nhận thấy:
Về nước Lào: Các công trình nghiên cứu đã thể hiện khá toàn diện và
sâu sắc về lịch sử, truyền thống, những thành tựu trong sự nghiệp giải
phóng dân tộc và dựng xây đất nước qua các thời kỳ, những nét khái quát
về quan hệ đối ngoại của nước CHDCND Lào với các nước trong khu
vực và trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Về quan hệ hai nước Việt - Lào: Đã có nhiều công trình nghiên cứu
đề cập đến những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu, phản ánh khá
toàn diện và sâu sắc mối quan hệ hữu nghị hợp tác truyền thống giữa
Việt Nam và Lào cũng như các tỉnh có chung đường biên giới hai nước.
Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có những công trình chuyên khảo, luận
án nghiên cứu một cách hệ thống quá trình lãnh đạo của Đảng trong
quá trình xây dựng quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các địa phương hai
nước, nhất là các tỉnh cùng chung biên giới.
Về quan hệ hợp tác giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay,
Khămmuộn:
Các công trình nghiên cứu đã phân tích một số nội dung về quan
hệ hợp tác giữa các tỉnh trên các lĩnh vực, nhất là quan hệ hữu nghị
hợp tác của quân dân các tỉnh trong cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp và đế quốc Mỹ, hợp tác về chính trị, an ninh, quốc phòng, đối
ngoại trong thời kỳ đổi mới, đồng thời đề cập đến những kết quả,
hạn chế và những vấn đề đặt ra hiện nay trong quá trình hợp tác giữa
các tỉnh. Vấn đề Đảng lãnh đạo quá trình xây dựng mối quan hệ hợp
tác giữa các tỉnh, chưa được đề cập, hoặc chỉ được nêu ra hết sức khái
6
quát. Vấn đề này cần được tiếp tục nghiên cứu, tổng kết một cách
nghiêm túc, toàn diện và sâu sắc hơn.
Từ những thành công, hạn chế khiếm khuyết trong lãnh đạo thực
hiện xây dựng, phát triển quan hệ hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay,
Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh trong gần 20 năm (1991-2010),
Luận án làm sáng tỏ những đặc điểm trong mối quan hệ giữa ba tỉnh;
đồng thời đúc rút một số kinh nghiệm chủ yếu cả trên phương diện
quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng vận dụng vào địa phương,
cả trên phương diện tổ chức chỉ đạo thực hiện chủ trương đó trên địa
bàn cụ thể.
19
thức lãnh đạo của Đảng được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Cụ thể là: Đảng lãnh đạo xã hội
bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ
trương công tác; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ
chức kiểm tra và hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng giới thiệu
những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động
trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và đoàn thể.
Bước sang giai đoạn 2001 - 2010, quan hệ hữu nghị hợp tác giữa ba
tỉnh có những chuyển biến lớn, cả chiều rộng và chiều sâu so với giai
đoạn trước đây. Trong giai đoạn này, bên cạnh hợp tác trong lĩnh vực
chính trị, an ninh quốc phòng được xác định là cơ sở và nền tảng,
nhiệm vụ hợp tác trên lĩnh vực kinh tế, thương mại thực sự được xem là
lĩnh vực trọng tâm, tạo động lực cho quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực
khác phát triển lên một bước mới. Trong quan hệ hợp tác giữa tỉnh Hà
Tĩnh với các tỉnh bạn Lào đã chuyển từ bao cấp, viện trợ một chiều,
sang hợp tác bình đẳng cùng có lợi, đa dạng hơn, chú trọng khai thác
tiềm năng lợi thế của nhau nhiều hơn. Một số chương trình, dự án có
nguồn vốn lớn, thu hút đông lực lượng lao động được triển khai thực
hiện mang lại hiệu quả cao. Bên cạnh đó, hợp tác về văn hóa, giáo dục,
y tế, khoa học công nghệ được quan tâm đúng mức và thu được những
kết quả đáng phấn khởi; các hoạt động xã hội, giao lưu hữu nghị nhân
ương được quán triệt và thực hiện khá kịp thời, đồng bộ, mang lại hiệu
quả thiết thực.
Công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện bước đầu đã được
coi trọng; đã chú ý phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể
nhân dân, các tổ chức kinh tế xã hội trong việc triển khai các hoạt động
theo đúng chức năng, nhiệm vụ nhằm tăng cường mối quan hệ hữu nghị,
hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn…
Những đổi mới về phương thức lãnh đạo nói trên của Đảng bộ đã
từng bước khắc phục những hạn chế, khuyết điểm về phương thức lãnh
đạo ở giai đoạn trước; đồng thời, phù hợp với quá trình đổi mới phương
thức lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn mới. Nhờ vậy, đã góp phần
nâng cao năng lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trên các lĩnh
vực qua từng thời kỳ, trong đó có nhiệm vụ tăng cường mối quan hệ
hữu nghị hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn.
Những chuyển biến quan trọng và kết quả đạt được trong quá trình
hợp tác với các tỉnh bạn trong từng thời kỳ nêu trên đã minh chứng sâu
sắc quá trình đổi mới, phát triển nhận thức đồng thời là quá trình bổ
sung, phát triển chủ trương tăng cường tình đoàn kết và hữu nghị hợp
tác với các tỉnh bạn Lào của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh.
3.1.2. Kết quả thực hiện mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Hà
Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn
Nhìn lại quan hệ hữu nghị hợp tác giữa tỉnh Hà Tĩnh với các tỉnh
bạn Lào trong giai đoạn 1991 - 2010, chúng ta nhận thấy: Trong giai
đoạn 1991 - 2000, quan hệ giữa Hà Tĩnh, Bôlykhămxay, Khămmuộn có
nhiều chuyển biến, từ quan hệ chủ yếu về chính trị, an ninh quốc phòng
trong thập niên 70, từng bước chuyển sang quan hệ hợp tác toàn diện
trên tất cả các lĩnh vực. Trong đó, hợp tác kinh tế, chính trị ngày càng
có vị trí quan trọng. Cùng với hợp tác kinh tế làm trọng tâm, các lĩnh
vực hợp tác khác cũng không ngừng phát triển và đạt được nhiều kết
quả.
cao, đá quý, đồng, chì, kẽm, vàng
Tỉnh Khămmuộn là tỉnh miền núi của Lào, có tổng diện tích tự nhiên
16.315km
2
, dân số 55.985 người; có 9 huyện, thị. Tỉnh Khămmuộn cũng
như các tỉnh miền núi khác của Lào, đồi núi và trung du chiếm 2/3 diện tích
đất đai. Tỉnh Khămmuộn có rất nhiều loại gỗ và các loại lâm sản quý hiếm.
Tuy điều kiện về tài nguyên thiên nhiên có nhiều thuận lợi, nhưng bên
cạnh đó, tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn đang phải đối mặt với nhiều khó
khăn trên con đường phát triển, nhất là trình độ dân trí thấp, đời sống nhân
dân còn gặp rất nhiều khó khăn, chủ yếu dựa vào nghề nông và khai thác
lâm thổ sản; hệ thống giao thông kém phát triển, chưa có đường sắt, nên
việc đi lại, trao đổi buôn bán giữa các địa phương trong tỉnh và hợp tác với
bên ngoài còn gặp rất nhiều khó khăn.
Nhân tố dân cư và văn hóa xã hội: Mặc dầu có rất ít sự tương đồng
nguồn gốc dân cư nhưng do cùng sinh sống lâu đời dưới mái nhà chung là
dãy Trường Sơn, nên nhân dân ba tỉnh từ lâu đã sống rất hòa thuận, cùng
đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, cũng
8
như trong sự nghiệp dựng xây quê hương, đất nước. Xuất phát từ những
tương đồng, ít nhiều chịu sự chi phối, ảnh hưởng lẫn nhau về phương thức
sinh hoạt vật chất, cư dân ba tỉnh cùng chung biên giới ngày càng xích lại
gần nhau hơn và tất yếu chịu sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau trong sinh
hoạt văn hóa tinh thần. Chính sức mạnh của yếu tố văn hóa truyền thống
đã góp phần quan trọng xây đắp nên tình cảm đặc biệt giữa nhân dân ba
tỉnh trong suốt chiều dài lịch sử từ ngàn xưa cho đến ngày nay.
Đặc điểm về kinh tế: Trong quá trình phát triển, do điều kiện gần gũi
về địa lý và nhiều điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên, sinh hoạt văn
hóa tinh thần, cư dân ba tỉnh dọc biên giới từ xưa đã sớm giao lưu, trao đổi
và có những điểm tương đồng trong sinh hoạt vật chất. Do những đặc
17
Chương 3
NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM
3.1. Nhận xét
3.1.1. Về quá trình hoạch định chủ trương và chỉ đạo thực hiện
quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện với tỉnh Bôlykhămxay,
Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh
Nhìn lại quá trình nghiên cứu, quá trình hoạch định chủ trương và
chỉ đạo thực hiện quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện với tỉnh
Bôlykhămxay, Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh chúng ta nhận
thấy:
- Chủ trương tăng cường quan hệ hợp tác lâu dài, toàn diện và có
hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực với Đảng bộ và nhân dân tỉnh
Bôlykhămxay, Khămmuộn đã được tiếp tục khẳng định ngay sau ngày
tái lập tỉnh, kế tục và phát huy được những thành tựu đã đạt được trước
đây của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ Tĩnh.
- Chủ trương tăng cường hợp tác với các tỉnh bạn Lào của Đảng bộ
tỉnh Hà Tĩnh đã cụ thể hóa kịp thời và góp phần làm phong phú, sinh động
thêm chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác
đối ngoại.
- Chủ trương tiếp tục tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị và hợp tác
toàn diện với Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn của
Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh qua từng thời kỳ đã không ngừng được bổ sung,
phát triển, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và điều kiện cụ thể của tỉnh.
- Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh đã chú trọng cụ thể hóa các chủ trương cũng
như chỉ đạo quán triệt các cấp, các ngành thực hiện nhiệm vụ quan hệ
hữu nghị, hợp tác với hai tỉnh cùng biên giới
Sau khi quán triệt chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà
nước phù hợp với đặc điểm thực tiễn của địa phương, Đảng bộ Hà Tĩnh
đã từng bước chú trọng chỉ đạo chính quyền thể chế hoá các quan
hoạch, dự án cụ thể, đồng thời, chú trọng phát huy sức mạnh của bộ máy
chính quyền vào việc triển khai thực hiện. Công tác kiện toàn tổ chức bộ
máy và công tác cán bộ được chú trọng đúng mức hơn. Các tổ công tác, tổ
giúp việc tại tỉnh và các ngành các địa phương liên quan được thành lập,
kiện toàn và đi vào hoạt động có hiệu quả. Công tác kiểm tra, sơ kết, tổng
kết việc thực hiện bước đầu đã được coi trọng; đã chú ý phát huy vai trò
của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế xã hội
trong việc triển khai các hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ.
9
kinh tế, văn hóa xã hội bước đầu được quan tâm và thu được những kết
quả nhất định. Đặc biệt, sự giúp đỡ về chuyên gia, cung ứng cơ sở vật chất,
trang thiết bị thiết yếu phục vụ sản xuất, đời sống đã giúp các tỉnh bạn giải
quyết kịp thời những khó khăn trước mắt.
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, nhiều nội dung hợp tác đã được đề ra
nhưng thực hiện thiếu kịp thời, có nơi, có lúc thiếu tính khả thi. Do đó,
nhìn chung việc hợp tác giữa ba tỉnh đem lại hiệu quả chưa cao.
1.2. Chủ trương và quá trình chỉ đạo xây dựng quan hệ hữu nghị,
hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà
Tĩnh từ năm 1991 đến năm 2000
1.2.1. Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo xây dựng quan hệ hữu nghị,
hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn từ năm 1991 đến năm 1995
Ngay sau khi tái lập tỉnh (tháng 8/1991), NQ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần
thứ XIII và các NQ chuyên đề của BTV, BCH Tỉnh ủy đã khẳng định
quyết tâm tiếp tục tăng cường quan hệ hợp tác lâu dài, toàn diện và có hiệu
quả trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa -xã hội, an ninh,
quốc phòng, giao lưu hữu nghị nhân dân với Đảng bộ và nhân dân tỉnh
Bôlykhămxay, Khămmuộn. Những chủ trương đó vừa thể hiện sự kế thừa,
tiếp nối những thành quả đã đạt được của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ
tĩnh trước đây, vừa thể hiện quan điểm, quyết tâm của Đảng bộ và nhân
dân tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục vun đắp mối quan hệ hữu nghị bền chặt thủy
đạo các ngành chức năng kịp thời rà soát, thống nhất quản lý các đối tượng
xâm nhập trái phép, cường kiểm tra, xử lý thích đáng những cá nhân, tập
thể có hành vi phạm; tiếp tục tăng cường tuyên truyền sâu rộng cho nhân
dân hiểu rõ các chủ trương chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước,
nhất là Quy chế Biên giới; thường xuyên duy trì công tác giao ban, thông
báo cho nhau tình hình và kịp thời giải quyết những vấn đề phát sinh trên
tuyến biên giới.
Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế của ba tỉnh còn gặp khó khăn, nhất là
trong điều kiện tỉnh Hà Tĩnh vừa mới chia tách, nên kết quả hợp tác trong
giai đoạn 1991 - 1995 chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu đặt ra.
1.2.2. Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo xây dựng quan hệ hợp tác với
tỉnh Bôlykhămxay và tỉnh Khămmuộn những năm đầu đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (1996 - 2000)
Trong lĩnh vực chính trị: Nhiệm vụ tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp
tác với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn tiếp tục được đẩy mạnh, đặc biệt
là việc tiếp tục tổ chức các cuộc gặp gỡ cấp cao và ký kết các văn bản thỏa
thuận hợp tác trên các lĩnh vực, việc tổ chức các chuyến thăm, làm việc song
phương của các ban ngành, các hoạt động giao lưu hữu nghị nhân dân.
Trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp: UBND tỉnh Hà Tĩnh đã chỉ đạo Sở
Nông nghiệp và các ngành liên quan chỉ đạo chuyển hướng từ hợp tác đầu
tư nhỏ lẻ, mang tính chất mô hình sang hình thức hỗ trợ các tỉnh bạn kết
hợp quy hoạch chiến lược phát triển nông nghiệp với quy hoạch sản xuất
lương thực, thực phẩm; đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi vừa và
nhỏ, đảm bảo an ninh lương thực gắn với nhiệm vụ xây dựng nông thôn
mới. Trong lĩnh vực xây dựng cơ bản: Chú trọng nhiệm vụ bảo trì, nâng
cấp, xây dựng mới hệ thống giao thông đường bộ nội tỉnh và xây dựng các
tuyến giao thông kết nối hai bên, hệ thống đường giao thông dọc tuyến
biên giới nhằm phục vụ nhu cầu dân sinh và đảm bảo quốc phòng an ninh.
Trong lĩnh vực đầu tư thương mại, du lịch: Ba tỉnh đã tăng cường đầu tư
xây dựng, hoàn thiện hệ thống giao thông, mở rộng các trung tâm thương
pháp phòng và chống dịch bệnh: sốt sét, bướu cổ, phòng chống các bệnh
nhiễm khuẩn. Về khoa học - công nghệ: Hợp tác về khoa học công nghệ
giữa ba tỉnh được quan tâm đúng mức. Tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục hỗ trợ và
thực hiện các dự án: Dự án chuyển giao công nghệ, xây dựng các trạm
xử lý nước, hầm khí Biogas, năng lượng mặt trời cho hai tỉnh bạn; Dự
án chuyển giao công nghệ sinh học nuôi cấy mô tế bào thực vật sản
xuất các giống cây chuối, cây mía, cây chỉ xác, Paulownia; Dự án
chuyển giao công nghệ sản xuất than tổ ong bằng nguyên liệu than Lào;
nghiên cứu xây dựng dự án khả thi về hệ thống quản lý đo lường.
Trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng và công tác biên giới: Kết quả nổi
bật nhất trong hợp tác an ninh quốc phòng giữa ba tỉnh trong giai đoạn
này là giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đập tan âm mưu
phá hoại của các thế lực thù địch. Song song với nhiệm vụ tăng cường
hợp tác phòng chống có hiệu quả âm mưu của các thế lực thù địch, giữ
14
của mỗi tỉnh”. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Khămmuộn
lần thứ VIII, ngày 19/08/2010 khẳng định: “Tiếp tục thực hiện đường
lối chính sách đối ngoại của Đảng như: Hòa bình, độc lập hữu nghị và
hợp tác, tăng cường mối quan hệ hữu nghị và tình đoàn kết đặc biệt,
truyền thống, hợp tác toàn diện với Việt Nam. Tiếp tục xây dựng mối
quan hệ và hợp tác với các nước láng giềng, mở rộng hợp tác đối ngoại
quốc tế và tổ chức phi chính phủ nước ngoài”.
2.2.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện phát triển quan hệ hữu nghị, hợp
tác với tỉnh Bôlykhămxay và Khămmuộn của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh
(2001 – 2010)
Quán triệt chủ trương của Đại hội Đảng bộ tỉnh và sự chỉ đạo của
BTV Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh đã cụ thể hóa yêu cầu nhiệm vụ
hợp tác với các tỉnh bạn Lào nói riêng và nhiệm vụ công tác đối ngoại
trong thời kỳ mới nói chung vào việc hoạch định các chương trình hành
động, đề án, kế hoạch, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội hằng năm, ngắn
kinh tế, khoa học kỹ thuật. Trong lĩnh vực y tế, ba tỉnh đã tăng cường hợp
tác trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là tập trung vào việc xây dựng cơ sở vật
chất cho các cơ sở khám chữa bệnh; đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ; cử
chuyên gia trực tiếp hướng dẫn, đồng thời trao đổi kinh nghiệm, cung cấp
thông tin nhằm xây dựng mạng lưới y tế từ tỉnh đến cơ sở; thực hiện các
biện pháp phòng và chống các dịch bệnh. Trong lĩnh vực văn hóa, thể
thao: Nhân các ngày lễ lớn, các đoàn văn hóa nghệ thuật ba tỉnh đã thường
xuyên tổ chức các chuyến thăm và biểu diễn tại các tỉnh bạn, nhất là các
địa phương dọc biên giới ba tỉnh. Trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng và
công tác biên giới: Các bên đã đẩy mạnh hợp tác toàn diện, chú trọng công
tác cố vấn, chuyên gia, tăng cường trao đổi kinh nghiệm xây dựng lực
lượng bộ đội địa phương, dân quân du kích; giúp bạn xây dựng thế trận
chiến tranh nhân dân; tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục, giúp
nhân dân nâng cao nhận thức, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật Nhà nước, đặc biệt là tích cực tham gia nhiệm vụ bảo vệ
biên giới.
Trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước về công tác
đối ngoại, với tình cảm quốc tế và anh em thủy chung, trong sáng, Đảng
bộ tỉnh Hà Tĩnh đã kịp thời quán triệt, cụ thể hóa và ban hành chủ trương
tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị hợp tác với Đảng bộ và nhân dân các
tỉnh bạn Lào cùng chung biên giới.
Trong những năm từ 1986 - 1990, quan hệ hữu nghị hợp tác giữa ba
tỉnh tiếp tục được tăng cường và thu được những kết quả đáng phấn khởi,
nhất là hợp tác về chính trị và an ninh quốc phòng. Tuy nhiên, trong giai
đoạn này, những kết quả đạt được trong quá trình triển khai thực hiện các
thỏa thuận hợp tác đã được các bên thống nhất còn thấp so với yêu cầu,
mong muốn và tiềm năng của ba tỉnh. Bước sang giai đoạn 1991 - 2000,
quan hệ hợp tác giữa ba tỉnh được thực hiện một cách toàn diện, đồng bộ,
hiệu quả cao hơn trên nhiều lĩnh vực; hợp tác kinh tế từng bước được xác
định là nhiệm vụ trung tâm và bước đầu mang lại những kết quả đáng
quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.
Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định: "Thực hiện nhất quán
đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển;
chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan
hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng
hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin
cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến
trình hợp tác quốc tế và khu vực" .
2.2. Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo phát triển quan hệ hữu
nghị, hợp tác toàn diện với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn từ năm
2001 đến năm 2010
2.2.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh về tiếp tục phát triển
quan hệ đặc biệt giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay,
Khămmuộn
Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lần thứ XV đã khẳng định: “Tiếp tục
tăng cường quan hệ tốt với các tỉnh của nước bạn Lào, giữ vững tuyến
13
biên giới hữu nghị”. Chủ trương của Đại hội về đẩy mạnh phát triển
kinh tế vùng, khai thác tiềm năng, lợi thế kinh tế Đường 8, đầu tư khu
kinh tế Cửa khẩu Cầu Treo, xây dựng kết cấu hạ tầng phía Tây, vùng
biên giới, nhất là cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới các tuyến đường trục
Đông - Tây là cơ sở và điều kiện thuận lợi để tiếp tục tăng cường
quan hệ hợp tác với tỉnh Bôlykhămxay, Khămmuộn. Trên cơ sở NQ
Đại hội XV và các NQ của BCH Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã xây dựng các
Đề án, Chương trình hành động, đặc biệt là ban hành nhiều cơ chế,
chính sách khuyến khích đầu tư vào khu kinh tế Đường 8, Cửa khẩu
Cầu Treo, đẩy mạnh các chương trình hợp tác với các tỉnh bạn Lào.
Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lần thứ XVI (12/2005) khẳng
định chủ trương tiếp tục thúc đẩy có chiều sâu các mối quan hệ quốc tế
đã được thiết lập giữa tỉnh Hà Tĩnh với các tỉnh của nước CHDCND