Đảng bộ huyện lục yên lãnh đạo phát triển kinh tế trong thời kỳ đổi mới 1986 2004 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LƯƠNG THỊ TIÊN

ĐẢNG BỘ HUYỆN LỤC YÊN (YÊN BÁI) LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
1986 - 2004

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Hà Nội 2005


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LƢƠNG THỊ TIÊN

ĐẢNG BỘ HUYỆN LỤC YÊN (YÊN BÁI) LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
1986 - 2004

Chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 5.03.16

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS – TS. Trƣơng Thị Tiến

Hà Nội 2005


kinh tế ở Lục Yên ...........................................................................................71
3.3. Kết hợp phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội ......................81
3.3.1. Đời sống của các tầng lớp nhân dân đều đƣợc nâng lên.........................81
3.3.2. Thực hiện tốt một số chính sách xã hội .................................................87
CHƢƠNG 4. MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KIẾN NGHỊ ............................... 93
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 120


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự nghiệp đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng là
một trong những bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam, tác động
mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước, mở ra
một giai đoạn mới cho sự phát triển của lịch sử dân tộc. Sự thành công
của công cuộc đổi mới càng được chứng minh một cách thuyết phục
khi chúng ta đi sâu nghiên cứu sự lãnh đạo của một Đảng bộ huyện
miền núi đối với việc phát triển kinh tế trong thời kì đổi mới – Đảng bộ
huyện Lục Yên.
Lục Yên là huyện miền núi thuộc tỉnh Yên Bái, từ trước tới nay,
huyện luôn giữ vị trí quan trọng đối với việc phát triển kinh tế, xã hội
của tỉnh.
Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, trong gần 20 năm qua,
Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Lục Yên luôn tìm tòi và sáng tạo
trong việc thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp
luật của Nhà nước, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thay đổi nếp
nghĩ, cách làm, từ bỏ nhiều thói quen lạc hậu, tạo nên sự đổi thay toàn
diện trên các lĩnh vực đời sống xã hội. Đáng kể nhất là từ nền kinh tế

triển toàn diện và bền vững, tương xứng với bề dày lịch sử và văn hoá
của huyện.
Đó cũng chính là lý do tôi chọn đề tài “Đảng bộ Lục Yên lãnh
đạo phát triển kinh tế trong thời kì đổi mới (1986-2004)” làm đề tài
luận văn thạc sĩ.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay đã có một số công trình đề cập tới tình hình của
huyện Lục Yên nói riêng và tỉnh Yên Bái nói chung như: “Lịch sử
Đảng bộ tỉnh Yên Bái” xuất bản năm 1996, “Tỉnh Yên Bái một thế kỷ”
xuất bản năm 2000, “Lịch sử Đảng bộ huyện Lục Yên (1930-2005)”
xuất bản năm 2005. Nhưng chưa có một công trình nghiên cứu nào


3

mang tính chất cụ thể và hệ thống về sự lãnh đạo của Đảng bộ Lục Yên
đối với quá trình đổi mới kinh tế.
Sự phát triển kinh tế -xã hội của huyện chỉ được đề cập tới qua
các báo cáo công tác thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội hàng năm của
Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân và các Ban, ngành của Đảng, chính quyền
huyện.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ huyện Lục Yên vận dụng chủ trương
đổi mới kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam vào điều kiện thực tế ở
địa phương. Qua đó, có thể góp phần vào việc khẳng định vai trò quan
trọng của các Đảng bộ địa phương trong công cuộc đổi mới kinh tế.
- Phân tích kết quả của quá trình Đảng bộ Lục Yên lãnh đạo phát triển
kinh tế trong thời kỳ đổi mới và bước đầu rút ra một số nhận xét, kinh
nghiệm lịch sử về quá trình đó.

luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử, kết hợp các
phương pháp logic, thống kê, so sánh để giải quyết các yêu cầu của đề tài.
5. Đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên có tính hệ
thống về sự lãnh đạo của Đảng bộ Lục Yên trong một giai đoạn quan
trọng, đó là giai đoạn đổi mới, phát triển kinh tế ở Lục Yên (19862004).
- Việc nghiên cứu đề tài này còn có ý nghĩa thực tiễn, góp phần vào
việc nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử Đảng bộ địa phương và có thể
được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy môn Lịch sử
Đảng cộng sản Việt Nam ở trường Cao đẳng sư phạm Yên Bái.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Vài nét về lịch sử huyện Lục Yên trước đổi mới.
Chương 2: Đảng bộ huyện Lục Yên với những đổi mới bước đầu về
kinh tế (1986-1996).


5

Chương 3: Đảng bộ huyện Lục Yên với quá trình phát triển kinh tế
(1996-2004).
Chương 4: Một số bài học kinh nghiệm và kiến nghị.

CHƢƠNG 1
VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ
HUYỆN LỤC YÊN TRƢỚC ĐỔI MỚI

1.1. Mảnh đất, con ngƣời và truyền thống đấu tranh cách
mạng của nhân dân Lục Yên.

C, mùa nóng vào tháng 5,6 có nhiệt độ trung bình là 28.30 C.
Do ảnh hưởng của dãy Hoàng Liên Sơn và hồ Thác Bà nên khí
hậu có độ ẩm khá cao với mức trung bình là 84%. Chế độ thuỷ văn của
huyện khá thuận lợi nhờ hệ thống sông, suối ngòi phân bố đều, nguồn
nước dồi dào, có thể đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của
nhân dân. Sông Chảy đi qua địa phận huyện với chiều dài 60 km, do ít
thác ghềnh nên mùa mưa dù sông có chảy xiết nhưng thuyền bè đi lại
khá thuận lợi. Hệ thống sông ngòi, rạch tương đối nhiều nhưng độ dài
không lớn, độ dốc cao, đó là nguyên nhân của những đợt lũ ống. Để
khắc phục những khó khăn đó, con người nơi đây từ ngàn xưa đã biết
đào đắp nhiều kênh, đập đưa nước tưới tiêu, phục vụ mùa màng.
Nguồn nước tự nhiên của Lục Yên khá phong phú, 6,6% diện
tích tự nhiên là mặt nước, không chỉ đủ cung cấp cho sinh hoạt, sản
xuất mà còn là tiềm năng phát triển thuỷ sản.
Rừng là một trong những thế mạnh của huyện. Những năm gần
đây rừng bị thu hẹp nhanh do nạn phá rừng làm nương rẫy và khai thác
lâm thổ sản ồ ạt kéo dài, hiện nay toàn huyện chỉ còn 18.315,55 ha.
Trong đó diện tích rừng sản xuất là 3.042,17 ha, rừng phòng hộ là
15.273,38 ha.
Nguồn tài nguyên khoáng sản của huyện cũng đa dạng: vàng, đá
quý được phân bố ở nhiều vùng, đang được khai thác bước đầu vừa


7

góp phần làm giàu cho địa phương vừa tạo nhiều công ăn việc làm cho
nhân dân các dân tộc trong huyện.
Lục Yên còn là địa phương có tiềm năng du lịch. Nơi đây được
thiên nhiên ban tặng phong cảnh non nước hữu tình với nhiều hang
động đẹp. Cùng với vẻ đẹp nguyên sơ của thiên nhiên, Lục Yên còn

được lưu truyền trong dân gian như những vị thần có công bảo vệ, giữ
gìn quê hương. Nhà sử học Lê Quý Đôn đã chép trong Kiến văn tiểu
lục: “trên bờ khe Đài Kỵ châu Lục Yên có núi thần áo đen” [45,354].
Ngay dưới chân núi là một dải thung lũng khá rộng và bằng phẵng
chạy song song với sông Chảy, nơi đây còn lưu lại dấu vết của ngôi
đền và những bức tường đất của một toà thành bao quanh.
Cùng với những di tích lịch sử thì đặc trưng văn hoá của các dân
tộc thiểu số là nét đặc sắc của vùng này. Trước đây, chủ yếu có 4 cộng
đồng dân tộc sinh sống gồm: Tày, Kinh, Nùng, Dao. Tỉ lệ các dân tộc
cũng thay đổi theo thời gian năm 1932 dân số toàn huyện có 12.794
người, trong đó có 65% là người Tày, 15% là người Dao còn lại là các
dân tộc khác. Cuộc tổng điều tra dân số năm 1989 toàn huyện có
73.730 người, trong đó Tày chiếm 53%, Kinh: 21.2%, Dao: 14.4%,
Nùng: 10.6% cùng một số dân tộc khác khoảng 50 người. Hiện nay,
dân số của Lục Yên là 99.897 người, trong đó Tày chiếm 52.2%, Kinh:
19.5%, Dao: 15.2%, Nùng: 10.4% và 12 dân tộc khác. Tất cả các dân
tộc chung sống trên địa phận Lục Yên dù ít hay nhiều, dù đến cư trú ở
những thời điểm khác nhau nhưng đều có truyền thống đoàn kết, tương
thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau để xây dựng và gìn giữ quê hương. Dù
trong họ còn in đậm những nét văn hoá riêng, nhưng tất cả đều chân
thành, sâu lắng, mộc mạc, hóm hỉnh, dễ mến dễ gần. Họ cũng chính là
chủ nhân của vùng đất giàu tiềm năng này.
Đến Lục Yên du khách còn có thể đến được một miền đất có khí
hậu ôn hoà, mát mẻ được coi là bình nguyên của huyện (xã văn hoá
Khai Trung) với đặc trưng văn hoá nhà sàn bên những đồi cây sồi cổ


9

thụ, nơi đây còn giữ được những nét văn hoá làng bản, hiện đang được


chính giao cho tù trưởng người địa phương cai quản, Lục Yên là một
trong các đơn vị đó.
Thời nhà Trần, nước Đại Việt lại bị đế quốc Nguyên Mông đánh
chiếm. Từ Vân Nam chúng tiến vào nước ta theo các đường sông: sông
Hồng, sông Chảy và sông Lô. Dưới sự chỉ huy của tướng Trần Nhật
Duật, dân binh Lục Yên đã phối hợp với quân triều đình chặn đánh
hàng chục trận.
Năm 1410, nhà Minh vừa đặt ách đô hộ, đồng bào Tày, Nùng vùng
đất Quy Hoá (Tuyên Quang) nổi dậy tham gia phong trào nghĩa binh áo
Đỏ chống giặc, tập kích đồn Vĩnh Tuy gây cho địch nhiều thiệt hại.
Tháng 5-1427 tướng Trần Ban của Lê Lợi được lệnh trấn ải Lê
Hoa (Hà Giang). Dân binh vùng sông Chảy góp phần làm nên chiến
thắng của cuộc kháng chiến chống quân Minh.
Thời Hậu Lê (1533-1787) trong cuộc giao tranh phù Lê diệt
Mạc, nghiã binh Lục Yên theo thủ lĩnh Vũ văn Mật, giữ chức vụ Tổng
binh Tuyên Quang xây dựng nhiều doanh binh ở lưu vực sông Chảy,
sông Lô. Một trong những doanh binh đó là Yên Bắc: “thành này đóng
ở 3 ngọn núi, trước mặt trông ra sông Chảy” [45, 355- địa danh đó có
thể thuộc xã Minh xuân, Lục Yên ngày nay] thu hút đông đảo đồng bào
nơi đây hoạt động liên tục trong 15 năm (1533-1548).
Thời Tây Sơn (1788-1802) khi tàn quân Thanh rút chạy về Vân
Nam (Trung Quốc) qua lưu vực sông Chảy đã bất ngờ bị quân ta, dưới
sự chỉ huy của tù trưởng họ Hoàng đánh chặn ở nhiều nơi.
Dưới thời Pháp thuộc, các phong trào yêu nước liên tục nổ ra tại
địa bàn huyện, gây cho thực dân Pháp nhiều tổn thất và phải nhiều
phen lao đao, lúng túng. Đáng kể nhất là phong trào của người Dao gắn
với tên tuổi của hai thủ lĩnh Triệu Tài Lộc và Triệu Tiến Tiên ( quê ở
Vĩ Thượng - Bắc Quang - Hà Giang). Phong trào phát triển trong một




12

Tại phố Lục Yên các tầng lớp nhân dân tổ chức rải truyền đơn,
truyền khẩu những lời ca tiếng hát mang nội dung yêu nước và bầu
nhiệt huyết cách mạng. Bằng công tác tuyên truyền, vận động, uy tín
của Mặt trận Việt Minh được nâng cao. Căn cứ kháng Nhật Lê Lợi
được thành lập tại huyện (xã Mường lai) dưới sự giúp đỡ của đội công
tác Việt Nam Giải phóng quân. Căn cứ Lê Lợi ra đời có ý nghĩa vô
cùng to lớn, nó là chỗ đứng chân, tuyên truyền và giác ngộ quần chúng
đứng lên làm cách mạng. Cũng từ đó ảnh hưởng của Việt Minh ngày
càng lớn. Nhiều chức sắc trong vùng đã tự nguyện nộp ấn tín xin theo
Việt Minh, mở kho thóc cứu đói cho dân chúng .
Khi đánh giá về chiến khu Việt Bắc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp
đã viết: Về quân sự, theo Nghị quyết Hội nghị cán bộ khu giải phóng
ngày 4-6-1945, Giải phóng quân Việt Nam và các lực lưọng tự vệ được
chỉnh đốn lại về các mặt biên chế, huấn luyện, kỷ luật. Những nơi
chiến đấu diễn ra ác liệt nhất ngoài Bắc Cạn, Chợ Rã là dọc đường số 3
đến bến Bình Ca và vùng lân cận sông Lô. Giải phóng quân tiếp tục
đánh chiếm Lục An châu (Yên Bái) phố Bình Gia (Lạng Sơn) Yên Thế
(Bắc Giang)… Nhờ có sự tuyên truyền giác ngộ cách mạng của cán bộ
Việt Minh nên khi Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của
chúng ta” vừa ban hành, ở nhiều địa phương đã sửa soạn, xúc tiến khởi
nghĩa. Tại châu Lục Yên, khí thế cách mạng của quần chúng dâng lên
mạnh mẽ, càng làm cho chính quyền Nhật thêm hoang mang, rệu rã.
Đứng trước thời cơ ngàn năm có một, Việt Minh đã quyết định phát
động khởi nghĩa.
Ngày 21.7.1945(13.6 Ất Dậu) quân dân Lục Yên, đội tự vệ Lê
Lợi phối hợp với quần chúng nhân dân tấn công hạ đồn Lục Yên .

và lương thực ra chiến trường. Ngoài ra còn đóng góp 1.550 tấn lương
thực (thuế nông nghiệp), 300 tấn thực phẩm và tiễn đưa 2.715 thanh
niên nhập ngũ góp phần quan trọng vào thắng lợi cuối cùng của cuộc
kháng chiến 9 năm của dân tộc.


14

Từ 1954-1975 cán bộ và nhân dân Lục Yên bước vào nhịp sống
lao động quên mình để phát triển kinh tế xã hội, đồng thời tích cực
đóng góp sức người sức của vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước, đã hoàn thành nghĩa vụ chi viên cho miền Nam tới mức
cao nhất với tinh thần: Thóc không thiếu một cân
Quân không thiếu một người.
Từ 1955-1957 thực hiện kế hoạch khôi phục kinh tế đã xây dựng
được các tổ đổi công ở các xã vùng thấp (27/40 xã), sản lượng lương
thực đạt 13,433 tấn tăng 12,3 %. Năm 1960, Lục Yên hoàn thành hợp
tác hoá nông nghiệp, thành lập được 135 hợp tác xã, thu hút 4531 hộ
nông dân, đạt 83%. Từ 1961-1965 hoàn thành cơ bản việc tiếp nhận,
phân cấp các Phòng – Ban quản lý Nhà nước về huyện. Nhờ sự lãnh
đạo của Đảng bộ, sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp các ban, ngành,
nhân dân Lục Yên đã chủ động sẵn sàng đối phó với chiến tranh phá
hoại của đế quốc Mỹ. Trong lĩnh vực kinh tế, Đảng uỷ tập trung vào
công tác cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật trong các hợp tác xã. Sắp
xếp lại từ 135 giảm xuống còn 110 hợp tác xã. Về thủ công nghiệp,
kinh tế quốc doanh, thương mại là khá phát triển, những yêu cầu thiết
yếu của nhân dân được đáp ứng. Quan hệ sản xuất bước đầu được hoàn
thiện, thúc đẩy sản xuất phát triển khá đồng đều. Trong lĩnh vực y tế
nhận được sự quan tâm thích đáng của Nhà nước, Tỉnh uỷ trong vòng 4
năm Lục Yên đã thành lập 4 trường cấp II trên 60% học sinh cấp I vào

* 4.3 triệu ngày công phục vụ
* 13.580 thanh niên nhập ngũ
*30 thanh niên xung phong vào Nam chống Mỹ
* 831 liệt sĩ, 532 thương binh.
Mảnh đất và con người giàu truyền thống cách mạng của huyện
Lục Yên đã tạo nên nhiều yêu tố thuận lợi để phát triển kinh tế, xây
dựng quê hương nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách
thức. Lục Yên là huyện miền núi, cách xa tỉnh lỵ và các trung tâm kinh
tế của vùng, trình độ dân trí của nhân dân còn thấp, sự chênh lệch về
trình độ sản xuất giữa các dân tộc, các vùng còn lớn. Có nơi đồng bào


16

quen với nếp sống cũ, nhiều phong tục tập quán lạc hậu, còn có tâm lý
ngại khó, ngại khổ, chậm đổi mới. Những khó khăn đó đòi hỏi Đảng
bộ Lục Yên phải vận dụng chủ trương của Đảng, Đảng bộ tỉnh Yên Bái
một cách linh hoạt, sáng tạo phù hợp với điều kiện của địa phương.

1.2. Thực trạng kinh tế ở Lục Yên trƣớc đổi mới.
Chiến tranh khép lại, nhân dân cả nước phấn khởi bước sang
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Hoà vào không khí tưng bừng đó,
nhân dân Lục Yên bước vào thời kỳ thực hiện kế hoạch nhà nước
1976-1980. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (12-1976) đã đề ra
phương hướng phát triển trên mọi lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, xã hội
…thể hiện trong 4 mục tiêu sau:
- Xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa .
- Xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa .
- Xây dựng nền văn hoá mới xã hội chủ nghĩa .
- Xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.

chăm sóc cây trồng, đặc biệt là đưa giống lúa mới có năng suất cao vào
gieo trồng như bao thai lùn, mộc tuyền...; xây dựng cánh đồng cao sản
đạt 5 tấn trở lên ở các xã: Mường Lai, Vĩnh Lạc, Minh Xuân, Yên
Thắng, Liễu Đô, Tân Lĩnh và Trúc Lâu. Cùng với trồng trọt, chăn nuôi,
các hợp tác xã còn mở rộng kinh doanh các ngành nghề khác.
Thời gian đầu, những chủ trương trên góp phần tích cực vào cuộc
vận động định canh, tái định cư ở địa phương nhưng dần dần tính không
hiệu quả của những chủ trương duy ý chí bộc lộ ngày càng gay gắt .
Cây sắn là cây lương thực chủ yếu ở Lục Yên. Dân ở đây cũng
có tập quán trồng cây sắn từ rất lâu đời. Trong kháng chiến chống
Pháp, sắn là cây lương thực đứng sau lúa, ngô. Năm 1980, thực hiện
chủ trương xây dựng các vùng cây trồng tập trung, diện tích sắn lên
đến trên 400 ha. Có thể nói các nương sắn đã phủ xanh vùng đất đồi ở
Lục Yên. Một xưởng chế biến tinh bột sắn tươi cũng được xây dựng
(năm 1978) với công suất 10 tấn/ngày. Tuy nhiên, đất sắn bạc màu rất
nhanh nên chỉ vài năm sau các vùng đồi phủ xanh nương sắn đã trở
thành đất trống, đồi hoang. Xưởng chế biến tinh bột sắn cũng phải


18

đóng cửa vì không có thị trường tiêu thụ, chất lượng sản phẩm thấp.
Diện tích trồng sắn vì thế bị thu hẹp, sản phẩm chỉ dùng cho chăn nuôi
tại chỗ. Ý tưởng về một vùng trồng cây lương thực tập trung gắn liền
với chế biến sản phẩm không thực hiện được.
Trồng cây lâm nghiệp dài ngày nằm trong dự án cơ cấu nônglâm nghiệp kết hợp định canh, tái định cư bền vững. Thực hiện dự án,
trên 300 ha cây sở và 200 ha cây lai đã được trồng. Chủ vườn rừng hầu
hết là đối tượng chính sách vận động định canh. Nhưng gần 10 năm kể
từ ngày gieo hạt, cả hai loại cây đều không đậu quả hoặc rất ít, mặc dù
cây lên xanh tốt. Cuối cùng, hai loại cây này cũng phải phá bỏ.

Năm 1981, Chính phủ ban hành Nghị định số 25 cho phép các xí
nghiệp quốc doanh có nhiều nguồn cân đối và được phép tổ chức kế
hoạch 3 phần. Nghị định 26 cho phép mở rộng hình thức trả lương
khoán, lương sản phẩm và vận dụng hình thức tiền thưởng trong các
đơn vị sản xuất kinh doanh Nhà nước. Chỉ thị 100 và nghị định 25 -26
CP của Chính phủ là kết quả của quá trình tìm tòi, khảo nghiệm, đổi
mới từng phần, mang lại kết quả tích cực trong sản xuất, tạo điều kiện
cho công cuộc đổi mới trong những năm tiếp theo.
Từ 27 đến 31-3-1982 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V được
tiến hành. Nghị quyết Đại hội thể hiện tư duy đổi mới với chủ trương:
Chia thời kỳ quá độ thành nhiều chặng, chặng đường đầu tiên được xác
định đến hết 1990 với nhiệm vụ tập trung sức phát triển mạnh nông
nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, sản xuất hàng tiêu dùng
và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng.
Các chủ trương trên đã được Đảng bộ tỉnh Yên Bái quán triệt
đến Đảng bộ các huyện. Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII (1982) của
Đảng bộ huyện Lục Yên chia địa bàn làm hai vùng kinh tế tập trung.
Vùng I gồm 10 xã tập trung chỉ đạo sản xuất lương thực-thực
phẩm, cây ngắn ngày và cây ăn quả.
Vùng II gồm 13 xã còn lại sản xuất lương thực, cây màu, chăn
nuôi đại gia súc, trồng và khoanh nuôi bảo vệ rừng, trồng cây nguyên
liệu giấy sợi. Đại hội cũng ra Nghị quyết về 6 phong trào hoạt động lớn


20

trong 3 năm 1983-1985 là: phong trào thâm canh tăng năng suất đạt 5
tấn lúa/ha/năm; làm hàng xuất khẩu, trồng dâu nuôi tằm, trồng bông
dệt vải; trồng rừng và bảo vệ rừng; toàn dân xây dựng hợp tác xã nông
nghiệp; toàn dân xây dựng nếp sống mới và quần chúng bảo vệ an ninh

đoạn trước. Diện tích trồng lúa đạt 6.157 ha, tăng 3.6% so với 1980.
Sản lượng lương thực đạt 18.903 tấn tăng 2.6%. Đàn trâu có 10.447
con, tăng 6.6%. Đàn lợn có 25.395 con tăng 22.7%. Khai thác gỗ tròn
đạt 19.256 m3 tăng 71%. Trồng rừng, nuôi rừng đạt 29.631 ha tăng
103%, hoàn thành kế hoạch giao nộp lương thực 3.080/3000 tấn, thực
phẩm 170/170 tấn [44, 185].
Tuy nhiên, những đổi mới bước đầu trong kế hoạch 5 năm 19811985 ở Lục Yên cũng như trong cả nước dần dần bộc lộ hạn chế. Trong
các hợp tác xã nông nghiệp, trình độ cán bộ quản lý của hợp tác xã
ngày càng tỏ ra bất cập. Thậm chí, ở Lục Yên, cán bộ hợp tác xã còn lo
làm ruộng khoán cho gia đình nên ít có thời gian tập trung cho công tác
quản lý. Nhiều khâu do hợp tác xã đảm nhận làm không tốt, ảnh hưởng
trực tiếp đến kết quả cuối cùng của quá trình sản xuất. Tỷ lệ vượt
khoán của các hộ giảm dần đồng thời sản phẩm tồn đọng trong dân
cũng ngày càng lớn. Mặt khác, cơ sở hạ tầng nông thôn, nhất là ở các
vùng cao do không có ai lo nên xuống cấp. Các cơ sở sản xuất thủ công
nghiệp, hàng tiêu dùng được “bung ra” để phát triển sản xuất nhưng
hàng hoá lại bị ứ đọng vì giá thành cao, chất lượng kém không cạnh
tranh nổi hàng hoá lưu thông từ nơi khác đến. Thương nghiệp có phần
sôi động nhưng giá cả lại tăng nhanh, lạm phát diễn ra trầm trọng. Đời
sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn.
Tiểu kết, Sau 10 năm đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội
(1976-1985) huyện Lục Yên nói riêng và cả nước nói chung bước vào
giai đoạn cách mạng chuyển từ chiến tranh sang hoà bình, kinh tế lạc
hậu, các thế lực thù địch phá hoại nhiều mặt, nhược điểm chơ chế quản
lý quan liêu bao cấp bộc lộ rõ và trở thành lực cản đối với sự phát triển
kinh tế xã hội. Với hai kế hoạch 5 năm (1976-1980), (1981-1985), Lục


22



Trích đoạn Những thành tựu chủ yếu trong công cuộc phát triển Đời sống của các tầng lớp nhân dân đều đƣợc nâng lên Thực hiện tốt một số chính sách xã hội
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status