ĐẢNG BỘ AN GIANG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986 - 1996) - Pdf 30


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ DIỆU LIÊNG ĐẢNG BỘ AN GIANG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
(1986 - 1996)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ HÀ NỘI 1999

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ DIỆU LIÊNG
ĐẢNG BỘ AN GIANG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
(1986 - 1996)

LỜI CẢM ƠN
Đề tài "Đảng bộ An Giang lãnh đạo phát triển nông nghiệp trong thời
kỳ đổi mới (1986 - 1996)" được hoàn thành với sự hướng dẫn, giúp đỡ tận
tình quý báu của giáo sư Kiều Xuân Bá, được sự giúp đỡ và tạo điều kiện
thuận lợi của trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân Văn (Đại học Quốc
Gia Hà Nội), của trung tâm đào tạo bồi dưỡng giáo viên Mác Lênin, của
trường Cao đẳ
ng sư phạm An Giang, văn phòng Tỉnh ủy An Giang, Sở Khoa
học công nghệ - môi trường tỉnh An Giang, Ban tổ chức chính quyền tỉnh
An Giang cùng các cơ quan ban ngành có liên quan đến đề tài.
Nhân đây cho phép tôi được tỏ lòng thành kính và biết ơn sâu sắc đến
giáo sư Kiều Xuân Bá - người đã dìu dắt hướng dẫn tôi trong thời gian qua,
ban tổ chức lớp cao học tích lũy chứng chỉ của trung tâm đào tạo bồi dưỡng
giáo viên Mác Lênin đã hết lòng hướng d
ẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học.
Tôi xin được cám ơn trường cao đẳng sư phạm An Giang cùng các cơ
quan ban ngành trong tỉnh, cảm ơn các đồng chí, các anh chị và các bạn đã
tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Nguyễn Thị Diệu Liêng - 1 -
PHẦN MỞ ĐẦU
1.

- 2 -
Sản lượng lương thực tăng trưởng nhanh và liên tục, vững chắc, trở thành một
tỉnh đứng đầu cả nước về sản lượng lương thực trong nhiều năm liền ; đời sống ở
nông thôn được cải thiện rõ rệt ; nội bộ nhân dân đoàn kết, chính trị ổn định.
Đảng bộ vững mạnh và từng bước trưởng thành.
Vì sao Đảng bộ và nhân dân An Giang đạt đượ
c những thành tựu tuy là
bước đầu nhưng rất quan trọng như trên ? Những bài học gì có thể rút ra, những
tồn tại gì cần giải quyết để tiếp tục đưa nền nông nghiệp và nông thôn An Giang
đi lên theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong thời gian tới ? Đó là
những vấn đề bức xúc hiện nay. Đó là mục đích và cũng là ý nghĩa khoa học và
thực tiễn của đề tài nghiên cứu này.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI :
Đề tài về phát triển nông nghiệp theo đường lối đổi mới đã được nghiên
cứu và công bố nhiều, song những công trình lớn đều đề cập vấn đề trên tầm vĩ
mô, còn trên địa bàn từng vùng, từng tỉnh thì mới có những bài báo mang tính
chất báo cáo và trao đổi kinh nghiệm. Riêng trên địa bàn An Giang thì chưa thấy
viết như là một công trình khoa học. Điều này không có gì khó hiểu, bởi vì các
đề tài có liên quan đến từng địa phương trước h
ết phải do từng địa phương
nghiên cứu biên soạn, mà ở địa phương thì ít có điều kiện vì thiếu người. Ai đó ở
các cơ quan nghiên cứu trung ương dù có quan tâm thì khó với tới vì gặp nhiều
khó khăn trong việc đi lại khảo sát, sưu tầm tư liệu gốc rất hiếm thấy trong các
sách, báo, ngay cả sách, báo địa phương còn nằm tản mạn trong các cặp hồ sơ
lưu trữ c
ủa các địa phương.
Biết rằng tình hình nghiên cứu sẽ gặp khó khăn, và hơn nữa, khoảng cách
thời gian lịch sử mà đề tài này đề cập hãy còn quá ngắn, tình hình còn đang tiếp
diễn, việc nhận xét đánh giá thật không dễ dàng khi tầm nhìn lịch sử còn chưa đủ
rõ; giữa lịch sử và thời sự khó phân biệt nhau về ranh giới, và do đó, sẽ gặp khó

đoạn lịch sử nhất định. (1986 - 1996).
5. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
:

- 4 -
Như trên đã trình bày trong nhiệm vụ nghiên cứu, đóng góp mới của luận
văn này là :
- Trên cơ sở nguồn tài liệu thu thập được, đối chiếu với các quan điểm của
Đảng về phát triển nông nghiệp, cố gắng đưa ra những nhận định có căn cứ
nhằm làm rõ sự lãnh đạo sáng tạo của Đảng bộ An Giang đối với sự phát triển
nông nghiệp và nông thôn của tỉnh trong th
ời kỳ đổi mới.
- Mặt khác, trình bày một cách có hệ thống đường lối chủ trương đúng
đắn, sáng tạo của Đảng bộ cùng những nỗ lực phấn đấu của nhân dân trong tỉnh
và kết quả đạt được hy vọng sẽ góp phần vào công tác tổng kết, nghiên cứu, biên
soạn lịch sử địa phương về một giai đoạn lịch sử của thời kỳ
đổi mới.
- Ngoài ra, cố gắng lý giải, tìm ra những nguyên nhân thành công của
Đảng bộ An Giang trong lãnh đạo nông nghiệp. Qua đó, bước đầu rút ra những
kinh nghiệm và đề xuất một vài gợi ý nhằm góp phần để Đảng bộ An Giang tiếp
tục lãnh đạo thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp và
nông thôn trên địa bàn An Giang.
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN :

Ngoài phần mở đầu và kết luận, bản luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Thực trạng nền nông nghiệp và nông thôn An Giang sau 10 năm giải
phóng (1975-1986)
Chương 2 : Đảng bộ An Giang lãnh đạo phát triển nông nghiệp và nông thôn
theo đường lối đổi mới của Đảng (1986-1996)
Chương 3 : Tổng luận

nghi cho chăn nuôi gia súc như bò, dê,... cho phát triển lâm nghiệp. Rừng An
Giang có vị trí rất quan trọng trong việc duy trì môi trường sinh thái ổn định

- 6 -
không chỉ riêng đối với An Giang mà còn đối với cả đồng bằng sông Cửu Long.
Rừng tập trung chủ yếu ở hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên. Có 255 ha rừng tự nhiên
thuộc vùng ẩm nhiệt đới, đa số loài cây lá rộng với 154 loài cây quý hiếm thuộc
54 họ phân bổ tự nhiên. Ngoài ra, An Giang còn có hơn 4.000 ha rừng tràm.
Cũng như các tỉnh khác ở đồng bằng sông Cửu long, An Giang nằm trong
vùng nhiệt đới bắc bán cầu, vĩ độ thấ
p, có nguồn năng lượng tự nhiên phong phú
và nguồn mưa ẩm dồi dào, có nhiều yếu tố thuận lợi đối với sản xuất nông - lâm
- ngư nghiệp. Lượng mưa hàng năm là 1.418
mm
, trung bình số giờ nắng trong
năm khoảng 2.500 giờ. Hàng năm, An Giang bị ngập lũ từ tháng 8 đến tháng 11,
nước dâng cao từ 1 m - 2,5 m, có vùng lên đến 3,5 m.
Điều kiện địa lý tự nhiên, khí hậu và thủy văn đã ảnh hưởng ít nhiều đến
sự phân bố dân cư, đặc điểm nhân văn và xã hội. An Giang tuy là vùng đồng
bằng nhưng còn có cả một dãy núi Thất Sơn hùng vĩ với các núi Tô, núi Dài, núi
Cấm, núi Sam, núi Sập...Nh
ững dãy núi ấy không chỉ cung cấp vật liệu xây dựng
khoáng sản, mà còn trang điểm thêm vẻ đẹp thiên nhiên, lại còn tiềm ẩn dấu ấn
của nền văn minh cổ xưa : di chỉ khảo cổ Ốc Eo, những chứng tích lịch sử, văn
hóa vô giá,...Nơi đây còn để lại những vết tích chưa phai mờ về hai cuộc kháng
chiến chống ngoại xâm và cuộc chiến tranh biên giới vừa hào hùng, vừ
a vi thảm,
ghi lại tên tuổi của những anh hùng đã hy sinh cho sự nghiệp bảo vệ tổ quốc.
An Giang là tỉnh có dân số đông nhất ở đồng bằng sông Cửu Long. Theo
thống kê, vào năm 1995, An Giang có 2.004.000 người gồm 48% là nam và 52%

THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA : (1975 - 1986)
Sau thắng lợi oanh liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Việt
Nam bước vào thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước.
Cùng với việc thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước và thiết lập hệ thống
chính trị trong cả nước, một công việc đã được tiến hành nhanh chóng là ra sức
khôi phục và phát triển kinh tế để cải thiện một bước đời sống v
ật chất - văn hóa

- 8 -
cho nhân dân và xây dựng một bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã
hội.
Để phát triển kinh tế, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng
(tháng 12 năm 1976) chủ trương: thực hiện công nghiệp hóa đất nước, đưa nước
ta từ một nước có nền kinh tế sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu là chủ yếu lên
sả
n xuất lớn xã hội chủ nghĩa phải lấy sự phát triển nông nghiệp và công nghiệp
nhẹ làm cơ sở. Do đó, phải tập trung cao độ sức lực của cả nước, của các ngành,
các cấp tạo ra bước phát triển nông nghiệp toàn diện, vượt bậc. Trên lĩnh vực
nông nghiệp, Đại hội chủ trương: phải ra sức phát triển cả trồng trọt và chăn
nuôi, đẩy mạnh nông - lâm - ng
ư nghiệp nhằm sớm đảm bảo lương thực - thực
phẩm cho toàn xã hội và có lương thực dự trữ. Coi trọng cả 3 mặt : thâm canh,
tăng vụ và mở rộng diện tích. Chăn nuôi phải trở thành ngành sản xuất chính,
cân đối với trồng trọt. Phát triển lâm nghiệp theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ
nghĩa. Đồng thời đẩy mạnh khôi phục và phát triển ngư nghiệ
p.
Căn cứ vào phương hướng chỉ đạo của Trung ương và trên cơ sở nắm sát
tình hình thực tiễn địa phương, Đảng bộ An Giang nhận thấy : Sau ngày giải
phóng, An Giang đứng trước những khó khăn lớn : Khó khăn lớn nhất là phải
gánh lấy hậu quả nghiêm trọng của 30 năm chiến tranh, những ảnh hưởng nặng

đông, có tập quán trồng lúa tăng vụ, có khả năng trồng cây công nghiệp ngắn
ngày, trồng hoa màu và có điều kiện chăn nuôi.
Tư tưởng chỉ đạo là: chuyển hầu hết diện tích lúa mùa sang làm lúa t
ăng
vụ, hai lúa một màu để tăng nhanh sản lượng lương thực.
Vùng 2: gồm Châu Phú, Châu Thành, Bảy Núi. Vùng này khó khăn về
thủy lợi, đất chua, ruộng trũng nhưng diện tích khá rộng (55.000 ha).
Tư tưởng chỉ đạo là: giải quyết tốt tưới tiêu và cải tạo đất để mở ra khả
năng trồng hai vụ lúa, ngoài ra còn có khả năng chuyên canh một số cây công
nghiệp ngắn ngày.
Vùng 3 : Vùng có nhiều đồi núi.

- 10 -
Hướng phát triển ở vùng này là ngoài việc trồng lúa còn có khả năng
trồng cây lấy gỗ, cây ăn quả, cây lương thực ít nước và chăn nuôi trâu bò.
Những chủ trương trên đây của Đảng bộ An Giang đã mở ra được khả
năng phát huy được thế mạnh đất đai của tỉnh và hướng nông nghiệp phát triển
toàn diện. Song nhìn chung, trong thời kỳ 5 năm đầu sau giải phóng (1976 -
1980), An Giang gặp rất nhiều khó kh
ăn: cũng như các tỉnh khác ở miền Nam,
An Giang vừa tập trung giải quyết hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại, vừa
khôi phục kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân. Nhiệm vụ chủ yếu là tập trung
khôi phục và bước đầu phát triển nông nghiệp, đặc biệt là tập trung chuyển đổi
một vụ lúa nổi thành hai vụ lúa cao sản ngắn ngày. Theo phương hướng đó, tỉ
nh
đã tập trung đầu tư phát triển thủy lợi, xem thủy lợi là biện pháp hàng đầu trong
khôi phục và phát triển nông nghiệp, chuyển vụ và thâm canh.
Thời kỳ này, ngoài địch họa do cuộc chiến tranh xâm lược của
CamPuChia ở biên giới gây nên, An Giang còn bị thiên tai do hạn hán, lũ lụt xảy
ra liên tiếp.

lũ lụt và cải tạo đồ
ng ruộng.
Trong cơ cấu đầu tư phát triển nông nghiệp, tỉnh chủ trương tập trung đầu
tư cho vùng lúa tăng vụ cao sản và đặc sản, một phần đầu tư thích đáng cho các
cây, con có giá trị như : đậu, mè, bắp, mía, thuốc lá, dâu tằm,… Để thực hiện
phát triển nông nghiệp toàn diện, Đảng bộ chủ trương ra sức phát triển chăn
nuôi, tạo nguồn giống tốt phù hợp vớ
i địa phương và xây dựng mạng lưới thú y,
đồng thời có chính sách khuyến khích nhân dân phát triển nghề đánh bắt, nuôi
tôm cá. Đảng bộ còn khuyến khích phát triển trồng rừng, đề ra chỉ tiêu phấn đấu
đến năm 1985 trồng được 19.000 ha rừng để có được 21.000 ha rừng cây với
120 triệu cây phân tán, kết hợp chặt chẽ lâm nghiệp với nông nghiệp.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, trong thời kỳ 1981 - 1985, nhân dân An
Giang đã
đầu tư nhiều công sức cho công tác phát triển thủy lợi, đảm bảo tưới
tiêu, đê bao chống lũ và cải tạo ruộng vườn. Cùng với công tác thủy lợi, bằng
biện pháp thâm canh, chuyển vụ và luân canh, bước đầu đã hình thành vùng

- 12 -
chuyên canh cây con có giá trị kinh tế như : mía, đậu xanh, đậu nành, cá, bò, gà,
vịt,...
Sản lượng lương thực bình quân đạt 700.000 tấn, riêng năm 1985 đạt
900.000 tấn. Có thể xem đây là bước phát triển vượt bậc trên mặt trận nông
nghiệp của tỉnh nhà.
Ngay từ năm 1976, An Giang đã có hình thức hợp tác dưới dạng tổ đoàn
kết sản xuất. Thực hiện chủ trương của Đại hội đại biểu toàn qu
ốc lần thứ V của
Đảng, An Giang đã đẩy mạnh việc cải tạo xã hội chủ nghĩa về quan hệ sản xuất
trong nông nghiệp. Đến năm 1985, đã xây dựng được 2.607 tập đoàn sản xuất, 7
hợp tác xã, 93% diện tích đất canh tác được tập thể hóa với 86% hộ nông dân

hiệu quả diện tích ruộng đất tại địa phương để tăng sản lượng và góp phần tăng
năng suất lao động. Đây là những tiền đề rất quan trọng để phát triển nông
nghiệp trong chặng đường tiếp theo.
Điều này có liên quan đến vấn
đề chọn lựa mô hình hợp tác hóa.
Chỉ thị 100 của Ban Bí Thư Trung ương về khóa 3 mặc dù đã sớm vận
dụng vào thực tiễn và có nhiều tác động tích cực đến tình hình sản xuất nông
nghiệp, nhưng chỉ sau một vài năm lại bộc lộ những hạn chế. Nguyên nhân cơ
bản của tình trạng trên là do cơ chế khoán này tuy có sự đổi mới theo chiều
hướng tích cực, nhưng nội dung c
ốt yếu của nó vẫn chưa vượt khỏi khuôn khổ
của mô hình quản lý cũ và không đủ sức phá vỡ mô hình đó.
Mô hình hợp tác hóa mà thực chất là tập thể hóa áp dụng ở An Giang đã
mang lại nhiều nhược điểm :
Tập thể hóa ruộng đất và chia đều ruộng đất cho mọi người đã hạn chế
phát triển kinh tế hộ và đặc biệt là không đánh giá đúng vị trí c
ủa kinh tế trung
nông - nhân tố cơ bản phát triển kinh tế nông thôn. Người có kinh nghiệm, có
vốn, làm ruộng có hiệu quả lại không đủ ruộng để sản xuất ; còn người không
làm ruộng, không biết làm ruộng lại được giao ruộng đất. Cách làm như vậy là
biến mọi người thành nông dân, là đi ngược với qui luật phân công lao động,
chuyên môn hóa sản xuất và phát triển sản xuất hàng hóa.
Tập thể hóa đã tách người lao động ra khỏ
i tư liệu sản xuất ; Ruộng đất,
máy móc là nguồn sống của nông dân được giao cho Ban quản lý điều hành.

- 14 -
Những tư liệu ấy trở thành của tập thể chung mà thực chất trở thành vô chủ; vì
vậy đã bị hủy hoại và lạm dụng . Trong khi đó, người người làm ruộng, người
nhận khoán lại không muốn đầu tư, bồi bổ để tăng giá trị đất. Một số người lại

Thực trạng của An Giang và nền kinh tế nông nghiệp An Giang nổi bật
lên một yêu cầu khách quan là phải đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, phải có
những chủ trương đúng đắn hơn, phù hợp hơn, hiệu quả hơn để ổn định và phát
triển nền kinh tế tỉnh nhà. Đó là bối cảnh lịch sử của nền nông nghiệp và nông
thôn An Giang trước khi thực hiện đường l
ối đổi mới của Đảng.

- 16 -
CHƯƠNG 2 :
ĐẢNG BỘ AN GIANG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN THEO ĐƯỜNG LỐI ĐỔI
MỚI CỦA ĐẢNG (1986 - 1996)

2..1 VẬN DỤNG ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG VÀO THỰC TIỄN
ĐỊA
PHƯƠNG AN GIANG :

2.1.1 Thời kỳ 1986 -1990 :
Thực trạng đất nước ta nói chung vào thập kỷ 80 có những khó khăn gay
gắt và phức tạp, mặc dù những cố gắng, nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân đã đạt
được những thành tựu đáng kể. Kinh tế của đất nước lúc đó đã đặt ra một yêu
cầu khách quan bức xúc có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng nước
ta là phải làm xoay chuyể
n tình thế, tạo ra một sự chuyển biến có ý nghĩa quyết
định trên bước đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12 năm 1986) đã
dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng tình hình với những mặt được
và chưa được, mạnh dạn đề ra chủ trương đổi mới toàn diện về lãnh đạ
o, chỉ đạo,
đổi mới tư duy trước hết là tư duy kinh tế.

y : An Giang là tỉnh nông nghiệp, đại bộ phận
dân cư là nông dân. Nói "lấy dân làm gốc" không ai khác chính là nông dân; vậy
muốn phát triển nông nghiệp phải coi nông dân là chủ thể của quá trình đổi mới
và nông thôn là địa bàn chiến lược.
Cùng với việc đề ra các giải pháp để phát triển sản xuất, Đảng bộ đã bố trí
lại cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư, sắp xếp bố trí lại việc phân vùng
đất đai
trong tỉnh cho phù hợp hơn. Cụ thể như sau :
Vùng 1: chỉ bao gồm 3 huyện cù lao : Phú Châu, Phú Tân, Chợ Mới.
Vùng này giao thông thuận lợi, đất đai màu mỡ, lực lượng lao động dồi
dào, có điều kiện phát triển nông - lâm - ngư nghiệp toàn diện, phát triển ngành
nghề truyền thống và chế biến thủy sản.
Tư tưởng chỉ đạo là đầu tư thâm canh theo chiều sâu.

- 18 -
Vùng 2 : là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh gồm : Long
Xuyên, Châu Đốc, Châu Thành, Châu Phú, Thoại Sơn. Đây là vùng có tiềm năng
nông nghiệp lớn.
Biện pháp chủ yếu để phát triển nông nghiệp ở vùng này là : thâm canh,
tăng vụ, chuyển vụ.
Vùng 3: gồm 2 huyện Tri Tôn, Tịnh Biên. Đây là địa bàn có vị trí chiến
lược về quốc phòng, đất rộng, người thưa, có tiềm năng lâm sản và khoáng sản
phong phú.
Biện pháp chủ yếu là phát tri
ển thủy lợi, đầu tư khoa học kỹ thuật, mở
rộng diện tích, chuyển vụ, thâm canh.
Trên cơ sở phân vùng kinh tế, các địa phương trong tỉnh xác định những
tiểu vùng để bố trí cơ cấu sản xuất, sắp xếp vụ mùa gieo trồng theo công thức
phù hợp.
Để phát triển trồng trọt, Đại hội đề ra chủ trương chỉ đạo : Phải sớm hình

viên trong việc xây dựng kế hoạch, quản lý tài sả
n, vật tư, phân phối sản
phẩm,...Trong khi đẩy mạnh phát triển ngành nghề cần gắn nông nghiệp với
công nghiệp theo hướng kinh doanh tổng hợp và hạch toán kinh tế nhằm đạt hiệu
quả ngày càng cao. Lấy sản xuất phát triển ổn định và từng bước cải thiện đời
sống nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng, xây dựng nông thôn mới làm mục
tiêu quan trọng hàng đầu.
Nhằm thực hiện những ch
ủ trương về đổi mới kinh tế nêu trên, sau Đại
hội của tỉnh Đảng bộ An Giang đã đề ra nhiều chính sách cụ thể có tác dụng làm
chuyển biến mạnh mẽ sự phát triển nông nghiệp trong tỉnh. Đó là:
- Chính sách khuyến khích khai thác các vùng đất hoang hóa, đất đồi
núi trọc, vùng tứ giác Long Xuyên:
Nội dung chính sách này là : mạnh dạn giao đất ruộng, đất núi hoang hóa
cho gia đình và tập thể, xóa khái niệm "xâm canh", cho phép nông dân trong tỉnh
được khai hoang, phục hóa rộng rãi theo qui ho
ạch và miễn thuế theo chính sách.

- 20 -
Ai có vốn, có sức lao động thì nhận đất để sản xuất, trồng tràm, trồng cây công
nghiệp dài ngày có giá trị xuất khẩu và cây lấy gỗ với diện tích rộng và thời gian
dài.
Với chính sách này, An Giang đã cơ bản giải quyết được tình trạng để đất
hoang hóa ngay trong năm 1988. Người có khả năng về vốn và lao động ở các
huyện, xã khác trong tỉnh có thể đến các huyện vùng núi, các vùng đất còn bỏ
hoang để nhận
đất, khai hoang và sản xuất.
Do kết quả tiềm năng nông nghiệp của An Giang còn hết sức khiêm tốn
nên vào năm 1988, năm đầu tiên thực hiện đường lối đổi mới, Đảng bộ An
Giang quyết định thực hiện chính sách khai thác vùng tứ giác Long Xuyên, đưa

được qui định cụ thể như sau :
+ Đất đai đã được chia cấp bao gồm đất tịch thu của địa chủ, việt
gian, nhà thờ, chùa chiền,...đang sử dụng có hiệu quả phải giữ nguyên canh để
ổn định sản xuất.
+ Tiếp tục thu hồi các loại đất bao chi
ếm, đất sử dụng không hiệu
quả của các nông, lâm trường quốc doanh, các cơ quan, đơn vị,...; ưu tiên cấp
cho người sử dụng cũ.
+ Nghiêm cấm mua bán đất đai, nhưng cho nông dân có quyền
sang nhượng, thừa kế huê lợi và thành quả lao động trên ruộng đất đang sản
xuất. Vận động những người được cấp đất nhưng không phải làm ruộng là chính
hiệu quả thấp nhượ
ng lại cho người sản xuất hiệu quả cao hơn dưới sự hướng
dẫn của chính quyền địa phương.
+ Trên diện tích đất qui hoạch chuyển vụ, người đang canh tác
được quyền chọn trước để sản xuất theo khả năng, không hạn chế diện tích. Số
đất còn lại được sang nhượng cho người khác. Thuế được tính theo chính sách
ưu đãi nhằm khuyến khích khai hoang, chuyển vụ.
Các trườ
ng hợp tranh chấp đất phải được giải quyết bằng con đường thỏa
thuận giữa các bên có liên quan, hoặc được ủy ban nhân dân tỉnh hướng dẫn giải
quyết theo luật đất đai và theo đúng các quan điểm của tỉnh ủy.

Trích đoạn MỘT VÀI GỢI Ý VỀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN AN GIANG THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO :
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status