Thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện phương thức thanh toán quốc tế bằng tín dụng thư tại Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam - pdf 28

Download miễn phí Đề tài Thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện cách thanh toán quốc tế bằng tín dụng thư tại Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam



Lời mở đầu 1
Chương I: Lý luận chung về thanh toán quốc tế và tín dụng chứng từ 2
I- Khái quát chung về thanh toán quốc tế 2
1. Thanh toán quốc tế 2
2. Vai trò của thanh toán quốc tế 2
3. Các cách trong thanh toán quốc tế 3
II- cách tín dụng chứng từ: 5
1. Quy trình nghiệp vụ cách tín dụng chứng từ: 5
2. Đặc điểm của cách tín dụng chứng từ so với các cách khác: 7
3. Ưu nhược điểm của cách tín dụng chứng từ: 8
a. Ưu điểm: 8
b. Nhược điểm: 9
 
Chương II: Thực trạng áp dụng cách tín dụng chứng từ tại ngân hàng ngoại thương việt nam (VCB) 10
I- Vài nét khái quát về Ngân hàng ngoại thương 10
1. Hoàn cảnh ra đời: 10
II- Tình hình hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu bằng tín dụng chứng từ tại NHNT 10
1. Hoạt động thanh toán xuất khẩu 10
a. Quy trình nghiệp vụ cụ thể: 10
b. Tình hình hoạt động thanh toán xuất khẩu hàng hoá dịch vụ tai VCB 14
2. Hoạt động thanh toán nhập khẩu: 16
a. Quy trình nghiệp vụ cụ thể: 16
b. Tình hình hoạt động thanh toán nhập khẩu hàng hoá dịch vụ tại VCB: 19
3. Những kết quả và tồn tại trong thanh toán L/C của VCB 20
3.1. Kết quả: 20
3.2. Những tồn tại trong thanh toán L/C của VCB: 21
 
Chương III: GiảI pháp nhằm hoàn thiện cách tín dụng chứng từ tại ngân hàng ngoại thương việt nam 25
1. Mục tiêu phát triển trong lĩnh vực thanh toán quốc tế tại VCB 25
2. Các giải pháp nhằm hoàn thiện cách tín dụng chứng từ tại ngân hàng ngoại thương việt nam VCB 26
2.1. Giải pháp ở tầm vĩ mô 26
2.2. Giải pháp ở tầm vi mô 27
Lời kết 31
Phụ lục 32
Tài liệu tham khảo
 





Để tải tài liệu này, vui lòng Trả lời bài viết, Mods sẽ gửi Link download cho bạn ngay qua hòm tin nhắn.

Ket-noi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn


Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ket-noi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:


ảm ký quỹ các bộ phận có liên quan sẽ nghiên cứu đề xuất trình hội đồng tín dụng hay lãnh đạo ngân hàng quyết định.
Trường hợp L/C được phát hành bằng vốn vay của VCB thì thanh toán viên sẽ căn cứ vào phiếu duyệt phát hành L/C của bộ phận tín dụng đã được ban lãnh đạo VCB phê duyệt để phát hành L/C.
Trường hợp L/C được phát hành do bên thứ ba bảo lãnh thì thanh toán viên sẽ căn cứ vào thư bảo lãnh của bên thứ ba đã được lãnh đạo ngân hàng duyệt để phát hành L/C.
Nếu các điều kiện trên được người nhập khẩu thực hiện đầy đủ thì VCB sẽ tiến hành mở thư tín dụng (theo phụ lục 11a).
Bước 3:
Thanh toán viên ( thay mặt cho ngân hàng phát hành VCB) thông báo là đã phát hành L/C cho ngân hàng thông báo và nhà nhập khẩu.
Thanh toán viên mở L/C cho khách hàng đăng ký số tham chiếu L/C và đưa dữ liệu vào máy tính. Nếu L/C được phát hành bằng điện thì phải có testkey hay phát hành bằng máy swift thì sử dụng mẫu điện MT700, MT701 hay bằng thư thì sử dụng toàn bộ 2 mẫu điện trên kèm thư theo mẫu.
Thanh toán viên sẽ thu phí phát hành L/C
Toàn bộ hồ sơ cùng thu phát hành L/C được trình phụ trách phòng ký duyệt giao một văn bản sao cho khách hàng (người nhập khẩu), lưu hồ sơ theo dõi và đồng thời thông báo cho ngân hàng của người xuất khẩu biết.
Sau khi phát hành L/C nếu khách hàng có yêu cầu sửa đổi thì phải xuất trình thư yêu cầu sửa đổi L/C (phụ lục 10) kèm văn bản thoả thuận giữa người mua và người bán (nếu có) và thu phí sửa đổi. Phí sửa đổi phải ghi rõ do người mua hay người bán chịu. Căn cứ vào yêu cầu của khách hàng thanh toán viên sẽ phát hành sửa đổi gửi ngân hàng thông báo: sửa đổi có thể lập bằng swift MT707, có telex có mã hay bằng thư có đầy đủ chữ ký được uỷ quyền.
*Tiếp nhận chứng từ, kiểm tra chứng từ, giao chứng từ và thanh toán:
Bước 4,5:
Ngân Hàng thông báo khi nhận được bộ hồ sơ L/C từ ngân hàng phát hành sẽ kiểm tra thông báo cho người xuất khẩu biết để người xuất khẩu giao hàng đồng thời lập điện đòi tiền tới ngân hàng phát hành. Phòng thanh toán nhập nhận được thông báo đòi tiền sẽ chuyển tới thanh toán viên đảm nhận để kiểm tra.
+ Nếu chứng từ đòi tiền bằng điện:
Thanh toán viên kiểm tra chứng từ xem có phù hợp với nội dung, số lượng so với các điều khoản quy định trong L/C và sửa đổi trong L/C (nếu có). Nếu chứng từ phù hợp thì ghi ý kiến của mình trên phiếu kiểm tra sau đó trình kiểm soát viên hay phụ trách phòng ký duyệt và căn cứ vào quyết định của phụ trách phòng để trả tiền và thông báo cho khách hàng (người nhập khẩu) (phụ lục 11b).
Nếu điện thông báo chứng từ không phù hợp thanh toán viên phải lập thông báo cho người nhập khẩu kèm một bản sao điện cho ngân hàng thông báo rằng chứng từ đòi tiền có sai sót (phụ lục 12).
Trong trường hợp nhà nhập khẩu chấp nhận sai sót và đồng ý thanh toán thì ngân hàng sẽ thanh toán cho nhà xuất khẩu qua ngân hàng thông báo.
Trong trường hợp người nhập khẩu không chấp nhận sai sót hay chấp nhận một phần thì thanh toán viên sẽ lập điện từ chối thanh toán hay chấp nhận thanh toán một phần trình phụ trách phòng ký duyệt và gửi lại cho ngân hàng thông báo chờ xử lý ghi rõ “Chúng tối đang giữ chứng từ chờ sự định đoạt của các ông. Chúng tui giành quyền đòi tiền từ phía các ông, trong vòng 7 ngày làm việc, chậm nhât ngày… không nhận được ý kiến trả lời từ phía các ông, chúng tui sẽ trả lại chứng từ và các ông phải có trách nhiệm hoàn trả tiền cho chúng tui đầy đủ cả gốc và lãi phát sinh vào tài khoản…”
Hiện nay thủ tục phí thanh toán tại VCB là tối đa 330 USD và phí bưu điện có thuế VAT cố định là 22 USD.
Đối với những chứng từ mà ngân hàng thông báo điện thông báo có sai sót nhà xuất khẩu chưa chấp nhận sai sót đó VCB đã điện từ chối và qua kiểm tra bộ chứng từ phát hiện thêm lỗi thì thanh toán viên phải lập thông báo trình phụ trách phòng để tiếp tục từ chối thanh toán và ghi rõ chờ sự định đoạt của ngân hàng thông báo đồng thời thông báo để nhà nhập khẩu cho ý kiến. Nếu nhà nhập khẩu đồng ý thanh toán thì thanh toán viên sẽ lập điện trả tiền và thu phí sai sót.
+ Nếu chứng từ đòi tiền bằng thư.
Nếu chứng từ phù hợp, lập thông báo cho người nhập khẩu (phụ lục 13). Sau 3 ngày làm việc mà khách hàng không có ý kiến gì thì thanh toán viên thực hiện trả tiền theo chỉ dẫn của L/C và quy định của VCB.
Nếu chứng từ không phù hợp thanh toán viên sẽ lập điện từ chối thanh toán gửi ngân hàng thông báo và chỉ ra những điểm không hợp lệ đồng thời thông báo cho người nhập khẩu (theo phụ lục12) và yêu cầu người nhập khẩu hay ngân hàng thông báo trả lời trong vòng 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của VCB. Nếu nhà nhập khẩu chấp nhận sai sót và đồng ý thanh toán thì thanh toán viên thanh toán và thu phí sai sót. Nếu nhà nhập khẩu thừ chối thanh toán hay chấp nhận thanh toán một phần thì thông báo cho ngân hàng của người xuất khẩu biết và chờ chỉ thị của họ để xử lý.
Bước 6:
VCB trao bộ chứng từ cho người nhập khẩu để họ đi nhận hàng. Việc giao chứng từ cho khách hàng chỉ được thực hiện khi khách hàng có đủ tiền để thanh toán bộ chứng từ và các chi phí có liên quan (nếu có). Khi giao chứng từ cho khách hàng thì chứng từ phải yêu cầu khách hàng ký nhận ghi rõ ngày giờ nhận và tên người nhận…
b. Tình hình hoạt động thanh toán nhập khẩu hàng hoá dịch vụ tại VCB:
So với nhiều nước trên Thế Giới nền kinh tế Việt Nam có mức tăng trưởng chậm. Hệ thống cơ sở hạng tầng yếu kém cộng với công nghệ sản xuất lạc hậu cùng với một số khó khăn do điều kiện khách quan làm cho nền kinh tế càng trở nên tụt hậu. Chính vì lẽ đó nhu cầu nhập khẩu đối với Việt Nam là rất lớn. Và cơ hội cung cấp dịch vụ thanh toán quá trình quốc tế qua ngân hàng là rất cần thiết.
VCB là ngân hàng chuyên cung cấp các sản phẩm dịch vụ liên quan đến quan hệ với nước ngoài từ 1994 trở về trước do đóng vai trò độc quyền trong lĩnh vực quan hệ đối ngoại nên 100% các khoản thanh toán ra nước ngoài đều qua VCB. Sau khi mất thế độc quyền khối lượng thanh toán nhập khẩu tuy có giảm song vẫn duy trì ở mức độ lớn.
Trong những năm trở lại đây thị phần thanh toán nhập khẩu qua VCB giảm đáng kể thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3: Thị phần thanh toán nhập khẩu qua VCB
Năm
Thị phần thanh toán nhập khẩu
So với tổng Xuất Nhập Khẩu (%)
So với cả nước (%)
1998
60.37
49.0
1999
61.30
32.0
2000
57.73
30.0
2001
51.50
30.5
(Nguồn: Báo cáo thanh toán quốc tế của VCB)
Kết quả trên cho thấy thị phần thanh toán nhập khẩu qua VCB chiếm 49% lượng thanh toán của cả nước thì đến năm 2000 giảm xuống còn 30% và đến năm 2001 có tăng lên một trút chiếm 30.5%. Có thể là do một số nguyên nhân sau:
Do chính sách hạn chế nhập khẩu của nhà nước đối với một số mặt hàng chưa cần thiết phải nhập khẩu, do tiết kiệm tiêu dùng và bắt đầu quy định việc dán tem đối với các mặt hàng nhập khẩu.
Do số lượng Ngân hàng thương mại quốc doanh, thương mại cổ phần tăng lên đáng kể nên có sự cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng về dịch vụ thanh toán.
So v...
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status