MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Chương 1 CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG BẢO VỆ TUYẾN
BIÊN GIỚI ĐẤT LIỀN VIỆT NAM - TRUNG QUỐC CỦA
ĐẢNG BỘ BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG (1996 - 2001)
1.1.
Yêu cầu khách quan vận động quần chúng bảo vệ tuyến biên
giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc (1996 - 2001)
1.2.
Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Bộ đội Biên phòng về
công tác vận động quần chúng bảo vệ tuyến biên giới đất liền
Việt Nam - Trung Quốc (1996 - 2001)
Chương 2 ĐẢNG BỘ BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH
CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG BẢO VỆ TUYẾN
BIÊN GIỚI ĐẤT LIỀN VIỆT NAM - TRUNG QUỐC (2001 - 2006)
2.1.
Nhân tố mới và yêu cầu đẩy mạnh công tác vận động quần chúng bảo
vệ tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc (2001 - 2006)
2.2.
Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Bộ đội Biên phòng
đẩy mạnh công tác vận động quần chúng bảo vệ tuyến biên
giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc (2001 - 2006)
Chương 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
3.1.
Một số nhận xét về quá trình Đảng bộ Bộ đội Biên phòng
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT
1
2
3
4
5
6
7
Chữ viết đầy đủ
Bộ đội Biên phòng
Công tác dân vận
Hệ thống chính trị
Kinh tế - xã hội
Khu vực biên giới
Nhà xuất bản
Vận động quần chúng
Chữ viết tắt
BĐBP
CTDV
HTCT
KT-XH
KVBG
Nxb
VĐQC
6
cuộc sống; hướng dẫn, tổ chức quần chúng nhân dân tham gia đấu tranh phòng,
chống các hoạt động vi phạm chủ quyền lãnh thổ và các loại tội phạm ở KVBG;
xây dựng “nền biên phòng toàn dân” vững mạnh góp phần bảo vệ vững chắc chủ
quyền, an ninh biên giới quốc gia.
Tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc là biên giới “mở”, “núi
liền núi, sông liền sông”, chiếm vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị, quốc
phòng - an ninh và đối ngoại. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ BĐBP, sự
giúp đỡ và tạo điều kiện về mọi mặt của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, sự
phối hợp hiệp đồng của các ngành, các lực lượng, công tác VĐQC bảo vệ
tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc đã đạt được những kết quả tích
cực. Tuy nhiên, do lịch sử để lại, đường biên giới chứa đựng nhiều yếu tố tranh
chấp phức tạp. Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ vào ngày
10/11/1991, đặc biệt sau khi Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và
Trung Quốc được ký ngày 30/12/1999, tình hình trên biên giới có những thuận
lợi cơ bản, song trên thực tế, xuất hiện nhiều diễn biến mới hết sức phức tạp
như: Hoạt động lấn chiếm biên giới, xâm canh, xâm cư, xâm táng, xây kè, đắp
đập, nắn dòng chảy sông, suối trên biên giới … xâm phạm đến độc lập chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.
Mặt khác, tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc là địa bàn
thường xuyên bị các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện chiến lược “diễn biến
hòa bình”, kích động bạo loạn lật đổ; bọn phản động lưu vong xâm nhập cấu
kết với bọn phản động trong nước đẩy mạnh tuyên truyền, kích động chống,
phá cách mạng Việt Nam; tình hình di dịch cư tự do gắn với phát triển đạo trái
pháp luật; hoạt động của các loại tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức xuyên
quốc gia diễn biến hết sức phức tạp. Những tồn tại trên ảnh hưởng trực tiếp đến
công tác VĐQC bảo vệ biên giới của BĐBP, đã và đang đặt ra nhiều vấn đề
mới, đòi hỏi Đảng bộ BĐBP nâng cao năng lực lãnh đạo công tác VĐQC đáp
ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ biên giới trong tình hình mới.
8
Về không gian: Đảng bộ BĐBP lãnh đạo công tác VĐQC bảo vệ tuyến
biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc trên phạm vi 07 tỉnh (Quảng Ninh,
Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên).
Về thời gian: Từ năm 1996 đến năm 2006, tuy nhiên để đảm bảo tính
hệ thống và đạt được mục đích nghiên cứu, luận án có đề cập đến những nội
dung có liên quan trước và sau 10 năm nói trên.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nhiên cứu
Cơ sở lý luận: Đề tài nghiên cứu dựa trên hệ thống những quan điểm cơ
bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản
Việt Nam về công tác VĐQC.
Cơ sở thực tiễn: Đề tài luận án được xây dựng trên cơ sở hoạt động
thực tiễn lãnh đạo công tác VĐQC của Đảng bộ BĐBP; các báo cáo sơ kết,
tổng kết của BĐBP về công tác VĐQC trên tuyến biên giới đất liền Việt Nam Trung Quốc và số liệu khảo sát thực tiễn tại một số tỉnh. Đồng thời, tham khảo
kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trong và ngoài nước có liên quan
đã công bố để giải quyết các vấn đề nghiên cứu đặt ra.
Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu
của khoa học chuyên ngành và liên ngành, trong đó chú trọng kết hợp các
phương pháp: Lịch sử và lôgic; phương pháp phân tích, thống kê, so sánh,
tổng hợp; phương pháp điều tra xã hội học, khảo sát thực tế và phương pháp
chuyên gia.
6. Những đóng góp mới của luận án
Luận án góp phần tổng kết hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ BĐBP về
công tác VĐQC bảo vệ tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc; rút ra
nhận xét và đúc rút kinh nghiệm lịch sử về công tác VĐQC bảo vệ biên giới
của BĐBP từ năm 1996 đến năm 2006 để vận dụng vào hiện thực.
tác biên phòng. Do đó, BĐBP muốn hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ biên cương
phải “tích cực giúp đỡ nhân dân vùng biên cương và bờ biển phát triển sản xuất,
làm phồn vinh nền kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân vùng biên cương và
bờ biển, tăng cường sức mạnh vật chất cho Bộ đội Biên phòng” [115, tr.600].
Tác giả Mao Trấn Phát chủ biên cuốn sách “Bàn về Biên phòng (Biên
phòng luận)” [118]. Biên phòng luận là công trình lý luận khá toàn diện về
công tác biên phòng của Trung Quốc, bao gồm những vấn đề quan trọng về
chính trị, kinh tế, ngoại giao, quân sự, văn hóa, dân tộc khu vực biên cương
và hải cương. Bàn về công tác xây dựng kinh tế và xã hội ở KVBG, tác giả
xác định: Phải tích cực giúp đỡ và chi viện xây dựng kinh tế vùng biên cảnh
và ven biển là một nhiệm vụ quan trọng của Bộ đội Biên phòng.... Đồng thời,
với việc giúp đỡ xây dựng kinh tế địa phương, cần tích cực thúc đẩy và tham
gia xây dựng văn minh tinh thần khu vực biên cảnh.
11
Tác giả đã nghiên cứu những vấn đề chung về lãnh thổ và cương giới
quốc gia, lịch sử biên phòng Trung Quốc qua các thời kỳ, tranh chấp biên giới
trên thế giới và biên phòng của các quốc gia; đưa ra những định hướng về nhận
thức và chỉ đạo công tác biên phòng thời kỳ mới, những suy nghĩ vĩ mô về tăng
cường xây dựng biên phòng Trung Quốc. Tác giả cho rằng, BĐBP và các cơ
quan biên phòng khác cần phát huy truyền thống vinh quang của quân đội, coi
việc tăng cường đoàn kết dân tộc, gắn chặt mối quan hệ giữa quân đội với
chính quyền và giữa quân đội với nhân dân, thúc đẩy và giữ gìn sự đoàn kết
ổn định ở KVBG là một nhiệm vụ cơ bản của xây dựng quốc phòng.
Từ đó, tác giả đã đưa ra yêu cầu cơ bản đối với BĐBP khi thực hiện
công tác VĐQC ở biên cương: “Bộ đội Biên phòng và các cơ quan biên
phòng khác cần tổ chức bộ đội học tập chính sách dân tộc của Đảng, khuyến
khích cán bộ và chiến sĩ học tập ngôn ngữ của các dân tộc ít người, bồi dưỡng
một loạt cán bộ cốt cán biết nói tiếng dân tộc địa phương, hiểu chính sách dân
hợp giữa khu vực biên giới với các vùng khác trong cả nước, đẩy nhanh các
bước xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa ở vùng biên” [145, tr.262],
cuốn sách đã đề xuất hệ thống các biện pháp thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ
chương trình “Hưng biên phú dân”. Xác định vai trò của BĐBP trong thực
hiện chương trình, nội dung, biện pháp động viên thành phần xã hội hỗ trợ để
xây dựng và phát triển vùng biên giới. “Phát huy thế mạnh và vai trò của Bộ
đội Biên phòng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng vùng biên, xóa đói giảm
nghèo, giáo dục tuyên truyền, phát động rộng rãi phong trào dân quân cùng
tham gia xây dựng vùng biên” [145, tr.272]. Từ đó, cuốn sách cũng đã xác
định phương hướng, biện pháp để BĐBP tham gia thực hiện chương trình
“Hưng biên phú dân”. “Các đồn Biên phòng phải xây dựng các phương án cụ
thể để thực hiện kế hoạch, làm đến nơi đến chốn các nhiệm vụ” [145, tr.274].
Trên cơ sở nghiên cứu những điểm tương đồng giữa Việt Nam và Trung
Quốc về vấn đề dân tộc và cải cách ở Trung Quốc, đổi mới ở Việt Nam tại khu
vực sinh sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở hai nước. Chính sách dân tộc
của Trung quốc và Việt Nam đều phải tập trung phát triển KT-XH vùng dân tộc
13
thiểu số, vừa bảo tồn và phát huy được tính đa dạng của văn hóa các dân tộc.
Trên thực tiễn, Chiến lược “Hưng biên phú dân” ở Trung Quốc đã, đang được
tiến hành và thực hiện thành công ở hai tỉnh biên giới tiếp giáp với Việt Nam là
Quảng Tây và Vân Nam, được đồng bào dân tộc thiểu số hết sức hoan nghênh và
ủng hộ, góp phần xây dựng thắng lợi xã hội hài hòa ở Trung Quốc. Đồng thời,
cuốn sách đã phân tích và rút ra những bài học kinh nghiệm góp phần nêu lên
những kiến nghị mang tính gợi mở, cung cấp luận cứ khoa học cho các chủ
trương, chính sách nhằm phát triển và ổn định đối với vùng dân tộc thiểu số ở
KVBG Việt Nam - Trung Quốc.
2. Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài
2.1. Các công trình nghiên cứu về công tác vận động quần chúng
chiến, quyết thắng của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Công tác dân vận thực sự là một trong những điều kiện quan trọng để
quân đội ta rèn luyện, xây dựng bản chất cách mạng và truyền thống tốt
đẹp “Trung với Đảng, hiếu với dân…” xây dựng nên mối quan hệ máu
thịt quân - dân, tạo thành nguồn sức mạnh vô địch và ý chí quyết chiến,
quyết thắng mọi kẻ thù, góp phần làm rạng danh Tổ quốc và dân tộc Việt
Nam trong thời đại mới [136, tr.16].
Sách Lý luận và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác
dân vận [110]. Cuốn sách đã sưu tầm và tập hợp hơn 30 bài viết của các đồng chí
lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bộ, ban, ngành và các nhà khoa học trong cả nước.
Nội dung cuốn sách là những phân tích sâu sắc, toàn diện, làm nổi bật cơ sở lý
luận, thực tiễn và kinh nghiệm của CTDV trong thời gian qua. Các bài viết đã cho
thấy rõ, dân vận là công tác rộng lớn, nhạy cảm, bao trùm mọi mặt của đời sống,
do đó, phải luôn đúc rút từ hoạt động thực tiễn để kịp thời định ra chủ trương,
chính sách hợp lòng dân, thể hiện đúng tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Đảng.
Cuốn sách tiếp tục khẳng định tính chân lý, khoa học tư tưởng của chủ
tịch Hồ Chí Minh đối với CTDV: “Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém
15
thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” [112, tr.700].
CTDV là nhiệm vụ chiến lược của Đảng, một trong những công tác cơ bản, có
tính chiến lược, gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt
Nam; là truyền thống, nguồn gốc sức mạnh của Đảng, là mối quan hệ gắn bó
máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tạo phong trào rộng lớn xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước đòi hỏi phải thực hiện tốt CTDV trong thời kỳ mới.
Tác giả Bùi Văn Huấn viết bài Nâng cao hiệu quả công tác dân vận của
Quân đội nhân dân trong thời kỳ mới [90]. Trong bài viết, tác giả đã khẳng
hiện và bảo vệ lợi ích của nhân dân; thực hành dân chủ là phương thức cơ bản của
CTDV; dân vận phải hướng tới mục tiêu đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, xây
dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; dân
vận và CTDV là sự nghiệp của cả HTCT, của toàn dân dưới sự lãnh đạo của
Đảng, sự quản lý của Nhà nước thông qua Mặt trận dân tộc thống nhất. Trên cơ sở
phân tích, đánh giá thực trạng CTDV, tác giả chỉ rõ: muốn bảo vệ vững chắc chủ
quyền an ninh biên giới quốc gia, Đảng và Nhà nước cần có những chính sách
phát triển KT-XH thích hợp, nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần của nhân dân các dân tộc ở KVBG và làm tốt công tác VĐQC.
Tác giả Hà Thị Khiết viết bài Một số bài học kinh nghiệm trong công tác
dân vận của Đảng sau gần 25 năm đổi mới [95]. Tác giả đã khẳng định: Những
chủ trương, chính sách về CTDV, về đại đoàn kết dân tộc, về xây dựng giai
cấp công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, thanh niên, phụ nữ, về tôn
giáo, dân tộc, người Việt Nam ở nước ngoài... lần lượt được xác định và ngày
càng được hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích những kết quả đạt được và chỉ ra
những tồn tại, khó khăn trong CTDV của Đảng gần 25 năm đổi mới, tác giả
chỉ rõ: thường xuyên củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn
dân tộc, để CTDV ngày càng được triển khai sâu rộng trong các cấp, các
ngành, các lĩnh vực và trong quần chúng nhân dân; đồng thời, huy động được
17
sức mạnh tổng hợp của cả HTCT và nhân dân thực hiện thành công các nhiệm
vụ chính trị, mục tiêu phát triển KT-XH mà Đảng và Nhà nước đề ra.
Tác giả Hà Thị Khiết viết bài Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác vận động quần chúng trong tình hình mới [96]. Tác giả đã khẳng định:
“công tác vận động quần chúng là nhiệm vụ chiến lược, phải được tiến hành
thường xuyên trong mọi hoàn cảnh, trên mọi địa bàn, đối với mọi tầng lớp
nhân dân các dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài” [96, tr.3].
Trong điều kiện đất nước có sự thay đổi ngày một cơ bản và toàn diện: KT-XH
Tác giả Phạm Hồng Chương viết bài Quán triệt tư tưởng dân vận của
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác Biên phòng. Trong bài viết tác giả đã
nhấn mạnh: Quán triệt tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh vào CTDV của
BĐBP là phải hết sức chú ý tới đặc điểm của mỗi dân tộc, mỗi địa phương để
tiến hành một cách thích hợp việc thông tin, tuyên truyền, giáo dục để dân
biết, tìm ra các hình thức phù hợp để dân bàn, tổ chức các hình thức phù hợp
để dân làm và kiểm tra.
Bàn về xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sỹ Bộ đội Biên phòng làm
CTDV theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả chỉ rõ: “Cán bộ, chiến sỹ lực lượng
biên phòng phải luôn gắn bó với nhân dân, với thực tiễn, phải mắt trông, tai
nghe, chân đi” [93, tr.319]. Theo tác giả, người làm CTDV không nhìn thấy,
không nghe thấy, không đi đến từng bản, từng người dân không thể nói tới tổ
chức nhân dân tham gia bảo vệ an ninh biên giới, không thể đổi mới phương
thức hoạt động trước sự thay đổi của tình hình, sẽ dẫn tới làm việc theo ý
kiến, tư tưởng chủ quan của mình rồi đem đặt vào quần chúng. Như vậy, hiệu
quả công tác VĐQC xây dựng và bảo vệ biên giới sẽ không cao, không
phát huy được sức mạnh và lực lượng của quần chúng nhân dân vào sự
nghiệp bảo vệ biên giới quốc gia.
Tác giả Đặng Vũ Liêm viết bài Biên phòng đổi mới công tác vận động
quần chúng tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới theo quan
19
điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ thực tiễn công
tác VĐQC của BĐBP, tác giả chỉ rõ: “Trong quá trình đổi mới công tác vận
động quần chúng phải nắm vững định hướng và quán triệt các quan điểm của
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác dân vận” [93,
tr.372]. Để đổi mới công tác VĐQC tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền, an
ninh biên giới quốc gia theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng
Cộng sản Việt Nam, BĐBP cần quán triệt tốt những nội dung: Nắm vững và
biên phòng tại chỗ, chống lấn chiếm biên giới” [93, tr.229].
Tác giả Đặng Vũ Liêm chủ nhiệm Đề tài khoa học cấp Tổng cục
Chính trị Nâng cao hiệu quả công tác vận động quần chúng của Bộ đội Biên
phòng trong đấu tranh phòng chống truyền đạo trái phép ở địa bàn biên
giới Tây Bắc hiện nay [138]. Đề tài nghiên cứu những cơ sở khoa học của
công tác VĐQC trong phòng chống truyền đạo trái phép ở địa bàn biên giới
Tây Bắc, trong đó khẳng định vai trò quan trọng của công tác VĐQC trong
phòng chống truyền đạo trái phép, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới Tổ
quốc. Tác giả nhấn mạnh: “Chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh chính trị
vùng biên giới chỉ có thể được giữ gìn và bảo vệ vững chắc trong mọi tình
huống khi và chỉ khi tạo lập được một thế trận biên phòng toàn dân vững
chắc” [138, tr.54]. Vì vậy, nội dung quan trọng xuyên suốt nhất của công tác
biên phòng là phải xây dựng cho được “thế trận lòng dân” nơi biên giới, với
biện pháp cơ bản, nền tảng là công tác VĐQC.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác VĐQC của BĐBP và dự báo tình
hình liên quan đến vấn đề truyền đạo trái phép trên địa bàn biên giới Tây Bắc
trong tình hình mới; trước âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch,
tác giả khẳng định: “Công tác vận động quần chúng có vai trò, vị trí hết sức quan
trọng, nhằm giữ vững lòng dân, củng cố mối quan hệ giữa Đảng với chính quyền,
tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc” [138, tr.114].
21
Tác giả Hoàng Xuân Lương chủ nhiệm Đề tài cấp ngành Công tác vận
động quần chúng của Bộ đội Biên phòng tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền an
ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới [107]. Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý
luận và thực tiễn công tác VĐQC tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh
biên giới quốc gia, tác giả đã đề cập đến những đặc điểm chi phối công tác
VĐQC chúng của BĐBP và đưa ra dự báo tình hình có liên quan đến công tác
VĐQC; về vị trí, mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ công tác VĐQC; về nội dung,
Trước yêu cầu, nhiệm vụ của công tác biên phòng trong tình hình mới,
công tác bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia phải thực hiện đồng bộ
các biện pháp công tác, trong đó tác giả đã nhấn mạnh đến vai trò của của
công tác VĐQC tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.
“Công tác bảo vệ chủ quyền, an ninh trật tự biên giới không phải là công tác
chuyên môn đơn thuần, mà phải làm tốt công tác vận động quần chúng, tổ
chức quần chúng, tạo điều kiện cho đồng bào các dân tộc thực sự phát huy
quyền làm chủ của mình trong sự nghiệp giữ gìn chủ quyền, an ninh biên
giới quốc gia [101, tr.61].
Tác giả Nguyễn Văn Thúy - Luận án tiến sĩ quân sự Bộ đội Biên
phòng tỉnh vận động quần chúng tham gia bảo vệ biên giới Tây Bắc trong
tình hình mới [132]. Tác giả đã nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn
về BĐBP tỉnh VĐQC tham gia bảo vệ biên giới Tây Bắc, đánh giá thực
trạng, đưa ra những dự báo và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả
BĐBP tỉnh VĐQC tham gia bảo vệ biên giới Tây Bắc trong tình hình mới.
Trong đó, tác giả chỉ rõ: “Cùng tham gia bảo vệ biên giới quốc gia với Bộ
đội Biên phòng còn có một lực lượng quan trọng, đó là quần chúng nhân dân
sống trực tiếp trên biên giới” [132, tr.76]. Quần chúng nhân dân có sức mạnh
to lớn, BĐBP các tỉnh biên giới Tây Bắc muốn hoàn thành nhiệm vụ của
mình phải biết dựa vào dân, tuyên truyền, vận động và tổ chức, hướng dẫn
quần chúng nhân dân tham gia bảo vệ biên gới.
23
Để phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân, mà trước hết
là đồng bào các dân tộc ở KVBG Tây Bắc tham gia bảo vệ biên giới trong
tình hình mới, đòi hỏi công tác VĐQC của BĐBP phải tuyên truyền, giáo dục
nâng cao trình độ giác ngộ cho quần chúng là nội dung cơ bản, quan trọng.
Theo tác giả, chỉ trên cơ sở đồng bào các dân tộc được tuyên truyền, giáo dục
nâng cao trình độ giác ngộ, ý thức rõ trách nhiệm thì đồng bào mới tham gia
pháp quan trọng trong công tác VĐQC của BĐBP. “Vận động người có uy
tín trong đồng bào dân tộc thiểu số là một nội dung của công tác vận động
quần chúng, đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng và điều hành của người chỉ
huy các cấp” [133, tr.102].
Tác giả Đặng Vũ Liêm viết bài Công tác vận động quần chúng của Bộ
đội Biên phòng góp phần xây dựng và bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới Tổ
quốc [102]. Trong bài viết, tác giả khẳng định: Nội dung công tác VĐQC
không chỉ đơn thuần tuyên truyền vận động, mà phải tiến hành toàn diện;
tham gia xây dựng, củng cố cơ sở chính trị, thực hiện các chương trình phát
triển KT-XH, chương trình xóa đói giảm nghèo, tuyên truyền vận động nhân
dân xây dựng và bảo vệ biên giới.
Trên cơ sở phân tích những chủ trương, biện pháp đổi mới công tác
VĐQC của BĐBP, tác giả đã đánh giá kết quả thực hiện công tác VĐQC và
rút ra 6 kinh nghiệm chủ yếu, trong đó kinh nghiệm thứ ba được tác giả chỉ
rõ: “Bộ đội Biên phòng đã kết hợp chặt chẽ công tác biên phòng với tham gia
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở khu vực biên giới; giữa tuyên truyền, giác
ngộ đồng bào với chăm lo nhu cầu bức thiết trong đời sống của quần chúng,
cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, trên cơ sở đó tạo động lực phong trào
quần chúng bảo vệ biên giới” [102, tr.14].
Tác giả Phạm Huy Tập viết bài Bộ đội Biên phòng đẩy mạnh công tác
vận động quần chúng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tình hình mới [126]. Tác giả
đã chỉ rõ: Để từng bước phát triển KT-XH, không ngừng nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân ở KVBG hiện nay, cần tiếp tục nâng cao
25
chất lượng và hiện quả công tác VĐQC trong tình hình mới. Trên cơ sở phân
tích những đặc điểm cơ bản về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở KVBG, tác
giả đã khẳng định: “Công tác vận động quần chúng của Bộ đội Biên phòng
không ngừng được phát huy, góp phần quan trọng để tổ chức tuyên truyền vận
Tuy các công trình khoa học chưa đề cập một cách có hệ thống sự lãnh
đạo của Đảng bộ BĐBP về công tác VĐQC bảo vệ biên giới, song đã chỉ ra
những vấn đề có liên quan trực tiếp đến công tác VĐQC tham gia bảo vệ biên
giới. Các công trình khoa học nêu trên là tư liệu quan trọng, là cơ sở thực tiễn
cung cấp những luận cứ khoa học để tác giả tiếp tục nghiên cứu, phát triển, xây
dựng thành công luận án đúng mã số chuyên ngành khoa học Lịch sử Đảng.
3.2. Những vấn đề luận án tập trung giải quyết
Làm rõ yêu cầu khách quan, phân tích đặc điểm tình hình tác động đến
công tác VĐQC bảo vệ tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc từ năm
1996 đến năm 2006.
Làm rõ hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ BĐBP về công tác VĐQC bảo vệ
tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc từ năm 1996 đến năm 2006.
Nhận xét quá trình Đảng bộ BĐBP lãnh đạo công tác VĐQC bảo vệ tuyến
biên giới đất liền Việt Nam - Trung từ năm 1996 đến năm 2006; đúc rút một số
kinh nghiệm lịch sử có giá trị tham khảo trong thực tiễn VĐQC bảo vệ tuyến
biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc của BĐBP trong những năm tiếp theo.
Đề tài luận án sẽ thu thập ý kiến của các nhà khoa học trong và ngoài
lực lượng BĐBP; thông qua phiếu trưng cầu ý kiến và trực tiếp khảo sát thực
tế trên tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc.
27
Chương 1
CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG BẢO VỆ
TUYẾN BIÊN GIỚI ĐẤT LIỀN VIỆT NAM - TRUNG QUỐC
CỦA ĐẢNG BỘ BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG (1996 - 2001)
1.1. Yêu cầu khách quan vận động quần chúng bảo vệ tuyến biên
giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc (1996 - 2006)
1.1.1. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác vận động
quần chúng