BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ĐINH THỊ HOÀI VI
ĐẢNG BỘ TỈNH SƠN LA LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH DI DÂN TÁI ĐỊNH CƯ ĐỐI VỚI ĐỒNG
BÀO DÂN TỘC VÙNG LÒNG HỒ SÔNG ĐÀ
GIAI ĐOẠN 2005 - 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ĐINH THỊ HOÀI VI
ĐẢNG BỘ TỈNH SƠN LA LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH DI DÂN TÁI ĐỊNH CƯ ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
VÙNG LÒNG HỒ SÔNG ĐÀ
GIAI ĐOẠN 2005 - 2015
Chuyên ngành : XH2b
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn : ThS. Lại Trang Huyền
SƠN LA, NĂM 2016
Ban chỉ đạo
BTV
Ban thường vụ
CNH
Công nghiệp hóa
Ha
Héc ta
HĐH
Hiện đại hóa
HĐND
Hội đồng nhân dân
Km2
Ki lô mét vuông
KWH
Ki lô oát/ giờ
Trung ương
UBND
Uỷ ban nhân dân
VPCP
Văn phòng chính phủ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu ........................................................................................ 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................... 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 6
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 7
6. Đóng góp của đề tài ........................................................................................... 7
7. Kết cấu của đề tài .............................................................................................. 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ CỦA VIỆC ĐẢNG BỘ TỈNH SƠN LA LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN CÔNG TÁC DI DÂN, TÁI ĐỊNH CƯ ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC VÙNG LÒNG HỒ SÔNG ĐÀ ........................................................ 9
1.1. Cơ sở lý luận .................................................................................................. 9
1.1.1. Quan niệm về công tác di dân, tái định cư .................................................. 9
1.1.2. Nội dung lãnh đạo công tác di dân, tái định cư......................................... 11
1.1.3. Phương thức lãnh đạo công tác di dân, tái định cư ................................... 19
1.1.4. Khái quát về chủ trương, kế hoạch xây dựng Thủy điện Sơn La của Đảng
và Nhà nước ta..................................................................................................... 23
1.2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................. 27
tác di dân, tái định cư .......................................................................................... 70
3.3. Tăng cường sự phối hợp giữa các lực lượng tham gia tiến hành công tác di
dân, tái định cư .................................................................................................... 72
3.4. Cụ thể hoá các chủ trương, chính sách và chỉ đạo thực hiện kịp thời các chính
sách hỗ trợ của Nhà nước trong các chương trình dự án di dân, tái định cư...............75
3.5. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên trực tiếp thực hiện công tác di
dân, tái định cư ..................................................................................................................77
3.6. Thực hiện tốt công tác đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tại các điểm tái định
cư, xác định các phương án sản xuất phù hợp .................................................... 78
Tiểu kết ................................................................................................................ 81
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 83
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trước tình hình giá dầu tăng cao, đảm bảo an ninh năng lượng đã trở
thành mối quan tâm mang tính toàn cầu, việc tìm kiếm các nguồn năng lượng
đang trở thành mục tiêu và giải pháp chung của nhiều nước. Với những ưu điểm
như giá thành thấp, không gây hại cho môi trường, các nguồn năng lượng xanh
như năng lượng mặt trời, gió… được xem là một nguồn năng lượng hữu ích,
đang được nhiều nước chú trọng phát triển. Cũng như nhiều nước trên thế giới,
nước ta đã và đang tìm kiếm các nguồn năng lượng điện theo nhiều cách khác
nhau như: từ gió, từ sóng biển, từ việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân, từ
việc chế biến sản phẩm tự nhiên, nhất là việc xây dựng các nhà máy thủy điện.
Bởi điện năng là một trong những lĩnh vực quan trọng quyết định sự phát triển
và tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.
Trong những năm qua cùng với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, nhu
cầu về điện năng liên tục tăng và tiếp tục được duy trì với mức độ cao trong
nhiều năm và nhiều thế kỷ tới. Theo dự báo của Bộ Công thương, nhu cầu điện
ninh, quốc phòng... Vì thế, công tác vận động di dân, tái định cư Thủy điện Sơn
La có vị trí đặc biệt quan trọng. Nhiệm vụ này phải bảo đảm thực hiện thống
nhất, đúng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công
tác di dân, tái định cư. Nội dung và phương pháp tổ chức thực hiện phải phù hợp
với tâm lý và nhận thức của đồng bào, tạo sự đồng thuận, nhất trí cao để tổ chức
di dân, tái định cư theo quy hoạch, kế hoạch, đúng quy trình, thực hiện tốt quy
chế dân chủ ở cơ sở, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng thành
công Nhà máy Thủy điện Sơn La.
Từ những nhận thức trên đây, để nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng và
tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm tiếp tục thực hiện tốt công tác di dân, tái
định cư đáp ứng yêu cầu kế hoạch xây dựng thủy điện Sơn La, tôi lựa chọn đề
tài “Đảng bộ tỉnh Sơn La lãnh đạo thực hiện chính sách di dân, tái định cư
đối với đồng bào dân tộc vùng lòng hồ sông Đà giai đoạn 2005 - 2015” để làm
khóa luận tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, việc xây dựng thủy điện và công tác di dân, tái định cư khi
xây dựng thủy điện luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, thể hiện:
2
- Nghị định số 105/2005/NĐ-CP về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của luật điện lực của Chính phủ ra ngày 17/8/2005 đã chỉ rõ vai trò
to lớn của công trình thủy điện đối với kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh.
- Quyết định số 64/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về chính sách
đặc thù di dân, tái định cư các dự án thủy lợi, thủy điện được phát hành ngày
18/11/2014. Theo đó, khi tiến hành di dân, tái định cư người dân sẽ được bồi
thường về tài sản trên đất, được xây dựng nhà ở và các công trình phụ, làm
đường để di chuyển người và tài sản, được xây dựng các công trình y tế, giáo
dục… để ổn định đời sống, được hỗ trợ vốn, công nghệ để sản xuất…Trong đó,
chỉ rõ cách thức thực hiện để tiến hành công tác di dân, tái định cư đạt hiệu
năm 2002 - 2006. Trong đó, chỉ rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ cũng như
trách nhiệm của các ban, ngành, đoàn thể ở cơ sở về phối hợp thực hiện công tác
di dân, tái định cư Thủy điện Sơn La.
Các bài báo, báo cáo và tạp chí:
- “Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải kiểm tra tiến độ xây dựng công trình
thủy điện Sơn La và công tác di dân, tái định cư”, của tác giả Hà Bắc, đăng trên
báo Sơn La số 4263, ra ngày 5/1/2008. Theo tác giả bài báo, qua công tác kiểm
tra của đoàn công tác Chính phủ cho thấy công tác di dân, tái định cư là nhân tố
quyết định đến tiến độ thi công Nhà máy thủy điện Sơn La, vì vậy cần có những
biện pháp hiệu quả đẩy mạnh công tác di dân, tái định cư.
- “Đẩy mạnh di dân tái định cư thủy điện Sơn La”, xã luận đăng trên Báo
Sơn La, số 4222, ra ngày 11/9/2008. Bài xã luận đã khẳng định công tác di dân,
tái định cư là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng của toàn đảng bộ
tỉnh Sơn La hiện nay, vì vậy toàn thể đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng
nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La phải nỗ lực hết mình để từ cuộc sống còn
nhiều khó khăn đổi mới toàn diện thành cuộc sống tốt đẹp hơn.
- “Nỗ lực cao trong công tác di dân, tái định cư Thuỷ điện Sơn La” của Quốc
Tuấn, đăng trên báo Sơn La, số ra ngày 5/3/2008. Tác giả đã phản ánh các hoạt
động của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân chuẩn bị và tiến hành công tác
di dân, tái định cư cũng như không khí khẩn trương của nhân dân các dân tộc
Sơn La theo lời kêu gọi, vận động của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước di
chuyển đến quê hương mới.
4
- “Di dân tái định cư Thuỷ điện Sơn La còn nhiều việc phải làm” của Mai
Hương, đăng trên Báo Lao động, số ra ngày 10/12/2008. Bài viết đã đánh giá
tổng quan một số kết quả đạt được trong công tác di dân trong 2 năm 2007 2008 của các chính quyền cơ sở thuộc tỉnh Sơn La, trong đó đề cập những khó
khăn và nhược điểm trong công tác chỉ đạo. Tác giả bài viết chỉ ra rằng, chính
quyền các địa phương cần tăng cường phối hợp, tìm các giải pháp đẩy nhanh
về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn La đối với công tác di dân, tái định cư đối với
đồng bào dân tộc thiểu số vùng lòng hồ sông Đà trong giai đoạn 2005 - 2015.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Góp phần tổng kết một bước thành quả của công tác di dân, tái định cư đối
với đồng bào dân tộc vùng lòng hồ sông Đà trong giai đoạn 2005 - 2015 dưới sự
lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn La.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
bộ tỉnh Sơn La đối với công tác di dân, tái định cư Thủy điện Sơn La, thực hiện
thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH, nâng cao đời sống nhân dân các dân tộc trên
địa bản tỉnh Sơn La.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Một là, hệ thống hóa những vấn đề về chính sách di dân, tái định cư của Đảng
bộ tỉnh Sơn La đối với đồng bào dân tộc vùng lòng hồ sông Đà từ năm 2005 - 2015.
- Hai là, quá trình Đảng bộ tỉnh Sơn La lãnh đạo thực hiện công tác di dân,
tái định cư.
- Ba là, đề xuất những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
bộ tỉnh Sơn La đối với việc thực hiện công tác di dân, tái định cư của đồng bào
dân tộc vùng lòng hồ sông Đà trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình Đảng bộ tỉnh Sơn La lãnh đạo thực hiện chính sách di dân, tái định
cư đối với đồng bào dân tộc vùng lòng hồ sông Đà giai đoạn 2005 - 2015.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Văn kiện, nghị quyết của Đảng, báo cáo và báo cáo tổng
kết về công tác di dân, tái định cư của Đảng bộ tỉnh Sơn La trong việc lãnh
6
7
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khóa luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở của việc Đảng bộ tỉnh Sơn La lãnh đạo thực hiện công tác
di dân, tái định cư đối với đồng bào dân tộc vùng lòng hồ sông Đà giai đoạn
2005 - 2015
Chương 2: Quá trình Đảng bộ tỉnh Sơn La lãnh đạo thực hiện chính sách di
dân, tái định cư đối với đồng bào dân tộc vùng lòng hồ sông Đà giai đoạn 2005 2015
Chương 3: Giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo
thực hiện chính sách di dân, tái định cư đối với đồng bào dân tộc vùng lòng hồ
sông Đà của Đảng bộ tỉnh Sơn La.
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
8
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ CỦA VIỆC ĐẢNG BỘ TỈNH SƠN LA LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
CÔNG TÁC DI DÂN, TÁI ĐỊNH CƯ ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
VÙNG LÒNG HỒ SÔNG ĐÀ
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Quan niệm về công tác di dân, tái định cư
1.1.1.1. Quan niệm về công tác di dân
Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển ngôn ngữ của Viện Khoa
học xã hội xuất bản năm 1997, do Hoàng Phê chủ biên: "Công tác" là công việc
của Nhà nước hoặc của đoàn thể, trong đó mỗi viên chức hoặc thành viên phải
thực hiện [31, tr.458]. "Di dân" là đưa nhân dân từ nơi ở cũ dời đến các vùng,
xuống cơ sở; Ban quản lý di dân tái định cư tỉnh, huyện và nhân dân nằm trong
chương trình dự án di dân, tái định cư thủy điện Sơn La.
Đối tượng di dân là những cộng đồng dân cư sinh sống ven dòng sông Đà
bị ảnh hưởng sâu sắc bởi công trình, đó là những hộ dân nằm trong vùng ngập
lòng hồ, tổng mặt bằng công trường. Trong đó, đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp
là cá nhân, hộ gia đình, tổ chức bị thiệt hại về đất đai, nhà ở, hoa màu và tài sản
khác, cơ sở hạ tầng, công trình công cộng, công trình và vật kiến trúc.
1.1.1.2. Quan niệm về công tác tái định cư
Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam
(Nhà xuất bản văn hóa thông tin xuất bản năm 1999), do Nguyễn Như ý chủ
biên: "Tái" là hai lần hoặc lần thứ hai hay một lần nữa [54, tr.1484].
"Định cư" là ở lại một nơi nhất định để sinh sống và làm ăn, hay là sinh
sống làm ăn cố định một nơi [54, tr.641]. “Định cư” đối lập với “du canh du cư”
tức là khác với tập quán sinh hoạt và canh tác của các dân tộc ít người không ổn
định ở một nơi mà thường thay đổi sau khi hết chu kỳ khai thác một đám nương
rẫy, một vùng núi đồi [54, tr.551].
Như vậy, tái định cư là hoạt động ổn định cuộc sống của một cá thể hay
một cộng đồng dân cư ở nơi ở mới sau khi di chuyển khỏi nơi ở cũ vì một lý do,
mục đích nào đó. Công tác tái định cư là công việc, hoạt động của nhà nước, các
đoàn thể, các tổ chức có trách nhiệm nhằm ổn định cuộc sống của một hay nhiều
cộng đồng dân cư tại nơi ở mới sau khi họ di chuyển khỏi nơi ở cũ theo chủ
trương, kế hoạch đã định.
10
Vì thế, ngay sau khi việc di chuyển hoàn tất, nhiệm vụ của các chủ thể
công tác di dân chưa dừng lại, mà phải tiếp tục thực hiện những nội dung,
phương thức tổ chức cuộc sống trên quê hương mới của đồng bào tái định cư và
của nhân dân sở tại. Đó cũng chính là những nội dung của công tác tái định cư.
Công tác này phải có sự chuẩn bị trước để công tác di dân bắt đầu tiến hành. Sau
hoạch, phương án bồi thường thiệt hại về tài sản hiện có, cụ thể là các tài sản
gắn liền với đất, các loại cây trồng, vật nuôi; đưa ra các phương án di dân, tổ
chức di chuyển dân và các chi phí cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, di dân
giải phóng mặt bằng. Cụ thể:
- Một là, lãnh đạo công tác tuyên truyền, vận động các hộ dân tự nguyện, tự
giác di chuyển từ nơi ở cũ đến nơi ở mới.
Yêu cầu của công tác tuyên truyền, vận động là:
+ Làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, đặc biệt là nhân dân các dân tộc
sinh sống ở các khu vực phải di dân, tái định cư thực sự nhận thức đúng chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng công trình,
thấy được tầm quan trọng, ý nghĩa to lớn về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh mà việc xây dựng công trình đem lại cho đất nước.
+ Lãnh đạo tạo sự thống nhất về nội dung và phương thức tuyên truyền các
chủ trương, chính sách của Trung ương, của cơ sở về xây dựng công trình; tuyên
truyền, vận động để nhân dân hiểu rõ chính sách bồi thường, di dân, tái định cư;
phạm vi áp dụng, đối tượng áp dụng và thời điểm áp dụng; giải thích rõ các từ
ngữ, khái niệm, phạm vi bồi thường thiệt hại và hỗ trợ di dân, tái định cư,
nguyên tắc bồi thường thiệt hại di dân, tái định cư.
+ Tuyên truyền để nhân dân các dân tộc vùng tiếp nhận dân tái định cư thấy
được nhiệm vụ và quyền lợi của mình, phát huy truyền thống đoàn kết, tương
thân, tương ái, chủ động, tích cực giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất để mỗi hộ gia
đình đồng bào tái định cư và mọi thành viên hộ gia đình sớm hòa nhập với cuộc
sống cộng đồng. Nhân dân di chuyển đến nơi ở mới xác định rõ trách nhiệm và
nghĩa vụ công dân trong việc chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng,
Nhà nước và nghiêm túc thực hiện; giữ gìn và tăng cường khối đại đoàn kết giữa
các dân tộc, hòa đồng, tôn trọng, học hỏi và giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn.
+ Lãnh đạo việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở theo phương châm
“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong công tác di dân. Phổ biến công
12
phố phê chuẩn để tổ chức thực hiện. Chỉ đạo các cơ quan chức năng lập và
13
thông qua kế hoạch vốn bồi thường, di dân, tái định cư hàng năm trong kế hoạch
vốn đầu tư của huyện, thành phố để gửi các cơ quan chức năng theo đúng thời
hạn quy định. Tổ chức tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm, thực hiện chế độ báo
cáo, thống kê về thực hiện dự án tái định cư.
- Ba là, lãnh đạo công tác di chuyển dân và tài sản của họ từ nơi ở cũ đến
nơi ở mới
+ Lãnh đạo việc chấp hành các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về di dân và thực hiện quy hoạch, bố trí
dân cư. Chỉ đạo các Ban quản lý dự án tỉnh, huyện có nhiệm vụ rà soát các đối
tượng, xác định nhu cầu quy hoạch, bố trí dân cư và xây dựng kế hoạch di dân
địa phương. Liên hệ xác định cụ thể địa bàn nhận dân, phối hợp với chính quyền
địa phương nơi đi, nơi đến và đại diện các hộ dân để tổ chức khảo sát, thẩm tra
địa bàn nhận dân, đảm bảo cơ bản về các điều kiện tối thiểu cho đời sống nhân
dân; lập biên bản thẩm tra địa bàn dự án di dân thực hiện quy hoạch, bố trí dân
cư. Cung cấp đầy đủ cho các hộ dân các thông tin cần thiết về vùng dự án quy
hoạch, bố trí dân cư, địa bàn nhận dân (kể cả khó khăn và thuận lợi). Tổ chức
hợp đồng giữa 3 bên gồm đại diện chính quyền địa phương nơi đi, nơi đến và
chủ dự án về số lượng hộ di dân, thời gian giao nhận và trách nhiệm của mỗi bên
để hoàn thành nhiệm vụ quy hoạch, bố trí dân cư, đảm bảo đúng đối tượng di
dân. Hướng dẫn chủ hộ di dân làm thủ tục hồ sơ. Công khai tài chính và giải
quyết chính sách hỗ trợ đầu đi cho các hộ dân được hưởng chính sách trước khi
di chuyển.
+ Lãnh đạo các cấp chính quyền địa phương (nơi đi) tổng hợp đơn tự
nguyện di dân, thành lập hội đồng xét duyệt, lập danh sách các hộ dân, báo các
UBND huyện để phê duyệt theo đúng đối tượng, chỉ tiêu kế hoạch được giao
hàng năm. UBND huyện ra quyết định di dân và chỉ đạo các phòng, ban chuyên
hoạch, quy hoạch. Khi việc di chuyển hoàn thành, nhiệm vụ của các chủ thể lãnh
đạo là phải tiếp tục thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động trong Đảng bộ
và nhân dân các dân tộc, làm cho các đối tượng trực tiếp và gián tiếp bị ảnh
hưởng bởi Dự án thủy điện Sơn La có nhận thức đầy đủ về nhiệm vụ tái định cư.
Chính vì vậy, việc phải làm của các chủ thể lúc này là lãnh đạo thống nhất nội
dung và phương thức tuyên truyền của các cấp ủy đảng, các ngành, các đơn vị,
các cơ quan báo đài, đảm bảo đúng chủ trương, chính sách của Trung ương
15
Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các cơ chế chính sách của tỉnh về nhiệm vụ di
dân, tái định cư; tránh tình trạng công tác tuyên truyền thiếu thống nhất, không
sát đúng với chế độ chính sách, với thực tế ở cơ sở gây dư luận không tốt cho
cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Nội dung và phương pháp tuyên truyền, vận động phải phù hợp với tâm lý
và nhận thức của đồng bào. Di dân, tái định cư là công tác phức tạp, nhạy cảm,
liên quan đến nhiều lĩnh vực, nên phải tích cực khơi dậy truyền thống yêu nước,
đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc ở các xã, bản, hộ dân
thuộc diện phải di chuyển và tiếp nhận dân tái định cư. Yêu cầu của công tác
tuyên truyền phải làm rõ chủ trương, chính sách đến từng người dân theo
phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.
Yêu cầu về công tác vận động là các cấp ủy phải chỉ đạo chính quyền các
cấp, cùng các tổ chức đoàn thể tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc
nảy sinh trong quá trình thực hiện. Đồng thời, chú trọng phát huy tinh thần cộng
đồng, khơi dậy tinh thần đoàn kết, thống nhất, tương trợ lẫn nhau giữa các hộ
dân nơi đi và nơi đến, tạo sự thống nhất về tư tưởng, tình cảm giữa người dân
mới chuyển đến với nhân dân sở tại, giúp người dân tái định cư tự nguyện, tự
giác vào các khu, điểm tái định cư đã quy hoạch xây dựng đời sống mới, giúp họ
yên tâm với đời sống ở những nơi đã quy hoạch, không chạy đi nơi khác.
- Hai là, lãnh đạo công tác đón tiếp dân tái định cư, bố trí nơi ở, giao đất
thiệt hại, mỗi hộ gia đình sẽ được Đảng và Nhà nước tiếp tục trợ cấp về gạo,
chất đốt, điện, giống cây trồng, vật nuôi trong hai năm tái định cư trên quê mới,
chính sách hỗ trợ được tính thêm nếu lạm phát xảy ra.
+ Chỉ đạo các chính quyền huyện và xã phối hợp với chủ dự án, các ngành
chức năng rà soát và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã phù hợp
với quy hoạch phát triển chung, đặc biệt là quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch
phát triển sản xuất, nhằm xác định số hộ, địa bàn phải di chuyển và khả năng
tiếp nhận dân tái định cư tại nơi ở mới. Quyết định thu hồi đất và cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất theo thẩm quyền quy định của Luật đất đai. Xem xét,
giải quyết các đề nghị hợp pháp của công dân trong phạm vi chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn được giao.
- Ba là, lãnh đạo công tác quy hoạch, xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng tại
các khu, điểm tái định cư và tổ chức đời sống mới cho đồng bào tái định cư.
17
+ Chỉ đạo các huyện, thành phố xây dựng kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản
các công trình hạ tầng thiết yếu, như: giao thông nội vùng, thủy lợi nhỏ, trường
học, trạm xá...; đồng thời có các biện pháp huy động vốn đầu tư thuộc chương
trình phát triển kinh tế - xã hội, chương trình mục tiêu quốc gia để đầu tư đồng
bộ cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng địa bàn đón dân trước khi nhận dân đến. Khai
hoang xây dựng đồng ruộng hoặc tổ chức chuyển nhượng đất đai để giao cho
các hộ di dân. Cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan về chế độ, chính sách,
định mức, đơn giá, quy trình, đề cương cho đơn vị tư vấn lập quy hoạch chi tiết
để triển khai thực hiện, đáp ứng tiến độ và chất lượng hồ sơ quy hoạch chi tiết
theo yêu cầu của chủ đầu tư; triển khai nghiệm thu tài liệu thiết kế tại thực địa
trước khi trình thẩm định và phê duyệt theo đúng quy định; tổ chức lựa chọn các
đơn vị tư vấn đủ năng lực để triển khai thực hiện, đáp ứng nhu cầu về chất lượng
và tiến độ (kể cả thay thế các đơn vị tư vấn không đủ năng lực); Chỉ đạo việc
phối hợp giữa đơn vị tư vấn lập quy hoạch chi tiết và các đơn vị tư vấn lập dự án
Liên hệ với thực tế công tác vận động di dân, tái định cư cho thấy công tác
vận động di dân, tái định cư chỉ đạt kết quả tốt khi toàn đảng bộ nhận thức đầy
đủ tầm quan trọng của việc ra nghị quyết và các quyết định lãnh đạo dự án di
dân, tái định cư. Sử dụng phương thức lãnh đạo này không chỉ quyết định đến
chất lượng vận động di dân, tái định cư mà còn quyết định đến việc xây dựng
khối đại đoàn kết toàn dân, quyết định đến tiến trình và thắng lợi chung của Dự
án xây dựng. Chính vì vậy, Đảng bộ phải ra các chủ trương nghị quyết, quyết
định lãnh đạo đúng, phù hợp thực tế (tâm lý, tình cảm, nguyện vọng chính đáng
của nhân dân), phù hợp nhận thức và năng lực chấp hành đường lối của nhân
dân bị ảnh hưởng bởi dự án. Theo đó, các Nghị quyết và quyết định lãnh đạo của
Trung ương sẽ phải được toàn Đảng bộ nghiên cứu kỹ phối hợp đồng bộ trong
triển khai tổ chức thực hiện, cụ thể hóa vào điều kiện của từng địa phương, bắt
đầu từ việc thành lập bộ máy chuyên trách lãnh đạo quản lý đến việc xây dựng
đội ngũ cán bộ có năng lực được trang bị kiến thức chuyên môn cần thiết; giao
nhiệm vụ cho các ban, ngành, cơ quan, đơn vị đảm nhiệm.
- Hai là, lãnh đạo thông qua bộ máy chính quyền, các tổ chức đoàn thể
quần chúng các cấp, các Ban quản lý dự án di dân, tái định cư, các tổ chức kinh
tế - xã hội
19