DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Kinh tế thị trường
Kinh tế - xã hội
Mục tiêu quốc gia
Nông thôn mới
Trạm biến áp
Xã hội chủ nghĩa
Chữ viết tắt
CNH, HĐH
KTTT
KT - XH
MTQG
NTM
TBA
XHCN
MỤC LỤC
Trang
3
MỞ ĐẦU
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ
TẦNG KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH BẮC NINH
1.1. Những vấn đề chung về nông thôn, nông thôn mới và kết cấu
HẠ TẦNG KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH BẮC NINH THỜI GIAN TỚI
3.1. Quan điểm phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trong
66
xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Ninh thời gian tới
3.2. Giải pháp đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
66
trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Ninh thời gian tới
71
87
89
97
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kết cấu hạ tầng là nền tảng vật chất có vai trò đặc biệt quan trọng
trong quá trình phát triển KT - XH của một quốc gia cũng như mỗi vùng lãnh
thổ. Một quốc gia có kết cấu hạ tầng hiện đại và đồng bộ thì nền kinh tế quốc
gia đó có điều kiện để phát triển nhanh, ổn định và bền vững. Đối với khu vực
nông thôn, kết cấu hạ tầng chính là điều kiện, tiền đề, nền tảng vật chất cho
trạng nợ đọng trong xây dựng cơ bản lớn;… Những hạn chế, yếu kém đó ảnh
hưởng không nhỏ đến tiến độ thực hiện chương trình xây dựng NTM, đẩy
mạnh sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn toàn Tỉnh.
Phát triển kết cấu hạ tầng KT - XH trong xây dựng NTM ở tỉnh Bắc
Ninh trong điều kiện phát triển KTTT định hướng XHCN và hội nhập kinh tế
quốc tế ngày càng sâu, rộng như hiện nay không chỉ là vấn đề kinh tế - kỹ
thuật đơn thuần mà còn là vấn đề xã hội, có liên quan đến nhiều cấp, ngành,
lĩnh vực, tổ chức, lực lượng khác nhau. Vì thế, rất cần những công trình
nghiên cứu luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn, cung cấp cơ sở khoa học cho
đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bắc Ninh trong xác định các chủ
trương, biện pháp phát triển kết cấu hạ tầng KT - XH nông thôn, góp phần
thực hiện thành công MTQG về xây dựng NTM, đẩy mạnh CNH, HĐH nông
nghiệp nông thôn. Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề tài “Phát triển kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Ninh” làm luận
văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Phát triển kết cấu hạ tầng KT - XH trong xây dựng NTM là một nội
dung quan trọng trong đề án nhằm thay đổi tích cực và toàn diện bộ mặt nông
thôn Việt Nam. Vì vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở những phạm
vi, góc độ tiếp cận khác nhau, trong đó tiêu biểu như:
* Bàn về phát triển kết cấu hạ tầng KT - XH nói chung có các công trình:
4
Nguyễn Đức Độ (2002), Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và vai trò của
nó đối với củng cố quốc phòng ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học
viện Chính trị - Quân sự, Hà Nội. Trong công trình này, tác giả trình bày các đặc
trưng và tính tất yếu khách quan phải phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, phân tích
thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò
hệ thống cơ chế, chính sách là giải pháp mang tính đột phá.
Nguyễn Sỹ (2007), Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh từ năm 1986 đến nay - thực trạng, kinh
nghiệm và giải pháp, Luận án tiến sĩ, trường Đại Học Kinh tế quốc dân. Công
trình này đi sâu nghiên cứu lí luận về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và
kinh nghiệm trong và ngoài nước. Đánh giá thực trạng CNH, HĐH nông
nghiệp nông thôn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1986 - 2006. Đồng thời, đề xuất
phương hướng và giải pháp đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
tỉnh Bắc Ninh đến năm 2015.
Nguyễn Đức Tuyên (2008), Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông
thôn tỉnh Bắc Ninh, kinh nghiệm và giải pháp, Luận án tiến sĩ, Đại học Kinh
tế quốc dân, Hà Nội. Ở công trình này, tác giả đi sâu luận giải cơ sở lý luận và
kinh nghiệm thực tiễn về phát triển hạ tầng KT - XH nông thôn; làm rõ thực
trạng xây dựng kết cấu hạ tầng KT - XH nông thôn từ 1997 đến 2007. Đồng
thời, đề xuất các chính sách và giải pháp tiếp tục thúc đẩy phát triển hạ tầng
KT - XH ở nông thôn tỉnh Bắc Ninh thời gian tới.
Nguyễn Quang Minh (2011), Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế nông thôn
trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở tỉnh Thanh Hóa hiện
nay, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị. Công trình này đi sâu làm rõ sự
khác biệt, nội dung, sự cần thiết và những điểm mới trong phát triển kết cấu hạ
tầng kinh tế nông thôn trong điều kiện nền KTTT định hướng XHCN.
* Bàn về phát triển kết cấu hạ tầng KT - XH trong xây dựng NTM có:
6
Lê Xuân Tâm (2014), Phát triển làng nghề tỉnh Bắc Ninh trong bối
cảnh xây dựng nông thôn mới, Luận án tiến sĩ Kinh tế nông nghiệp, Học viện
Nông nghiệp Việt Nam. Trong công trình này, tác giả đã phân tích cơ sở lí
luận và thực tiễn phát triển làng nghề gắn với chương trình xây dựng NTM;
doanh nghiệp vào nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh thời gian tới.
Nguyễn Văn Hùng (2015), Xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh
tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh, Luận án tiến sĩ, Học viện Quốc gia Hồ Chí Minh. Tác
giả trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng NTM cấp tỉnh; đánh giá
thực trạng xây dựng NTM ở Bắc Ninh từ 2010 - 2015; trên cơ sở đó, chỉ ra
phương hướng và các giải pháp nhằm xây dựng NTM đến năm 2020, trong đó
lồng ghép các nội dung về phát triển kết cấu hạ tầng KT - XH khi phân tích.
Trịnh Thị Thu Bình (2015), Huy động vốn cho xây dựng nông thôn mới ở
thành phố Hải Phòng hiện nay, Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị, Học viện Chính
trị, Hà Nội. Ở công trình này, trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận và đánh giá thực
trạng huy động vốn cho xây dựng NTM ở thành phố Hải Phòng thời gian qua, tác
giả đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm huy động các nguồn vốn phục vụ xây dựng
NTM ở thành phố Hải Phòng trong thời gian tới, trong đó đầu tư cho phát triển kết
cấu hạ tầng KT - XH được xác định là một nội dung quan trọng.
Lê Văn Dũng (2016), Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế trong xây dựng
nông thôn mới ở tỉnh Đồng Tháp, Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị, Học viện
Chính trị. Ở công trình này, tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận về phát triển kết
cấu hạ tầng kinh tế trong xây dựng NTM ở tỉnh Đồng Tháp. Đánh giá thực
trạng và đề xuất giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế
trong xây dựng NTM ở tỉnh Đồng Tháp thời gian tới. Trong đó xác định huy
động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn là giải pháp có tính đột phá.
8
Như vậy, xung quanh vấn đề phát triển kết cấu hạ tầng KT - XH nói
chung và phát triển kết cấu hạ tầng KT - XH nông thôn, NTM nói riêng, đã có
rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu, luận giải, tiếp cận ở phạm vi, mức
độ và góc cạnh khác nhau. Trong đó, các tác giả đã khẳng định được vai trò,
đánh giá thực trạng, làm rõ nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm và đề
Phát triển kết cấu hạ tầng KT - XH trong xây dựng NTM dưới góc độ
khoa học kinh tế chính trị.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu hạ tầng giao thông nông
thôn, thủy lợi, điện, trạm y tế, chợ, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, bưu
điện và nhà ở dân cư.
- Về không gian: Phát triển kết cấu hạ tầng KT - XH trong xây dựng
NTM trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
- Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích và khảo sát số
liệu ở các sở, ban, ngành, thành phố, huyện, thị xã của tỉnh Bắc Ninh từ năm
2010 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng, các chỉ thị, nghị
quyết, hướng dẫn của cấp ủy đảng và chính quyền các cấp tỉnh Bắc Ninh về
phát triển kết cấu hạ tầng KT - XH trong xây dựng NTM.
* Cơ sở thực tiễn
Dựa trên kết quả điều tra, khảo sát về thực trạng phát triển kết cấu hạ
tầng KT - XH trong xây dựng NTM ở tỉnh Bắc Ninh từ năm 2010 đến 2016.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu đặc thù của kinh tế chính
trị Mác - Lênin là trừu tượng hóa khoa học, đồng thời kết hợp phương pháp
lôgíc - lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh.
6. Ý Nghĩa của đề tài
- Đề tài góp phần cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc xác định chủ
trương, biện pháp phát triển kết cấu hạ tầng KT - XH trong xây dựng NTM ở
tỉnh Bắc Ninh từ nay đến năm 2020.
Hoài Nam lại cho rằng “Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ những khu vực dân
cư sinh hoạt có hoạt động nông nghiệp, dựa trên hoạt động nông nghiệp” [31,
tr.16]. Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp & Phát triển
nông thôn nhấn mạnh ở góc độ quản lý lại cho rằng: “Nông thôn là phần lãnh
thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý
bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã” [10, tr.1].
12
Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về nông thôn, nhưng tựu chung
các quan điểm này đều thống nhất khi cho rằng: Nông thôn được hiểu là một
vùng lãnh thổ hàm chứa những đặc trưng riêng biệt so với vùng đô thị, thể hiện
ở chỗ: (1) nông thôn là vùng sinh sống và làm việc của một cộng đồng chủ yếu
là nông dân, sản xuất nông nghiệp là cơ bản, ngoài ra còn có các hoạt động sản
xuất và phi sản xuất khác phục vụ chủ yếu cho nông nghiệp và nông dân; (2) so
với đô thị, nông thôn là vùng có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, trình độ
sản xuất hàng hóa và tiếp cận thị trường thấp hơn. Chính vì thế, nông thôn chịu
sức hút của đô thị về nhiều mặt, cư dân nông thôn thường hay đổ xô về thành
thị để tìm kiếm việc làm và các cơ hội sống tốt hơn; (3) so với đô thị, thu nhập
và đời sống cũng như trình độ văn hóa, khoa học công nghệ ở nông thôn thấp
hơn; (4) nông thôn thường giàu tài nguyên thiên nhiên nhưng rất đa dạng về
KT - XH, các hình thức tổ chức quản lý và quy mô, trình độ phát triển. Như
vậy, khái niệm nông thôn cũng chỉ mang tính tương đối, một vùng nông thôn
có thể thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển KT - XH của mỗi
quốc gia cũng như từng địa phương.
Từ sự phân tích này, tác giả cho rằng: Nông thôn là khái niệm dùng để
chỉ một vùng lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị
trấn, là địa bàn cư trú chủ yếu của cư dân hoạt động trong lĩnh vực nông,
lâm, ngư, diêm nghiệp và một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, ở đó trình
hợp và dựa trên những nội dung, tiêu chí rõ ràng, cụ thể.
14
Nhận thức sâu sắc vấn đề này, ngày 16/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã
ký Quyết định số 491/QĐ-TTg “Về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về
NTM”. Tiếp đó, ngày 20/02/2013, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số
342/QĐ-TTg “Về việc sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về
NTM”. Theo quyết định này, một xã được công nhận là xã NTM phải đạt chuẩn
19 tiêu chí khác nhau, trong đó có: 1 tiêu chí về quy hoạch, 8 tiêu chí về hạ tầng
KT - XH, 4 tiêu chí về phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất, 4 tiêu chí về văn
hoá - xã hội - môi trường và 2 tiêu chí về hệ thống chính trị; huyện NTM khi có
75% số xã đạt chuẩn NTM; tỉnh NTM khi có 80% số huyện trong tỉnh đạt NTM.
1.1.2. Quan niệm, đặc điểm và vai trò của kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội trong xây dựng nông thôn mới
* Quan niệm về kết cấu hạ tầng KT - XH trong xây dựng NTM
- Kết cấu hạ tầng KT - XH
Kết cấu hạ tầng là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng la-tinh là
“Infrastructura”, là thuật ngữ ghép của hai từ “Infra” (có nghĩa là cơ sở, nền
móng, nền tảng, phần ở dưới, hay còn gọi là “hạ tầng”) và “Structura” (kết
cấu, cơ cấu, cấu trúc hay kiến trúc). Trong tiếng Anh được viết là
“Infrastructure”, tiếng Đức là “Infrastruktur).
15
Ở Việt Nam, thuật ngữ này cũng chưa có sự thống nhất trong cách sử
dụng. Có quan niệm đã đồng nhất kết cấu hạ tầng với “Cơ sở hạ tầng” hoặc
“Hạ tầng cơ sở” thuộc phạm trù “Cơ sở hạ tầng” và “Kiến trúc thượng tầng”
trong triết học. Tuy nhiên, cần phân biệt rằng: Với tư cách là một phạm trù
tầng là “Hệ thống các công trình làm nền tảng cung cấp những yếu tố cần thiết
cho phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống” [16, tr.65]. Quan
niệm này chỉ rõ, cơ sở hạ tầng bao gồm: Hệ thống cung cấp năng lượng, giao
thông, thông tin liên lạc, cung cấp nước tưới tiêu và phòng chống lụt bão, cung
cấp các dịch vụ thiết yếu cho người lao động như y tế, giáo dục,... Còn theo
PGS.TS Đỗ Hoài Nam và TS Lê Cao Đoàn thì cơ sở hạ tầng “Là khái niệm
dùng để chỉ những phương tiện làm cơ sở nhờ đó các quá trình công nghệ, quá
trình sản xuất và các dịch vụ được thực hiện” [31, tr.14]. Ở góc độ khái quát
hơn, tác giả Lê Du Phong lại cho rằng kết cấu hạ tầng là “Tổng hợp các yếu tố
và điều kiện vật chất - kỹ thuật được tạo lập và tồn tại trong mỗi quốc gia, là
nền tảng và điều kiện chung cho các hoạt động KT - XH...” [34, tr.5].
Như vậy, tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng tựu chung lại các
quan niệm này đều thống nhất rằng: Kết cấu hạ tầng là những yếu tố vật chất
làm nền tảng cho các quá trình sản xuất và đời sống xã hội tồn tại, phát triển.
17
Dưới góc độ kinh tế chính trị, có thể quan niệm: Kết cấu hạ tầng là
tổng thể các công trình, thiết bị giữ vai trò là tiền đề vật chất - kỹ thuật, là cơ
sở, nền tảng chung cho hoạt động sản xuất và tái sản xuất xã hội. Nó chính là
bộ phận đặc thù của cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân, có
chức năng cơ bản là đảm bảo những điều kiện chung cần thiết cho quá trình
sản xuất và tái sản xuất mở rộng được diễn ra bình thường, liên tục. Vì để quá
trình sản xuất và tái sản xuất diễn ra bình thường, liên tục, cần phải có 3 yếu
tố căn bản là người lao động, tư liệu sản xuất và công nghệ. Trong tư liệu sản
xuất, bộ phận tham gia vào quá trình sản xuất với tư cách là những cơ sở
phương tiện chung nhờ đó mà quá trình công nghệ, sản xuất và dịch vụ được
thực hiện chính là kết cấu hạ tầng.
Ngày nay, vai trò nền tảng của kết cấu hạ tầng càng tăng lên cùng với
đề cập đến khái niệm kết cấu hạ tầng KT - XH, theo tác giả cần phải hiểu nó
một cách toàn diện nhất. Theo đó, kết cấu hạ tầng KT - XH là khái niệm được
sử dụng để chỉ những hạ tầng có tính đa năng vừa phục vụ cho lĩnh vực kinh
tế, vừa phục vụ cho lĩnh vực xã hội. Nó chính là tổng thể các công trình, thiết
bị đóng vai trò tạo nền tảng vật chất kỹ thuật cho các hoạt động KT - XH của
một vùng lãnh thổ hoặc một quốc gia nhất định.
- Kết cấu hạ tầng KT - XH nông thôn
Bàn về kết cấu hạ tầng KT - XH ở nông thôn, có quan niệm đã cho
rằng: “Kết cấu hạ tầng KT - XH thuộc quyền sở hữu chung của làng, xã do
làng, xã sử dụng chung vì mục đích phát triển KT - XH của làng” [31, tr.19].
Tuy nhiên, thực tế có rất nhiều công trình thuộc kết cấu hạ tầng đa năng, có
tác động lan tỏa lớn, phục vụ không chỉ của riêng cho hoạt động KT - XH của
một làng, xã, huyện mà cho nhiều làng, xã, huyện khác nhau như: Hệ thống
đường giao thông liên huyện, liên xã, hệ thống thủy nông,... Những công trình
này vẫn thuộc phạm vi của kết cấu hạ tầng nông thôn. Chỉ khác ở chỗ, nó
thường thuộc quyền quản lý của các ban, ngành thuộc bộ máy chính quyền
cấp huyện, hoặc theo ngạch dọc. Với cách hiểu đó, rõ ràng quan niện trên đây
không bao quát được nội dung của kết cấu hạ tầng KT - XH nông thôn.
19
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, theo tác giả: Kết cấu hạ tầng KT
- XH nông thôn là tổng thể các công trình, thiết bị giữ vai trò nền tảng vật
chất cho sự phát triển KT - XH của khu vực nông thôn. Nó chính là một trong
những tiêu chí tổng hợp để đánh giá mức độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
trên địa bàn này. Bất kỳ khu vực nông thôn nào muốn phát triển nhanh, bền
vững đều cần phải có một hệ thống kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh và đồng bộ.
Như vậy, kết cấu hạ tầng KT - XH ở nông thôn cũng bao gồm có 2 bộ phận:
Một là, kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật gồm: Hệ thống giao thông nông
Quyết định số 800/QĐ-TTg “Phê duyệt chương trình MTQG về xây dựng
NTM giai đoạn 2010 - 2020” và Quyết định số 491/QĐ-TTg “Về việc ban hành
Bộ tiêu chí quốc gia về NTM” đều ghi là “Hạ tầng kinh tế - xã hội”. Còn trong
Văn kiện Đại hội XII của Đảng đều dùng “Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội”. Vấn
đề này cần được hiểu là: Hạ tầng KT - XH trong xây dựng NTM chính là cơ
sở, nền móng, hay là phần dưới để tạo nền tảng vật chất kỹ thuật cho xây
dựng NTM. Còn đề cập đến kết cấu hạ tầng KT - XH, ngoài ý nghĩa đó còn
muốn nhấn mạnh đến yếu tố về mặt kiến trúc, cấu trúc hay cơ cấu của hệ
thống hạ tầng KT - XH. Do vậy, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả
thống nhất cao với Văn kiện Đại hội XII của Đảng và Văn kiện Đại hội Đảng
bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XIX, dùng “Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội” để
đánh giá đúng sự phát triển của hệ thống này trong quá trình xây dựng NTM ở
tỉnh Bắc Ninh hiện nay.
Như vậy, có thể hiểu: Kết cấu hạ tầng KT - XH trong xây dựng NTM là
tổng thể các công trình, thiết bị giữ vai trò là nền tảng vật chất cho sự phát
triển KT - XH trên địa bàn NTM. Nó vừa là kết quả, vừa là động lực thúc đẩy
quá trình xây dựng NTM trên pham vi cả nước.
21
* Đặc điểm, vai trò của kết cấu hạ tầng KT - XH trong xây dựng NTM
- Đặc điểm kết cấu hạ tầng KT - XH trong xây dựng NTM
Một là, kết cấu hạ tầng KT - XH trong xây dựng NTM mang tính xã hội hóa cao.
Tính xã hội hóa cao thể hiện ở chỗ: Hệ thống kết cấu hạ tầng KT - XH
trong xây dựng NTM có ảnh hưởng rất lớn đến nhiều lĩnh vực, cấp, ngành, địa
phương, phục vụ cho nhiều đối tượng khác nhau. Đây đồng thời cũng là những
công trình thường có quy mô, đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn. Cho nên, khi triển
khai xây dựng hệ thống này, Đảng và Nhà nước ta luôn chủ trương xã hội hóa
ngay từ khâu lập quy hoạch, kế hoạch đến triển khai huy động, phân bổ nguồn
toán đến các phương án dự trù cho xây dựng các công trình sau đó để bảo
đảm tính hệ thống, đồng bộ. Ví dụ, xây dựng đường giao thông phải tính toán
đến vị trí đặt các trạm điện, đường nước, hệ thống cầu, cống,…
Bốn là, kết cấu hạ tầng KT - XH trong xây dựng NTM có tính lưỡng dụng cao.
Nghĩa là, ngoài đáp ứng cho yêu cầu phát triển KT - XH thì các công
trình này còn phục vụ cho mục đích quốc phòng an ninh địa bàn NTM. Do
vậy, khi tiến hành công tác quy hoạch, nhất là quy hoạch hệ thống đường giao
thông, thủy lởi, điện, thông tin liên lạc,… các địa phương luôn tính toán đồng
thời vừa đảm bảo phù hợp với những mục tiêu, yêu cầu phát triển KT - XH,
trực tiếp là xây dựng NTM, vừa đáp ứng những yêu cầu cơ bản của quốc
phòng - an ninh, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân,
khu vực phòng thủ Tỉnh, huyện (thành phố) trong tình hình mới. Trong điều
kiện hòa bình, các công trình này làm tiền đề vật chất thúc đẩy cho sự phát
triển của các hoạt động KT - XH ở nông thôn, khi có chiến tranh xảy ra có thể
huy động sự phục vụ của chúng cho nhiệm vụ quốc phòng an ninh, đảm bảo
tác chiến thắng lợi trong mọi tình huống.
- Vai trò của kết cấu hạ tầng KT - XH trong xây dựng NTM
Thứ nhất, kết cấu hạ tầng KT - XH trong xây dựng NTM tạo nền tảng
cơ sở vật chất vững chắc, bảo đảm xây dựng NTM thành công.
23
Để xây dựng NTM thành công, trước hết phải đầu tư xây dựng hệ
thống kết cấu hạ tầng KT - XH: Giao thông nông thôn, điện, đường, trường,
trạm,… Qua đó, tác động trực tiếp đến việc thúc đẩy tăng trưởng, phát triển
kinh tế, thu hút đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh, gắn kết thị trường nông
thôn với các vùng khác, tạo việc làm, cải thiện và nâng cao thu nhập, phát
triển các hình thức tổ chức sản xuất, cải thiện môi trường, góp phần phát triển
giáo dục, y tế, củng cố hệ thống tổ chức chính trị, bảo đảm an ninh chính trị,
Việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trên địa bàn nông thôn một mặt
tạo điều kiện để ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản
xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, đưa các cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh
tế cao, đẩy mạnh thực hiện thâm canh, chuyên canh để sản xuất các loại
nông sản làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu, góp phần
đưa các ngành này lên sản xuất hàng hóa với quy mô lớn, thu hút được các
nhà đầu tư trong và ngoài nước. Mặt khác, góp phần chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn cũng như sự chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành nông
nghiệp theo hướng tiến bộ, hiệu quả thông qua việc hình thành, phát triển
các ngành, nghề mới tại khu vực nông thôn; thúc đẩy trao đổi, giao lưu hàng
hóa; kích thích chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cao hiệu quả sản
xuất nông nghiệp; tạo điều kiện cho mọi loại hình tổ chức sản xuất kinh
doanh trên địa bàn nông thôn phát triển.
Thứ ba, kết cấu hạ tầng KT - XH trong xây dựng NTM là nền tảng vật
chất quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giải quyết
việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống, thu hẹp khoảng cách phát triển
giữa nông thôn và thành thị.
25