Đảng bộ tỉnh thái nguyên lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo từ năm 1997 đến năm 2014 - Pdf 38

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------------------------

NGUYỄN DUY HÙNG

ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO
XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội, 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------------------------

NGUYỄN DUY HÙNG

ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO
XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2014

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Vũ Quang Hiển

Hà Nội, 2016


thành cám ơn.
Tác giả luận văn

Nguyễn Duy Hùng


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Nội dung

BCĐ

Ban chỉ đạo

BHYT

Bảo hiểm y tế

CNH, HĐH:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

GDP:

Tổng sản phẩm quốc nội

HĐND

Hội đồng nhân dân

CHƢƠNG I .................................................................................................... 21
CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ .................................. 21
TỈNH THÁI NGUYÊN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 1997
ĐẾN NĂM 2005.............................................................................................. 21
1.1. Những yếu tố ảnh hƣởng đến sự lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo của
Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên và chủ trƣơng của Đảng bộ............................ 21
1.1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo ....... 21
1.1.2. Chủ trương của Đảng bộ ..................................................................... 38
1.2. Sự chỉ đạo hiện thực hóa chủ trƣơng của Đảng bộ ............................. 46
CHƢƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO ............... 58
ĐẨY MẠNH XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2014
......................................................................................................................... 58
2.1 Bối cảnh lịch sử và chủ trƣơng của Đảng bộ ........................................ 58
2.1.1. Bối cảnh lịch sử.................................................................................... 58
2.1.2. Chủ trương Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên.............................................. 66
2.2. Sự chỉ đạo của Đảng bộ ......................................................................... 71


2.2.1. Chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền ............................................ 71
2.2.2. Huy động các nguồ n lực cho xóa đói giảm nghèo............................. 72
2.2.3. Hỗ trợ tiế p cận các dich
̣ vụ xã hội........................................................ 74
2.2.4. Chỉ đạo các tổ chức, đoàn thể địa phương tham gia công tác xóa đói
giảm nghèo ..................................................................................................... 77
CHƢƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM ...................... 89
3.1. Nhận xét .................................................................................................. 89
3.1.1. Ưu điểm................................................................................................. 89
3.1.2. Hạn chế ............................................................................................... 100
3.2. Một số kinh nghiệm.............................................................................. 105
KẾT LUẬN .................................................................................................. 113

Việt Nam vẫn là một trong những nước có tỉ lệ nghèo đói cao. Vì vậy, để đẩy
lùi đói nghèo, lạc hậu, tiến kịp các nước phát triển, Việt Nam cần phát huy

8


tinh thần tự lực tự cường, khắc phục mọi khó khăn, tận dụng mọi ưu thế trong
nước và quốc tế. Hơn nữa, Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) nên vấn đề XĐGN càng khó khăn, phức tạp
hơn so với thời kỳ trước. Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của
XĐGN đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước đã luôn coi
việc thực hiện XĐGN là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của quốc gia,
dân tộc. Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách cụ thể nhằm
giảm nhanh tỉ lệ đói nghèo, nâng cao đời sống người dân, thực hiện mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, dân chủ , công bằng, văn minh. Ngoài ra những thành
tựu trên lĩnh vực XĐGN không chỉ góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự
nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc mà còn thể hiện bản chất ưu việt của
chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN).
Thái Nguyên là một tỉnh thuộc trung du miền núi phía Bắc. Do đặc
điểm là một tỉnh mới được tái lập nên nền kinh tế vẫn còn kém phát triển,
nghèo đói trở thành một vấn đề nan giải, một thách thức lớn lao đối với Đảng
bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên. Ý thức được tầm
quan trọng của tác XĐGN, quán triệt chủ trương của Đảng và Nhà nước,
Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã sớm xác định mục tiêu XĐGN, coi đó là nhiệm
vụ quan trọng, xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội địa
phương, nhằm hướng tới XĐGN toàn diện và bền vững. Từ năm 1997 đến
năm 2014, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, việc thực hiện
chính sách XĐGN đã được triển khai rộng khắp và đạt được những thành tựu
to lớn. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn còn tồn tại nhiều

Vấn đề XĐGN là chủ trương chiến lược của Đảng và Nhà nước, có ý
nghĩa chính trị, kinh tế - xã hội to lớn, đã thu hút nhiều nhà khoa học, các học
giả và những cá nhân quan tâm nghiên cứu. Việc nghiên cứu thực trạng đói
nghèo và tìm ra giải pháp để đẩy mạnh thực hiện XĐGN là đề tài được nhiều
giới nghiên cứu quan tâm và tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau

10


Nguyễn Thị Hằng trong cuốn “Vấn đề xóa đói giảm nghèo của nông
thôn nước ta hiện nay” (Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội, 1997) đã nghiên
cứu vấn đề đói nghèo ở các chế độ xã hội và ở nước ta, nghiên cứu quan điểm
của chủ nghĩa Mác – Lên nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu lý tưởng
của chế độ XHCN, nêu lên tính tất yếu khách quan của việc XĐGN, thực
trạng đói nghèo và một số phương hướng, biện pháp XĐGN ở nông thôn
nước ta hiện nay.
Hà Quế Lâm trong cuốn “Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số
nước ta hiện nay – thực trạng và giải pháp” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2002) đã phân tích những đặc điểm về địa lý, văn hóa, kinh tế ở những vùng
đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, khái quát tình trạng đói nghèo và thực
trạng XĐGN ở các cùng này trong những năm cuối thế kỷ XX (1992- 2000);
đồng thời nêu những khuyến nghị về định hướng và một số giải pháp XĐGN
cho đồng bào dân tộc thiểu số. Theo tác giả để XĐGN vùng đồng bào dân tộc
thiểu số cần thực hiện các nhóm vấn đề như phát triển kinh tế và bảo vệ môi
trường; trợ giúp các đối tượng chính sách xã hội; cứu tế, viện trợ khẩn cấp;
chống tệ nạn xã hội, xây dựng nếp sống văn hóa.
PGS.TS Lê Quốc Lý chủ biên cuốn “Chính sách xóa đói giảm nghèo
thực trạng và giải pháp” (Nxb Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội, 2012).
Với 9 chương, cuốn sách đã trình bày một cách tổng quan về thực trạng đói
nghèo ở Việt Nam; chủ trương, đường lối của Đảng và các chính sách của nhà

năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, đặc biệt từ khi
thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội (1991) đã và đang minh chứng tăng trưởng kinh tế gắn với XĐGN là đảm
bảo cho tăng trương kinh tế cao và bền vững, đồng thời cải thiện đời sống vật
chất và tinh thần của đại bộ phận nhân dân. Làm rõ nhận định trên, tác giả dẫn
chứng những chủ trương của Đảng, chương trình của Chính phủ về XĐGN và
các kết quả của nó trong giai đoạn từ năm 1991 – 2010.
Tác giả Trần Lê Thanh trong bài “Phát huy vai trò của các tổ chức xã
hội trong xóa, đói giảm nghèo”, đăng trên tạp chí Lich sử Đảng số tháng 4 –

12


2011, nhận thấy, MTTQ Việt Nam và các đoàn thể như Đoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp Phụ nữ…, các tổ chức xã hội nghề
nghiệp như Hội làm vườn, Hội nuôi ong, Hội trồng cây gây rừng, hội thả cá…
và các tổ chức xã hội khác như hội Bảo thọ. Hội khuyến học, Hội chữ thập
đỏ, các loại hình quỹ… với tính chất tự nguyện phi lợi nhuận là những tổ
chức thích hợp trong phối hợp với nhà nước thực hiện mục tiêu XĐGN. Tại
Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (6- 1992)
cụm từ “XĐGN” được Đảng ghi nhận và đặt trong mối quan hệ với các chính
sách xã hội khách. Từ đó, trong thực tế, XĐGN với tính chất của một chính
sách xã hội được thực thi bởi chủ thể nhà nước, đồng thời có sự tham gia hỗ
trợ của các tổ chức xã hội nhằm góp phần đẩy mạnh phong trào. Cuối cùng
tác giả kết luận “Chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng là cơ sở quan
trọng để phát huy hơn nữa vai trò của các tổ chức xã hội trong thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN bền vững 2011- 2015).
Bài “Về thực hiện chính sách XĐGN ở Việt Nam giai đoạn 20112020” của GS.TS Trần Ngọc Hiên (Tạp chí Cộng sản điện tử ngày 11- 72011) nêu lên những nhân tố tác động đến chính sách XĐGN Việt Nam trong
thời gian từ năm 2011- 2020 như tăng trưởng kinh tế phiến diện, môi trường
bị tàn phá, sự hạn chế về năng lực tổ chức, quản lý của bộ máy nhà nước các

Trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam trong tiến trình đổi mới” (xuất bản tháng 1- 2009 tại Hà nội) do Trung
tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị - Đại học Quốc gia Hà Nội
chủ trì có bài: “Chủ trương, chính sách của Đảng về XĐGN trong thời kỳ đổi
mới và những vấn đề đặt ra” của TS. Hồ Tố Lương. Tác giả khái quát các
chủ trương, chính sách và quá trình thực hiện chính sách XĐGN của Đảng từ
Đại hội VII (1991) đến Đại hội X (2006), nêu những thành tựu và thách thức
của công cuộc XĐGN.
“Hội nghị đánh giá Chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN và
chương trình 135” của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và UNDP
(2004) đã đưa ra những bài tham luận của các cấp, ban, ngành có liên quan và

14


các nhà nghiên cứu về kết quả cũng như những mặt tồn tại của Chương trình
Quốc gia về XĐGN và chương trình 135 đã thực hiện, đồng thời các tham
luận cũng đưa ra các giải pháp để thực hiện tốt hơn chương trình này trong
các giai đoạn tếp theo…
Nhiều nghiên cứu sinh, học viên cao học đã chọn XĐGN làm đề tài
nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Tiếp cận dưới góc độ kinh tế có đề
tài “Những giải pháp kinh tế xã hội chủ yếu nhằm XĐGN ở Hà Tĩnh” (Luận
án Tiến sỹ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) của tác giả
Trần Đình Đàn (2001); “Giải pháp tín dụng góp phần thực hiện chính sách
xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay” (Luận án Tiến sỹ kinh tế, Học
viện chính trị quân sự) của tác giả Đào Tấn Nguyên. … Đây là những luận án
về XĐGN nhưng dưới góc độ của những nhà hoạch định kinh tế. Do vậy, các
giải pháp cho vấn đề XĐGN chủ yếu là tiếp cận ở một khía cạnh về mặt kinh
tế mà chưa có sự tiếp cận tổng quát trên tất cả các mặt.
Đề tài “Đảng bộ tỉnh Bến Tre lãnh đạo xóa đói giảm nghèo từ

lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ huyện thị đối với công tác XĐGN và những
kết quả đạt được trong quá trình thực hiện.
Luận văn thạc sĩ của Triệu Thị Hà Phương “Nghiên cứu về vấn đề
nghèo và giảm nghèo tỉnh Thái Nguyên” đã phân tích thực trạng và nguyên
nhân nghèo đói ở Thái Nguyên, từ đó đề xuất các giải pháp giảm nghèo theo
hướng bền vững.
Lộc Kim Tuyến, “Công cuộc xóa đói giảm nghèo ở huyện Định Hóa,
tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2001 – 2010”, luận văn thạc sĩ Lịch sử đã đề cập
đến những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện công tác XĐGN ở Định
Hóa.
Âu Thị Huế, “Công cuộc XĐGN ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên giai
đoạn 2001 – 2010”, luận văn thạc sĩ Lịch sử đã khái quát một cách có hệ
thống những chủ trương, chính sách của Huyện ủy và UBND huyện Đại Từ
về công tác XĐGN.

16


Đồng Văn Đạt (2008), Giải pháp kinh tế - xã hội nhằm giảm nghèo và
cải thiện môi trường sống cho người dân nghèo khu vực miền núi Thái
Nguyên, đề tài cấp Bộ, trong đó tác giả đã đề ra một loạt các biện pháp nhằm
XĐGN trên địa bàn tỉnh.
Vũ Vân Anh, Tìm hiểu nguyên nhân đói nghèo tỉnh Thái Nguyên, Tạp
chí Khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội, số 2-2007, tr103-108, tác giả đã
phân tích những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, trong đó tác giả chỉ ra nghèo
đói không chỉ thuần túy về kinh tế mà còn dẫn đến cả những vấn đề xã hội.
Có thể khẳng định rằng, những công trình trên đã cung cấp một phần
nguồn tư liệu quý báu về công tác XĐGN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Tuy
nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào đề cập đến một
cách toàn diện, hệ thống về quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo, chỉ

thực hiện của các ban, ngành, đoàn thể, luận văn sẽ đánh giá những ưu điểm
và hạn chế về công tác XĐGN tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2014.
Từ đó, bước đầu rút ra những kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Thái Nguyên đối với công tác XĐGN trên địa bàn tỉnh.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và làm sáng tỏ về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái
Nguyên đối với công tác XĐGN từ năm 1997 đến năm 2014.
Rút ra những kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái
Nguyên đối với công tác XĐGN nhằm thúc đẩy hơn nữa hiệu quả hoạt động
của các cấp ủy Đảng trong công tác XĐGN trên địa bàn tỉnh
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ những chủ trương và biện pháp của Đảng bộ tỉnh Thái
Nguyên đối với công tác XĐGN từ năm 1997 đến năm 2014.
Đánh giá những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân trong quá trình lãnh
đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên với công tác XĐGN từ năm 1997 đến
năm 2014.

18


4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Những chủ trương và biện pháp của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối
với công tác XĐGN từ năm 1997 đến năm 2014.
Các hoạt động XĐGN ở tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2014
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu trong khoảng thời gian từ
năm 1997 (năm tái lập tỉnh Thái Nguyên sau 31 năm sát nhập với tỉnh Bắc
Kạn thành tỉnh Bắc Thái) đến năm 2014.

Các công trình khoa học có liên quan đến đề tài đã được công bố.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn đã làm rõ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
đối với công tác xóa đói, giảm nghèo 1997 đến năm 2014.
- Luận văn đã chỉ ra những ưu điểm, hạn chế rút ra được một số kinh
nghiệm trong công tác xóa đói, giảm nghèo giai đoạn 1997-2014.
- Luận văn là tài liệu góp phần nghiên cứu lịch sử địa phương, nhất là
lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, lịch sử công tác xóa đói giảm nghèo ở tỉnh
thái nguyên.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và
Phụ lục, luận văn gồm có 3 chương.
Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
về xóa đói giảm nghèo từ năm 1997 đến năm 2005.
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo đẩy mạnh xóa đói
giảm nghèo từ năm 2006 đến năm 2014.
Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm.

20


CHƢƠNG I
CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
TỈNH THÁI NGUYÊN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 1997
ĐẾN NĂM 2005
1.1. Những yếu tố ảnh hƣởng đến sự lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo của
Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên và chủ trƣơng của Đảng bộ
1.1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo
* Điều kiện tự nhiên và xã hội
Vị trí địa lý: Thái Nguyên là một tỉnh miền núi – trung du thuộc vùng

và các huyện Phú Bình, Phổ Yên, địa hình gồm các dải đồi thấp hình bát úp,
xen kẽ giữa những cánh đồng tương đối rộng, giao thông phát triển, dân cư
đông đúc, kinh tế - xã hội phát triển khá. Như vậy, vị trí địa lý như trên đã tạo
điều kiện thuận lợi để Thái Nguyên giao lưu kinh tế với các tỉnh trong khu
vực Việt Bắc, đồng bằng sông Hồng và trung du miền núi phía Bắc. Đồng
thời, kêu gọi các nhà đầu tư khai thác những tiềm năng, thế mạnh của địa
phương, góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Tài nguyên thiên nhiên: Khí hậu và thủy văn của tỉnh Thái Nguyên chia
làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11
đến tháng 4 năm sau. Theo số liệu của Tổng cục khí hậu thuỷ văn, lượng mưa
trung bình hàng năm khoảng từ 1.500 đến 2.500 mm.
Về tài nguyên nước, nguồn nước ngọt của tỉnh chủ yếu do hệ thống
sông ngòi cung cấp, có hai sông chính là: sông Cầu và sông Công. Dòng sông
được ngăn lại ở Đại Từ tạo thành hồ Núi Cốc có mặt nước rộng khoảng 25
km2, với sức chứa lên tới 210 triệu m3 nước. Hồ này có thể chủ động điều hoà
dòng chảy và cung cấp nước tưới tiêu cho 12 nghìn hecta lúa hai vụ màu,
đồng thời cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông
Công. Sông Cầu nằm trong hệ thống sông Thái Bình, có lưu vực 6.030 km2,
bắt nguồn từ Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn chảy theo hướng Bắc - Đông Nam, tổng
lượng nước khoảng 4,5 tỷ m3, hệ thống thuỷ nông của con sông này có khả
năng tưới cho 24 nghìn ha lúa hai vụ. Ngoài ra, Thái Nguyên còn nhiều sông

22


nhỏ khác thuộc hệ thống sông Kỳ Cùng và hệ thống sông Lô. Địa bàn tỉnh
Thái Nguyên có tiềm năng về thuỷ điện kết hợp với thuỷ lợi quy mô nhỏ.
Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 354.104,39 hecta, trong đó: đất
núi chiếm 43,83%, có độ cao trên 200m; đất đồi chiếm 24,57% diện tích đất
tự nhiên, chủ yếu hình thành trên đất cát kết, bội kết, phiến sét và một phần

Nguyên có nhiều khoáng sản vật liệu xây dựng như đá xây dựng, đất sét, đá vụn,
cát sỏi trong, sét xi măng có khoảng 84,6 triệu tấn. Ngoài ra Thái Nguyên còn có
đất sét làm gạch ngói, cát sỏi dùng để xây dựng. Đáng chú ý nhất trong nhóm
khoáng sản phi kim loại của tỉnh là đá carbonnat bao gồm đá vôi xây dựng có trữ
lượng xấp xỉ 100 tỷ m3, đá vôi xi măng ở núi Voi, La Hang, La Hiên có trữ
lượng 222 triệu tấn.
Nhìn chung, Thái Nguyên là tỉnh có nhiều tài nguyên khoáng sản, trong
đó có nhiều loại tài nguyên có ý nghĩa quan trọng trong phạm vi cả nước như:
quặng sắt, than. Đây chính là những yếu tố quan trọng tạo điều kiện cho
ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản phát triển, mở ra những
triển vọng mới cho công tác XĐGN nâng cao đời sống của nhân dân.
Dân cư và nguồn lao động: Tính đến năm 2011 dân số của Thái
Nguyên là 1.139.444 người, mật độ dân số là 323 người/ km2, số nhân khẩu
tập trung ở nông thôn là 76,59%, lao động nông nghiệp chiếm tới 78,35%
tổng số lao động toàn tỉnh. Trong tổng số 257.540 hộ, số hộ nông nghiệp là
73,75%. Tỉnh có 8 dân tộc anh em sinh sống, trong đó người Kinh chiếm
74,37% dân số, còn lại là các dân tộc thiểu số khác như: Tày, Nùng, Dao, Sán
Dìu, Cao Lan, Hmông, Hoa. Dân cư trong tỉnh có sự phân bố không đều giữa
miền núi và đồng bằng, giữa nông thôn và thành thị, giữa các huyện trong
tỉnh. Những nơi tập trung đông dân cư như thành phố Thái Nguyên, các
huyện Đại Từ, Phú Bình, Phổ Yên, Đồng Hỷ. Những nơi tập trung ít dân cư là
các huyện Phú Bình, Định Hóa, Võ Nhai và thị xã Sông Công. Mật độ dân cư
giữa các thành phố, huyện, thị có sự chênh lệch nhau khá nhiều, năm 2000
thành phố Thái Nguyên có mật độ dân số trung bình là 1.250 người/km2, cao

24


gấp 2 lần hai lần so với thị xã Sông Công và các huyện Phú Bình, Phổ Yên,
trong khi đó mật độ dân cư trung bình huyện Võ Nhai chỉ đạt 72 người/km 2.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status