ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
--------------***--------------
LÝ TRUNG THÀNH
ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP
GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:
60 22 56
Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐINH XUÂN LÝ
hµ néi - 2006
1
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
--------------***--------------
LÝ TRUNG THÀNH
ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP
Nguyên đã kịp thời đề ra chính sách và biện pháp phát triển giáo dục - đào tạo
đúng đắn. Nhờ đó sự nghiệp giáo dục - đào tạo của tỉnh đã có bước phát triển
mới. Những thành tựu trên lĩnh vực này góp phần quan trọng vào sự nghiệp
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, bên cạnh đó, giáo dục - đào tạo
ở Thái nguyên vẫn còn những hạn chế và yếu kém, chưa tương xứng với tiềm
năng, thế mạnh của tỉnh.
5
Nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên vận dụng chủ chương,
chính sách của Đảng và Nhà nước, lãnh đạo phát triển giáo dục - đào tạo giai
đoạn 1997 - 2005, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho thời gian tới là
việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn thiết thực.
Với lí do trên, tôi chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo sự
nghiệp giáo dục - đào tạo từ năm 1997 đến năm 2005” làm luận văn Thạc sĩ
Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Giáo dục - đào tạo có vị trí quan trọng trong quá trình cách mạng Việt
Nam, chính vì vậy đã có nhiều công trình được công bố đề cập đến lĩnh vực
này ở những góc độ khác nhau. Nhìn một cách tổng thể, các công trình nghiên
cứu liên quan có thể chia thành những nhóm chủ yếu sau:
- Nhóm thứ nhất là một số công trình nghiên cứu về giáo dục - đào tạo
nói chung:
Bế Viết Đằng: 50 năm các dân tộc thiểu số Việt Nam. Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 1995.
Phạm Minh Hạc: Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996.
Phạm Minh Hạc: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998.
với sự nghiệp giáo dục - đào tạo giai đoạn 1997 - 2005. Do vậy, việc thực
hiện đề tài này sẽ góp phần làm sáng tỏ sự nghiệp giáo dục - đào tạo ở một địa
phương cụ thể.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
Làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Thái Nguyên trong việc xây dựng,
phát triển giáo dục - đào tạo ở Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2005, từ đó
rút ra một số kinh nghiệm về lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên trên
lĩnh vực giáo dục - đào tạo có ý nghĩa tham khảo cho công tác này trong thời
gian tới.
7
* Nhiệm vụ:
Để đạt được những mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Trên cơ sở trình bày điều kiện địa lý tự nhiên, tình hình kinh tế - xã
hội tỉnh Thái Nguyên, làm rõ những yêu cầu đặt ra đối với giáo dục - đào tạo
ở địa phương.
- Làm rõ hệ thống quan điểm của Đảng về xây dựng, phát triển nền
giáo dục và đào tạo trong giai đoạn (1997 - 2005).
- Phân tích hệ thống các chủ trương, giải pháp của Đảng bộ Thái
Nguyên về phát triển giáo dục - đào tạo.
- Làm rõ quá trình chỉ đạo, tổ chức thực hiện sự nghiệp giáo dục - đào
tạo ở Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2005.
- Làm rõ thành tựu và hạn chế của quá trình Đảng bộ Thái Nguyên lãnh
đạo phát triển giáo dục - đào tạo.
- Rút ra những kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo xây dựng và phát
triển giáo dục - đào tạo ở địa phương tỉnh Thái Nguyên.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Góp phần đánh giá chính xác kết quả phát triển giáo dục - đào tạo ở
Thái Nguyên giai đoạn 1997-2005.
- Một số kinh nghiệm lãnh đạo phát triển giáo dục - đào tạo của Đảng
bộ Thái Nguyên ở giai đoạn này có thể tham khảo trong những năm tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương, 7 tiết:
Chương 1: Đặc điểm kinh tế - xã hội và tình hình giáo dục - đào tạo ở
Thái Nguyên.
Chương 2: Chủ trương và chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ Thái Nguyên
về giáo dục - đào tạo (1997-2005)
9
Chương 3: Kết quả và kinh nghiệm của quá trình đổi mới giáo dục đào tạo ở Thái Nguyên (1997-2005).
10
Chƣơng 1
ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI
VÀ TÌNH HÌNH GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO Ở THÁI NGUYÊN
1.1. Một số đặc điểm kinh tế - xã hội của Thái Nguyên
1.1.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
Thái Nguyên là tỉnh thuộc khu vực miền núi và trung du Bắc Bộ, là
trung tâm của vùng Đông Bắc, có diện tích tự nhiên 3.541km 2, dân số
1.085.900 người (2005). Phía Bắc tỉnh Thái Nguyên giáp Bắc Kạn; phía Tây
giáp Vĩnh Phúc, Tuyên Quang; phía Đông giáp Lạng Sơn, Bắc Giang; phía
Nam giáp thủ đô Hà Nội. Sau lưng Thái Nguyên là cả một vùng rừng núi hiểm
Vào thời kỳ đổi mới, ngày 6/11/1996, Quốc hội ra Nghị quyết về phân loại
địa giới hành chính một số tỉnh, trong đó Bắc Thái được tách thành hai tỉnh
Thái Nguyên và Bắc Kạn. Kể từ ngày 01/01/1997, các đơn vị hành chính của
tỉnh Thái Nguyên chính thức đi vào hoạt động.
Hiện nay, Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh (gồm
Định Hoá, Phú Lương, Võ Nhai, Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên; 1
thành phố là Thái Nguyên và thị 1 xã Sông Công). Toàn tỉnh có 180 đơn vị
hành chính xã, phường, thị trấn. Theo quyết định số 42 UB/QĐ ngày
23/5/1997 của Bộ trưởng chủ nhiệm Uỷ ban dân tộc và miền núi, ở Thái
Nguyên có 14 xã là xã miền núi (thuộc khu vực 1); 79 xã (thuộc thu vực 2);
18 xã (thuộc khu vực 3 - rẻo cao); thị trấn miền núi: 11 thị trấn (gồm Chợ
Chu, Chùa Hang, Sông Cầu, Trại Cau, Đại Từ, Quân Chu, Đu, Giang Tiên,
Đình Cả, Bắc Sơn) [56, tr.13].
Nhìn chung, những đặc điểm trên cho thấy, điều kiện tự nhiên của Thái
Nguyên tương đối thuận lợi, các địa phương tỉnh trong tỉnh đều có hệ sinh
thái đảm bảo cho con người sinh sống và sản suất. Tuy vậy, khu vực phía
12
đông của tỉnh gồm các huyện Đồng Hỷ, Võ Nhai có khó khăn về nhiều mặt
đối với việc phát triển kinh tế - xã hội và giáo dục - đào tạo. Các xã như
Nghinh Tường, Sảng Mộc, Tràng Xá, Thần Sa... của huyện Võ Nhai; Khe
Mo, Vân Lăng, Tân Long... của huyện Đồng Hỷ điều kiện sống, sinh hoạt quá
đơn sơ. Giáo dục - đào tạo ở đây gặp nhiều khó khăn vì: trường lớp phân tán,
thiếu giáo viên, việc triển khai đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy
và sách giáo khoa còn nhiều hạn chế, trình độ cán bộ quản lý chưa đáp ứng
yêu cầu. So với sự phát triển chung của các khu vực trong tỉnh Thái Nguyên,
giáo dục - đào tạo của khu vực miền núi, vùng cao Đồng Hỷ, Võ Nhai rất khó
khăn để có thể thực hiện các mục tiêu trong chiến lược phát triển giáo dục
nghiệp như năng lượng, luyện kim, cơ khí, hoá chất... Trong đó công nghiệp
luyện kim và sản suất sắt thép, phôi thép là ngành công nghiệp chủ yếu của
Thái Nguyên. Công nghiệp đóng góp khoảng 30 - 40% vào GDP của tỉnh.
Trong các cơ sở công nghiệp trong nước, có 8 cơ sở do Trung ương quản lý
(Công ty chè Thái Nguyên, Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, Công ty gang thép
thái Nguyên, Công ty kim loại màu, Công ty điêzen Sông Công, Công ty phụ
tùng máy số 1, Nhà máy cơ khí Phổ Yên, Nhà máy y cụ số 2) và 17 cơ sở
công nghiệp quốc doanh do địa phương quản lý. Các cơ sở công nghiệp này
đóng vai trò chủ đạo trong việc phát triển công nghiệp của tỉnh. Cho đến thời
điểm này, ngành công nghiệp Thái Nguyên đã được đầu tư đổi mới về máy
móc thiết bị. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu của Thái Nguyên là than sạch,
thiếc thỏi, xi măng, thép cán, gỗ xẻ và các sản phẩm nông, lâm sản chế biến
khác. Nhiều sản phẩm hàng hoá mới cũng được thị trường chấp nhận như
giấy, thép, đồ uống, hàng may mặc, vật liệu xây dựng [56, tr.179].
Trên lĩnh vực nông nghiệp: đặc điểm thời tiết, khí hậu, đất đai của Thái
Nguyên thích hợp nhiều loại cây trồng. Sản xuất nông nghiệp những năm qua
đã có sự phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá. Nhiều sản phẩm nông
nghiệp của tỉnh được tiêu thụ khắp các thị trường trong cả nước, đặc biệt là
14
sản phẩm chè, một loại cây công nghiệp điển hình và có truyền thống của
Thái Nguyên [56, tr.119].
Như vậy, với đặc điểm kinh tế trên đây, một mặt cho thấy Thái Nguyên
với những thế mạnh của mình có thể tập trung nguồn lực đầu tư cho việc xây
dựng, phát triển giáo dục và đào tạo; nhưng mặt khác, với cơ cấu kinh tế công
nông nghiệp như trên cũng đặt ra yêu cầu Thái Nguyên cần phải đổi mới giáo
dục - đào tạo để đáp ứng nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế của địa
phương.
lát, dệt vải... [56, tr.87].
Dân tộc Nùng ở Thái Nguyên chiếm 5,13% dân số toàn tỉnh, phạm vi
cư trú gần như ở tất cả các huyện, thị trong tỉnh, song tập trung chủ yếu là ở
Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ. Ngoài ra, Thái Nguyên còn có dân tộc Dao, Sán
Dìu, H’Mông, Hoa, Thái... sống rải rác ở khắp các địa phương trong tỉnh [56,
tr.87].
Về hệ thống giáo dục - đào tạo ở tỉnh Thái Nguyên:
Tại thành phố Thái Nguyên hiện có 5 trường Đại học (gồm đại học sư
phạm, đại học nông nghiệp, đại học công nghiệp, đại học y khoa, đại học kinh
tế) và 2 khoa tương đương (khoa khoa học tự nhiên và khoa công nghệ thông
tin).
Các trường chuyên nghiệp của Trung ương và địa phương trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên gồm có 8 trường trung học chuyên nghiệp, 6 trường công
nhân kỹ thuật. So với các thành phố loại 2 khác trên cả nước, Thái Nguyên là
nơi tập trung nhiều trường đại học, trung học chuyên nghiệp hơn cả. Đó là
điều kiện hết sức thuận lợi cho việc phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và
nghiên cứu khoa học cho các tỉnh miền núi phía Bắc.
Về nguồn lực lao động:
Việc sử dụng lao động theo thành phần kinh tế ở Thái Nguyên đang có
sự chuyển dịch quan trọng từ khu vực nhà nước sang khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh (trong đó lao động quốc doanh ở Thái Nguyên chiếm 13,27%;
ngoài quốc doanh chiếm 86,73%). Đến nay lao động ngoài quốc doanh của
16
tnh khụng ch gm s lao ng trong ngnh nụng - lõm nghip m cũn cú
nhiu lao ng trong cỏc ngnh khỏc nh: Cụng nghip ch bin; Thng
nghip dch v; Khỏch sn nh hng; Khai thỏc m; Xõy dng. S lao ng
cụng nghip ngoi quc doanh cỏc huyn, thnh, th trong tnh cng cú
giữa các vùng để vừa khai thác tốt tiềm năng của mỗi vùng vừa tạo thêm việc
làm, đa dạng hoá các loại hình đào tạo; đẩy mạnh hoạt động dạy nghề và giới
thiệu việc làm; phát triển các hoạt động công - nông lâm nghiệp - dịch vụ; mở
rộng liên doanh đầu tư của nước ngoài nhằm thu hút lao động để giải quyết
việc làm. Đối với nông thôn cần phát triển ngành nghề thủ công truyền thống,
dịch vụ nông nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp hoá nông thôn trên cơ sở thâm
canh, chuyên canh, chuyển nền nông nghiệp của tỉnh từ nền nông nghiệp tự
cấp tự túc thành nền nông nghiệp hàng hoá, có vậy mới giải quyết được vấn
dôi dư lao động ở nông thôn một cách cơ bản.
Từ những đặc điểm về kinh tế - xã hội nêu trên cho thấy, Thái Nguyên
có lợi thế về nhiều mặt so với các tỉnh khác trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo.
Song, để phát huy những lợi thế, đòi hỏi Đảng bộ, chính quyền và ngành giáo
dục - đào tạo Thái Nguyên phải phát huy tính chủ động, sáng tạo để có được
những quyết sách thích hợp đẩy mạnh sự nghiệp phát triển giáo dục - đào tạo,
từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Phải thực sự coi giáo
dục - đào tạo là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong việc nâng cao dân trí, bồi
dưỡng nhân tài, đào tạo nguồn lực lao động có tay nghề cao, có trình độ
chuyên môn, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu lao động trong tình hình mới. Thái
Nguyên cần có nhiều giải pháp để tăng hơn số con em đi học ở các bậc học,
nhất là bậc trung học phổ thông và đào tạo nghề phù hợp với khả năng kinh tế
của tỉnh và hoàn cảnh của người dân, nhất là nhân dân ở những vùng nông
thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Có như vậy trình độ học vấn của người
dân Thái Nguyên mới đáp ứng tốt cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá của địa phương.
18
1.2. Giáo dục - đào tạo ở địa bàn Thái Nguyên dƣới sự lãnh đạo của
Đảng bộ Bắc Thái từ năm 1986 đến năm 1996
tưởng chỉ đạo về phát triển giáo dục - đào tạo trong những năm 1987-1990,
với nội dung cơ bản như:
1. Giáo dục là một mặt trận quan trọng trong công cuộc xây dựng và
bảo vệ tổ quốc;
2. Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng;
3. Kế hoạch phát triển giáo dục là một bộ phận của kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước;
4. Chất lượng và hiệu quả, trước mắt và lâu dài;
5. Phát triển theo vùng, phổ cập và nâng cao, đại trà và mũi nhọn;
6. Giáo dục toàn diện, trò ra trò, học ra học;
7. Hệ thống giáo dục đa dạng, linh hoạt;
8. Thầy ra thầy, dạy ra dạy, trường ra trường, lớp ra lớp;
9. Tăng cường nghiên cứu khoa học, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa
học - kỹ thuật và kinh nghiệm giáo dục tiên tiến;
10. Đổi mới quản lý giáo dục [34, tr.77].
Hội nghị giáo dục toàn quốc tổ chức tại thành phố Vũng Tàu đã tạo cơ
hội tốt cho cán bộ Đảng, Chính quyền và đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục Bắc
Thái tiếp nhận đường lối đổi mới giáo dục - đào tạo của Đảng và tư tưởng chỉ
đạo của Bộ Giáo dục - Đào tạo về mục tiêu phấn đấu của ngành giáo dục đào tạo những năm 1987-1990.
Quán triệt quan điểm phát triển giáo dục - đào tạo của Đại hội Đảng VI,
Tỉnh uỷ Bắc Thái đã chỉ đạo các Ban của Đảng và Ngành giáo dục sớm xây
dựng chế độ, chính sách cho người dạy và người học hợp lý để động viên
người đi học và người dạy học. Theo tinh thần đó, Sở giáo dục - đào tạo đã
tham mưu cho Tỉnh uỷ, triển khai Nghị quyết VI của Đảng trong toàn thể cán
bộ, giáo viên và công nhân viên chức của ngành giáo dục. Tuy vậy, quá trình
triển khai và thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của các cấp và chủ trương của
Bộ Giáo dục - Đào tạo, ngành giáo dục Bắc Thái bước đầu còn gặp nhiều khó
20
động tích cực lập kế hoạch cử cán bộ đi học bổ túc văn hoá tập trung, xây
21
dựng chính sách, chế độ cho người dạy và người học. Ngành giáo dục kết hợp
với Chính quyền các phường, xã, động viên và huy động nhân dân ủng hộ sửa
chữa trường lớp, đảm bảo đủ chỗ cho số người đến lớp, củng cố hệ thống
trường bổ túc văn hoá phường xã, nhanh chóng cải tiến nội dung, phương
pháp giảng dạy cho phù hợp yêu cầu thực tế.
Cùng với việc động viên, khuyến khích học tập, Sở Giáo dục - Đào tạo
đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh đưa ra các biện pháp hành chính quy
định việc đi học là một tiêu chuẩn bình xét thi đua, đề bạt, nâng lương; tăng
cường đội ngũ giáo viên cho những trường còn thiếu. Giao nhiệm vụ cho
trường Trung học sư phạm của tỉnh chịu trách nhiệm đào tạo, chuẩn hoá và
cập nhật kiến thức cho đội ngũ giáo viên mẫu giáo, giáo viên cấp I, cấp II.
Chú trọng việc cải tiến phương pháp giảng dạy theo hướng nâng cao chất
lượng học tập của học sinh.
Thực hiện Chỉ thị 01/CT của Hội đồng bộ trưởng (2/1/1990) về việc
chống mù chữ, Tỉnh ủy Bắc Thái đã chỉ đạo ngành giáo dục làm nòng cốt,
phát động các địa phương trong toàn tỉnh phong trào chống nạn mù chữ,
thành lập Ban chỉ đạo các cấp về phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ.
Bên cạnh những chuyển biến và một số kết quả bước đầu, trong những năm
1986 -1990, do tập trung giải quyết những khó khăn về kinh tế - xã hội nên
việc tập trung xoá mù chữ đã bị xem nhẹ, từ đó, tình trạng mù chữ vẫn còn và
có chiều hướng gia tăng, chất lượng dạy và học xuống thấp, năm học 19881989 có tới 15% trong tổng số học sinh của tỉnh bỏ học [2, tr.214].
Nhìn một cách khái quát, trong những năm 1986 -1990, việc tổ chức
thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục trên địa bàn tỉnh còn gặp nhiều khó
khăn và hạn chế do điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương có nhiều hạn
chế. Hiện tượng mất cân đối giữa các ngành, nghề trong tỉnh diễn ra khá gay
hội trong giáo dục - đào tạo. Giáo dục - đào tạo phải gắn chặt với yêu cầu phát
triển đất nước, phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại.
Những quan điểm về giáo dục - đào tạo của Đại hội VII và Nghị quyết
Trung ương lần thứ 4 (1/1993) về “Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào
tạo” là cơ sở để Đảng bộ Bắc Thái tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào
tạo ở địa phương. Tỉnh uỷ Bắc Thái nhận thức rõ, để đưa sự nghiệp giáo dục -
23
đào tạo tỉnh nhà phát triển xứng đáng với tiềm năng và thế mạnh vốn có thì
cần phải “...động viên được mọi tầng lớp nhân dân chăm lo cho giáo dục. Các
Cấp uỷ và tổ chức kinh tế, xã hội, các gia đình và cá nhân đều phải có trách
nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo, đóng góp trí
tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục - đào tạo. Kết hợp giáo dục nhà
trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, tạo nên môi trường giáo dục
lành mạnh ở mọi nơi, trong từng cộng đồng, từng tập thể” [17, tr.44].
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Thái lần thứ VI họp vào ngày
26/9/1991. Đại hội đã thảo luận và quyết định mục tiêu, phương hướng,
nhiệm vụ 5 năm (1991-1995). Về giáo dục - đào tạo, Đại hội chủ trương:
“Tiếp tục ổn định và phát triển giáo dục - đào tạo trên cơ sở đa dạng hoá, xã
hội hoá nhằm nâng cao dân trí, đào tạo lao động, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế xã hội ở địa phương. Tạo một bước chuyển biến
tiến bộ về chất lượng giáo dục - đào tạo. Tăng cường giáo dục chính trị, đạo
đức và hướng nghiệp, chú trọng thích đáng các môn tin học, ngoại ngữ, kỹ
thuật, lịch sử, địa lý địa phương. Có kế hoạch hợp lý huy động các nguồn vốn
để bổ sung cơ sở vật chất cho các trường lớp và bồi dưỡng nâng cao chất
lượng đội ngũ giáo viên” [16, tr.35].
Đại hội đề ra một số giải pháp chủ yếu để phát triển giáo dục - đào tạo
như:
cuối các cấp học và ở các trường chuyên, lớp chọn bồi dưỡng học sinh có
năng khiếu. Tất cả các xã trong tỉnh đều có trường tiểu học, 98,8% số xã có
trường cấp II, hoặc Phổ thông cơ sở, các huyện đều có trường Phổ thông
trung học, 94% trong tổng số xã, phường của tỉnh đã đạt chuẩn quốc gia về
phổ cập tiểu học và chống mù chữ. Chỉ còn 7.366 người mù chữ ở độ tuổi từ
15 đến 35 chiếm 2,38% số người trong độ tuổi. Chất lượng giáo viên từng
bước được nâng lên. Tính đến năm học 1995 -1996 đã có 50% giáo viên mầm
non, 97% giáo viên tiểu học, 78% giáo viên trung học cơ sở và 90% giáo viên
trung học phổ thông đạt chuẩn đào tạo. Mặc dù tỉnh đã có nhiều cố gắng,
song, do số học sinh tăng nhanh và yêu cầu chất lượng ngày một cao, việc xây
dựng cơ ở vật chất cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo vẫn chưa đáp ứng kịp yêu
cầu, năng lực đội ngũ giáo còn có những mặt hạn chế, giáo viên ở vùng cao,
25
vùng sâu, vùng xa vẫn còn nhiều khó khăn trong công tác và sinh hoạt” [17,
tr.14].
Trên cơ sở đánh giá thực trạng của giáo dục - đào tạo và xuất phát từ
yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới của địa phương, Hội nghị giữa nhiệm
kỳ đã đề ra nhiệm vụ cho công tác giáo dục - đào tạo của tỉnh trong 2 năm
tiếp theo (1994-1995): “Tiếp tục đa dạng hoá, xã hội hoá, nâng cao toàn diện
chất lượng giáo dục - đào tạo đáp ứng nguyện vọng học tập của con em nhân
dân và gắn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trước mắt cần
hoàn tất việc sắp xếp lại hệ thống trường lớp theo chủ trương hình thành bậc
tiểu học và hai bậc trung học mới. Hoàn chỉnh các trường chuyên, lớp chọn.
Khuyến khích các tổ chức xã hội mở trường dân lập, tư thục dạy nghề, dạy
ngoại ngữ, tin học và nuôi dạy trẻ. Phấn đấu cơ bản thanh toán tình trạng học
3 ca (đi đôi với tăng cường trách nhiệm của nhà trường trong việc tự bảo quản
cơ sở vật chất). Phát triển quỹ học bổng dành cho học sinh giỏi. Đặc biệt chú
- đào tạo xây dựng đề án giải quyết khó khăn cho giáo viên; đẩy mạnh việc
đào tạo nghề, hướng nghiệp; xây dựng trật tự kỷ cương học đường; khuyến
khích mở trường dân lập; tách trường cấp I và cấp II. Với sự nỗ lực của toàn
ngành và của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, đến năm 1995, mạng lưới giáo
dục được mở rộng về quy mô và loại hình đào tạo. Hệ thống giáo dục từ cấp
tỉnh đến huyện, phường, xã từng bước được củng cố. Các ngành học từ mầm
non đến phổ thông và bổ túc văn hoá đều được mở rộng và tăng cường về
nhiều mặt:
Ngành học mầm non: cơ sở vật chất được tăng cường đầu tư, mở thêm
nhà trẻ, trường mẫu giáo ở các bản làng xa xôi hẻo lánh, các vùng dân tộc
thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng cao của tỉnh. Số lượng các cháu trong độ
tuổi đến trường tăng lên qua các năm học. Nội dung giảng dạy từng bước
được cải tiến để phù hợp với yêu cầu thực tế địa phương, với đặc điểm của
từng vùng dân tộc. Chất lượng dạy học đã có những tiến bộ nhất định.
Những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, trong bối cảnh nền kinh
tế đất nước hết sức khó khăn nên số lượng các cháu trong độ tuổi đến trường
27