ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
——————————————
DƢƠNG THỊ KIM HUỆ
ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO
XÂY DỰNG LỰC LƢỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƢƠNG
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945-1954)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI – 2011
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1
Chƣơng 1. ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
LỰC LƢỢNG VŨ TRANG ĐỊA PHƢƠNG GIAI ĐOẠN 1945-1950 ................. 8
1.1. Những điều kiện tác động đến sự chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ
trang địa phương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên....................................... 8
1.1.1. Điều kiện tự nhiên - xã hội tỉnh Thái Nguyên ............................................ 8
1.1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam
về lực lượng vũ trang địa phương ............................................................. 12
1.2. Lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang địa phương ở Thái Nguyên
giai đoạn 1945 - 1950................................................................................ 16
3.2.3. Kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động quân sự của lực lượng vũ trang
địa phương với các cuộc đấu tranh khác của nhân dân trong cuộc
kháng chiến toàn diện ............................................................................... 86
3.2.4. Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, coi trọng công tác Đảng công tác chính trị trong lực lượng vũ trang địa phương ........................... 87
3.2.5. Phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cấp uỷ trong quá trình
thực hiện đường lối cách mạng và đường lối quân sự của Đảng .............. 91
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chiến tranh giải phóng dân tộc là vấn đề trung tâm, xuyên suốt lịch sử
dân tộc Việt Nam trong gần trọn chiều dài thế kỷ XX. Vấn đề này đã tác động
mạnh mẽ đến mọi mặt đời sống của người dân Việt Nam. Cuộc sống gắn liền
với cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Và trong cuộc đấu tranh đó, mỗi người
dân đều có thể trở thành người chiến sĩ, cầm súng chiến đấu bảo vệ quê
hương, đất nước với tinh thần yêu nước và chí căm thù giặc sâu sắc.
Vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ
thể của Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cả nước tiến hành
cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại bằng đường lối chiến tranh nhân dân độc
đáo. Đó là cuộc chiến mà sức mạnh của mỗi người dân được phát huy, tổng
hợp thành sức mạnh của cả dân tộc. Ở đó xây dựng lực lượng vũ trang địa
phương trở thành một vấn đề quan trọng được đặc biệt quan tâm. Với phương
châm động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, đánh giặc trên mọi mặt trận,
Đảng ta đã lãnh đạo xây dựng được lực lượng vũ trang địa phương rộng khắp
và to lớn, phát huy được ưu thế của mình, hình thành nên thế trận mỗi người
dân là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài ngăn bước tiến quân địch.
thành một vấn đề lịch sử, được bàn đến rất nhiều trong các bài nói, bài viết và
các công trình nghiên cứu của các nhà lãnh đạo, nhà quân sự và các học giả,
trong đó phải kể đến những tác phẩm tiêu biểu như:
Hồ Chí Minh: Bàn về chiến tranh nhân dân và các lực lượng vũ trang
nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1966.
Võ Nguyên Giáp: Vị trí chiến lược của chiến tranh nhân dân ở địa
phương và của các lực lượng vũ trang địa phương, Nxb Quân đội nhân dân,
Hà Nội, 1972.
Võ Nguyên Giáp: Những kinh nghiệm lớn của Đảng ta về lãnh đạo đấu
tranh vũ trang và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, Nxb Sự thật, Hà
Nội, 1961.
5
Nguyễn Chí Thanh: Đảng ta lãnh đạo tài tình chiến tranh nhân dân và
xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội,
1970. v.v…
Các công trình nghiên cứu đó đã tập trung làm rõ những nội dung cơ
bản về lực lượng vũ trang địa phương như:
Các bộ phận của lực lượng vũ trang địa phương.
Vai trò, vị trí chiến lược của lực lượng vũ trang địa phương.
Mối quan hệ giữa lực lượng vũ trang địa phương với các bộ phận khác
trong lực lượng vũ trang ba thứ quân.
Sự chỉ đạo của Đảng trong xây dựng lực lượng vũ trang địa phương.
Các tác giả đều đã khẳng định vị trí đặc biệt quan trọng của lực lượng
vũ trang địa phương trong thế trận chiến tranh nhân dân. Những luận điểm đó
sẽ là cơ sở lý luận cho việc tìm hiểu, nghiên cứu của đề tài này.
Trên cơ sở những lý luận chung về lực lượng vũ trang địa phương, đã
có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết nói về lực lượng vũ trang địa phương
Bắc - Thu Đông 1947‖ (năm 1997), tác giả Đặng Môn đã có bài: ―Các lực
lượng vũ trang nhân dân địa phương Thái Nguyên từ sau chiến thắng Việt
Bắc - Thu đông 1947 đến thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngày nay‖.
Với độ dài 10 trang, tác giả đã khái quát một ngắn gọn về lực lượng vũ trang
địa phương của tỉnh kể từ sau 1947, nêu ra một số sự kiện và con số liên quan
đến hoạt động xây dựng lực lượng này ở Thái Nguyên trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Nằm trong các hoạt động kỷ niệm 50 năm chiến thắng Việt Bắc Thu
Đông 1947, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên đã xuất bản cuốn kỷ yếu
hội thảo khoa học: ―Thái Nguyên trong chiến thắng Việt Bắc - Thu Đông
1947” (Thái Nguyên, 1997). Tác phẩm là tập hợp những bài viết của các
tướng lĩnh, các cán bộ lão thành cách mạng, các nhà nghiên cứu khoa học lịch
sử trong và ngoài quân đội ở Trung ương và địa phương về chiến thắng quân
sự này. Tập trung vào một mốc lịch sử năm 1947, một số bài viết trong cuốn
sách nhắc đến lực lượng vũ trang địa phương với vai trò là lực lượng quan
7
trọng trong việc chiến đấu bảo vệ an toàn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, các
đồng chí lãnh đạo và các cơ quan trọng yếu của Đảng đóng trên địa bàn tỉnh,
đồng thời có những bước phát triển mạnh trong xây dựng lực lượng, chuẩn bị
cho chiến dịch Việt Bắc Thu Đông và những đóng góp nổi bật của lực lượng
vũ trang này trong chiến thắng năm 1947.
Cùng với đó còn có nhiều tác phẩm khác như: ―Tổng kết chiến tranh du
kích Thái Nguyên‖ - Lưu LSĐ tỉnh Thái Nguyên; Sở VHTT Bắc Thái: ―Bắc
Thái 40 năm đấu tranh và xây dựng (1945-1985)‖, 1985; Echinard: ―Lịch sử
chính trị và quân sự tỉnh Thái Nguyên‖- Lưu LSĐ tỉnh Thái Nguyên…
Như vậy có thể thấy:
Dù ở những mức độ khác nhau song các công trình trên đều đã quan
Trình bày có hệ thống, kết hợp với phân tích, đánh giá những quan
điểm, chủ trương, nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên trong lãnh đạo
xây dựng lực lượng vũ trang địa phương giai đoạn kháng chiến chống thực
dân Pháp (1945-1954).
Khái quát quá trình chỉ đạo tổ chức của Tỉnh uỷ. Kết quả và những đóng
góp nổi bật của lực lượng vũ trang địa phương tỉnh trong 9 năm kháng chiến.
Nhận xét, đánh giá về công tác lãnh đạo và sự phát triển trong chủ
trương chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang địa phương của Đảng bộ tỉnh
Thái Nguyên trong kháng chiến chống Pháp, những kinh nghiệm rút ra.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Vai trò của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên trong việc lãnh đạo xây dựng
lực lượng vũ trang địa phương thời kỳ kháng chiến chống Pháp xâm lược
(1945-1954).
* Phạm vi nghiên cứu:
Thời gian: trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954).
Không gian: Tỉnh Thái Nguyên thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
Nội dung: Vai trò lãnh đạo của Tỉnh uỷ Thái Nguyên trong xây dựng
lực lượng vũ trang địa phương, tập trung vào ba vấn đề chủ yếu: công tác tổ
9
chức, công tác Đảng - công tác chính trị, công tác hậu cần trong lực lượng vũ
trang địa phương.
5. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu:
* Nguồn tài liệu:
Những lý luận chung, quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin và Đảng
Cộng sản Việt Nam về lực lượng vũ trang địa phương.
Hệ thống chủ trương, nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về xây
1.1. Những điều kiện tác động đến sự chỉ đạo xây dựng lực lƣợng
vũ trang địa phƣơng của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
1.1.1. Điều kiện tự nhiên - xã hội tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là một tỉnh thuộc khu vực trung du và miền núi phía Bắc,
nằm ở vị trí trung tâm của vùng chiến lược phía bắc sông Hồng, ở tọa độ từ
21,20 đến 22,03 độ vĩ Bắc, 105,28 đến 106,16 độ kinh Đông. Phía Bắc tỉnh
giáp Bắc Cạn, phía Đông Nam giáp Bắc Giang, phía Đông Bắc giáp Lạng Sơn,
phía Nam giáp Hà Nội, phía Tây Nam giáp Vĩnh Phúc và phía Tây giáp Tuyên
Quang. Thái Nguyên có diện tích tự nhiên 3.541,5km². Với vị trí như vậy, Thái
Nguyên trở thành điểm tiếp giáp, là cầu nối giữa đồng bằng châu thổ sông
Hồng với các tỉnh vùng núi phía Bắc (Tuyên Quang, Bắc Cạn, Lạng Sơn).
Địa hình Thái Nguyên không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du,
miền núi khác. Thái Nguyên mang đặc trưng ba vùng rõ rệt: phía Tây và Tây
Bắc là vùng rừng núi trập trùng, hiểm trở, đồng thời tạo thành các khu ruộng
nhỏ, sâu kín và phì nhiêu nằm rải rác khắp vùng. Phía Đông địa hình phức tạp
với những khối đá vôi to lớn, nhiều thung lũng hẹp và sâu. Trong lòng núi đá
vôi ở đây có nhiều hang ngầm rộng, trong chiến tranh được dùng làm kho
chứa hàng hoá vũ khí hoặc làm nơi trú quân rất thuận lợi. Đặc biệt là huyện
Định Hoá, nơi có địa thế hiểm trở, núi rừng bạt ngàn, lại có dãy núi Hồng án
ngữ, tạo nên bức tường thành kiên cố. Xen giữa các thôn, bản ở đây là những
đồi cây rậm rạp, che kín đường đi lối lại và nhà cửa bên trong. Vị trí hiểm yếu
cùng với cơ sở quần chúng vững chắc là nhân tố đặc biệt quan trọng đảm bảo
cho sự an toàn tuyệt đối của cơ quan đầu não hoạt động trong suốt thời kỳ
11
kháng chiến. Vùng trung du gồm thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công
và các huyện Phổ Yên, Phú Bình. Sự xen kẽ giữa các dạng địa hình tạo nên
tính chất đa dạng cho cảnh quan thiên nhiên của tỉnh. Bên cạnh những dãy núi
HMông, Sán Chí, Sán Dìu, Hoa. Người dân bản địa ở Thái Nguyên so với các
tỉnh khác không nhiều, song qua các thời kỳ lịch sử, thành phần tộc người và
dân số Thái Nguyên đã gia tăng. Người Kinh chiếm khoảng 75,5% dân số
toàn tỉnh. Người Tày là tộc người ở Thái Nguyên từ rất lâu đời và có số lượng
đông nhất trong các dân tộc thiểu số. Địa bàn cư trú của người Tày rộng khắp
trong phạm vi toàn tỉnh, song chủ yếu là những huyện miền núi, vùng cao…
Nhiều tộc người ở Thái Nguyên lại phân thành nhiều chi tộc rất phong phú
như người Nùng chia thành Nùng Phàn Sình, Nùng Cháo, Nùng Inh; người
Dao có 4 nhóm chính là Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Lô gang, Dao quần chẹt…
Nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên vốn có truyền thống văn hoá lâu đời.
Do tập trung nhiều dân tộc sinh sống nên Thái Nguyên có văn hoá các tộc
người hết sức đa dạng. Văn hoá của mỗi dân tộc đều có những nét riêng độc
đáo từ sinh hoạt, phong tục tập quán đến trang phục, lễ hội, ngôn ngữ. Dưới
sự lãnh đạo của Đảng, những tinh hoa văn hoá cùng truyền thống tốt đẹp của
mỗi dân tộc đang ngày càng được phát huy, góp phần quan trọng tạo nên hình
ảnh Thái Nguyên đổi mới và phát triển.
Với những yếu tố thuận lợi về tự nhiên, xã hội, Thái Nguyên giữ vị trí
chiến lược quan trọng trong chiến tranh. Cả một vùng rừng núi trùng điệp, đi
dần từ những ngọn đồi ở Phú Thọ, Vĩnh Yên, Bắc Giang, đi qua các dãy Tam
Đảo chất ngất hay Yên Thế, Nhã Nam hùng vĩ; rồi tiến về phía Bắc là Đình
Cả, Bắc Sơn, Cai Kinh, là Kim Hỷ, là tiền Phia Boóc… đứng về địa thế, đây
là nơi hết sức thuận lợi cho hoạt động quân sự, cả tiến công và phòng thủ.
Trong quá trình dựng nước và giữ nước, từ xưa ông cha ta đã coi vùng
Bắc Cạn - Thái Nguyên ―là nơi phên dậu thứ hai về phương Bắc‖ của nước
Việt. Đảng ta coi đây là địa bàn có ý nghĩa chiến lược quan trọng cho việc
xây dựng căn cứ địa trong đấu tranh cách mạng, trong các cuộc chiến tranh
13
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm căn cứ địa của Trung ương, hậu
phương chiến lược của cả nước. Thái Nguyên nằm trong vùng trung tâm của
An Toàn Khu (ATK), là nơi ở và nơi làm việc của cơ quan lãnh đạo tối cao
cuộc kháng chiến chống Pháp từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc thắng lợi.
Gần cơ quan lãnh đạo Trung ương nên Thái Nguyên thuận lợi trong việc tiếp
nhận những chủ trương, nhận định của Đảng cũng như nhận được sự phối hợp,
giúp đỡ của các đơn vị chủ lực đối với lực lượng vũ trang địa phương trong quá
trình xây dựng và tác chiến. Với truyền thống đấu tranh như vậy, con người
Thái Nguyên được hun đúc tinh thần đấu tranh bất khuất, kiên cường, trở thành
cơ sở vững chắc cho sự phát triển của phong trào cách mạng.
1.1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng Cộng sản Việt
Nam về lực lượng vũ trang địa phương
Vấn đề lực lượng vũ trang địa phương được các nhà kinh điển của chủ
nghĩa Mác-Lênin đề cập đến thông qua việc bàn về chiến tranh nhân dân và
lực lượng vũ trang nhân dân.
Theo Mác và Ăng-ghen, khi giai cấp công nhân cùng giai cấp nông dân
và nhân dân lao động đã giác ngộ và nổi dậy thì nhất định phải có vũ trang
mới giành được chính quyền. Trong điều kiện lịch sử khi đó, về mặt lý luận
quân sự, vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang mà chủ nghĩa Mác đề ra là vấn
đề vũ trang quần chúng chứ chưa phải vấn đề tổ chức quân đội. Trong nhiều
tác phẩm nghiên cứu về chiến tranh, Ăng-ghen đã nói rất nhiều đến vai trò và
tác dụng to lớn của quần chúng vũ trang trong chiến tranh chính nghĩa, chiến
tranh tự vệ. Ăng-ghen đã viết ―một dân tộc muốn giành độc lập cho mình thì
không được tự giới hạn trong những phương thức thông thường để tiến hành
chiến tranh. Khởi nghĩa quần chúng, chiến tranh cách mạng, các đội du kích ở
khắp mọi nơi - đó là phương thức duy nhất nhờ đó mà một dân tộc nhỏ có thể
chiến thắng được một dân tộc lớn, mà một quân đội ít mạnh hơn có thể đối
lập với một quân đội mạnh hơn và có tổ chức hơn‖ [1, tr.18]. Ăng-ghen còn
Như vậy có thể thấy chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định vai trò, sức
mạnh to lớn của lực lượng vũ trang quần chúng trong sự nghiệp cách mạng.
16
Trong quá trình làm cách mạng, khi vấn đề đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa vũ
trang được đặt ra thì giai cấp vô sản, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp
bức nhất thiết phải có tổ chức quân sự của mình. Và thông thường tổ chức ấy
có hình thức ban đầu là quần chúng vũ trang, trên cơ sở đó sẽ tiến lên xây
dựng quân đội cách mạng. Do đó việc vũ trang quần chúng cách mạng rộng
khắp và mạnh mẽ là một nhiệm vụ hết sức quan trọng.
Vận dụng sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về lý luận quân
sự vào trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây
dựng đường lối quân sự đúng đắn và sáng tạo. Ngay trong thời kỳ Đảng ta
mới thành lập, những quan điểm quân sự đầu tiên đã hình thành, trong đó vấn
đề vũ trang quần chúng, coi cách mạng nói chung và đấu tranh vũ trang nói
riêng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân là quan điểm cơ bản. Ngay từ đầu
Đảng ta đã đề ra chủ trương: Vừa vũ trang quần chúng vừa thành lập quân đội
cách mạng. Những văn kiện đầu tiên của Đảng đã từng nêu rõ các vấn đề tổ
chức các đội tự vệ, huấn luyện quân sự cho quần chúng lao động và chuẩn bị
những điều kiện để tiến lên xây dựng các đội du kích, tiến hành chiến tranh du
kích và khởi nghĩa vũ trang, xây dựng quân đội cách mạng. Xuất phát từ quan
điểm chiến tranh nhân dân là quan điểm cơ bản nhất trong đường lối quân sự
của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng ta đã xây dựng lực lượng vũ trang cách
mạng bằng cách tổ chức ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân
quân tự vệ, trong đó bộ đội địa phương và dân quân tự vệ hợp thành lực lượng
vũ trang địa phương rộng rãi.
Bộ đội địa phương là một trong ba thứ quân, là chủ lực của địa phương.
Đây là lực lượng nối liền giữa các lực lượng tiến hành chiến tranh nhân dân,
phương, không hậu phương, phải tiến hành cuộc chiến tranh toàn diện, bộ đội
chúng ta lại đang trong quá trình xây dựng mọi mặt về tổ chức cũng như về
kỹ thuật thì lực lượng vũ trang địa phương là hình thức tổ chức thích hợp và
phát huy hiệu quả. Như vậy chỉ có dân quân du kích và bộ đội địa phương
mới là tổ chức thích hợp để đoàn kết toàn dân đánh địch trong những điều
kiện đó.
18
Khi chiến tranh càng phát triển thì các lực lượng vũ trang địa phương
càng phải được củng cố và phát triển vững chắc. Trong suốt chiều dài của
cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, Đảng ta đã lãnh đạo xây dựng được lực
lượng vũ trang địa phương mạnh mẽ và rộng khắp, là cơ sở vững chắc để thực
hiện chiến tranh nhân dân.
Ngày nay, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vai trò chiến
lược của lực lượng vũ trang địa phương vẫn được khẳng định. ―Có phải chỉ
cần thực hiện nghĩa vụ quân sự để chuẩn bị lực lượng dự bị cho quân chính
quy, còn tổ chức dân quân tự vệ không cần thiết nữa hay không? Hoàn toàn
không phải như thế. Chiến tranh tương lai nếu có xảy ra thì về bản chất vẫn là
chiến tranh nhân dân, cho nên những hình thức tổ chức của các thứ lực lượng
vũ trang từ thấp lên cao như chúng ta đã có kinh nghiệm vẫn hoàn toàn thích
hợp, cần thiết và có một tác dụng rất to lớn… đó là một trong những điều kiện
cơ bản không thể thiếu để tích cực bảo vệ đất nước trong thời bình, để đảm
bảo thắng lợi nếu chiến tranh xảy ra‖ [33, tr.40-41]. Do đó vũ trang quần
chúng cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương lớn mạnh vẫn
luôn là nhiệm vụ quan trọng trong công tác quân sự của Đảng ta.
1.2. Lãnh đạo xây dựng lực lƣợng vũ trang địa phƣơng ở Thái
Nguyên giai đoạn 1945 - 1950
1.2.1. Lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang địa phương trong giai
Nguyên lúc bấy giờ tuy mới chỉ là bước đầu nhưng vô cùng quý giá.
Tuy nhiên, sau cách mạng tháng Tám, cũng giống như tình hình chung
của cả nước, Thái Nguyên đứng trước những khó khăn lớn đe dọa đến sự tồn
tại của chính quyền cách mạng. Đó là chính quyền cách mạng vừa mới được
thành lập, chưa có kinh nghiệm quản lý. Lực lượng vũ trang cách mạng còn
nhỏ bé, trang bị thô sơ và còn nhiều thiếu thốn.
Lợi dụng sự chống phá của các lực lượng nước ngoài đối với nước ta,
các thế lực phản cách mạng trong nước cũng nổi dậy phá hoại. Theo như các
nguồn sử liệu ghi lại, một số tên đặc vụ của Tưởng ở thị xã Thái Nguyên nằm
vùng từ những năm 40 bắt đầu lộ diện. Những phần tử phản động lợi dụng
đạo Thiên chúa ở Nhã Lộng (Phú Bình) đã đứng ra tổ chức ―Liên đoàn thanh
20
niên chống cộng‖. Chúng bí mật liên hệ với Pháp xin vũ khí chống cách
mạng. Bọn ―Đại Việt quốc gia liên minh‖ tích cực hoạt động lôi kéo quần
chúng nhằm tranh giành ảnh hưởng với Việt Minh. Ở những vùng rừng núi
hẻo lánh, một vài toán thổ phỉ nổi lên cùng với bọn lưu manh giả danh Việt
Minh quấy phá. Bọn phản động được các thế lực ngoại bang khuyến khích đã
có những hành động chống phá cách mạng như: tuyên truyền, chia rẽ nhân
dân, khiêu khích lực lượng vũ trang, ám sát, bắt cóc cán bộ, cướp phá của cải
của nhân dân. Một số nơi chúng ngấm ngầm cất giấu vũ khí, tổ chức lực
lượng quân sự nhằm chờ thời cơ lật đổ chính quyền cách mạng. Cùng với đó
là những khó khăn về kinh tế, văn hoá. Lúc này phần lớn ruộng đất vẫn nằm
trong tay địa chủ. Hậu quả do chính sách thống trị của đế quốc, phát xít để lại
cộng với gánh nặng của lũ lụt, hạn hán càng làm cho đời sống nhân gặp nhiều
khó khăn. sản xuất đình trệ, tài chính cạn kiệt, ngân khố tỉnh chỉ có 20.000
đồng Đông Dương, phần lớn dân không biết chữ, tệ nạn xã hội còn phổ biến.
Với vị trí nằm ở trung tâm của căn cứ địa Việt Bắc - căn cứ địa của Trung
5- Đào An Thái – Uỷ viên, phụ trách huyện Võ Nhai.
6- Vũ Thị Bảo Ngọc – Uỷ viên, phụ trách công tác phụ nữ.
7- Vũ Hưng - Uỷ viên, phụ trách huyện Định Hoá.
8- Nguyễn Bá Cương - Uỷ viên, phụ trách nông hội [6, tr.177]
Cũng tại đây nhiều chủ trương, biện pháp nhằm xây dựng và bảo vệ
chính quyền cách mạng đã được thông qua. Một trong những nhiệm vụ quan
trọng bậc nhất trong công tác chuẩn bị kháng chiến được Đảng bộ Tỉnh chú
trọng là thực hiện đường lối quân sự của Trung ương, tiếp tục củng cố và phát
triển lực lượng vũ trang địa phương trên địa bàn tỉnh.
Trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, Thái Nguyên đã xây dựng
được lực lượng tự vệ khá hùng hậu hoạt động bên cạnh Quân Giải phóng.
―Các huyện trong tỉnh đều thành lập được các đơn vị tự vệ tập trung‖ [5,
tr.143]. Phong trào luyện tập quân sự và xây dựng lực lượng dân quân tự vệ,
một trong những phong trào cách mạng khởi đầu, thực sự trở thành phong
trào quần chúng sâu rộng.
22
Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, cuộc
kháng chiến chống Pháp xâm lược bùng nổ ở Nam bộ. Trước tình hình đó,
Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào cả nước ―phải trút toàn
lực vào đó. Hy sinh hết thảy vì kháng chiến. Hy sinh hết thảy vì mặt trận miền
Nam‖ [49, tr.29]. Đối với Việt Bắc, trong đó có Thái Nguyên, ngay từ sau
tháng 8/1945, Trung ương Đảng đã giao cho nhiệm vụ xây dựng các chi đội
Nam tiến, Tây tiến, xây dựng dân quân tự vệ, tiễu phỉ trừ gian. Thực hiện chủ
trương đó, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, ―hàng ngàn con em các dân tộc
trong toàn tỉnh đã nô nức đến các ―phòng Nam bộ‖ ghi tên xung phong tòng
quân lên đường vào Nam đánh giặc. Các đội quân Nam tiến gấp rút được xây
dựng. Những vũ khí, trang bị tốt nhất, những cán bộ, chiến sĩ ưu tú nhất được
Nguyên có 300 du kích. Các đội du kích Phú Bình, Phổ Yên, Đồng Hỷ, Đại
Từ được trang bị tương đối tốt, có tổ chức chỉ huy chặt chẽ. Nhân dân các địa
phương đều tình nguyện đóng góp sức người, sức của để xây dựng lực lượng,
mua sắm vũ khí, trang bị. Nhờ đó lực lượng vũ trang địa phương tiếp tục phát
triển nhanh chóng‖ [5, tr.145]. Thái Nguyên thành lập Uỷ ban bảo vệ các cấp
có đại diện lực lượng vũ trang tham gia. Bộ đội cảnh vệ được xây dựng ở
huyện, tỉnh trên cơ sở các đội du kích tập trung.
Từ nửa sau năm 1946, thực dân Pháp càng bộc lộ rõ dã tâm xâm lược
nước ta. Trong khi chúng ta tỏ rõ thiện chí thì chúng liên tiếp gây ra các vụ
xung đột địa phương kích động quần chúng nhân dân ở nhiều nơi, phá hoại
những điều khoản đã ký kết. Tình hình giữa ta và Pháp ngày càng căng thẳng.
Trước diễn biến đó, ngày 19/10/1946, Hội nghị Quân sự toàn quốc của Đảng
được triệu tập dưới sự chủ trì của Tổng bí thư Trường Chinh. Đây là Hội nghị
quân sự lớn nhất của Trung ương từ sau khi giành được chính quyền. Hội
nghị nhận định ―không sớm thì muộn thì Pháp sẽ đánh mình và mình cũng
nhất định phải đánh Pháp‖ [61, tr.19]. Hội nghị quyết định đẩy mạnh hơn nữa
công tác xây dựng lực lượng vũ trang, chú trọng nhất là chất lượng để sẵn
sàng chiến đấu với quân thù. Do đó vấn đề phát triển dân quân, du kích của
Thái Nguyên cũng được đẩy mạnh.
24
Về công tác hậu cần, vì nằm trong vùng tự do nên Thái Nguyên luôn là
một trong những mục tiêu tấn công của thực dân Pháp. Không chỉ tìm cách
tiêu diệt phong trào cách mạng, chúng còn tìm mọi cách để phá hoại kinh tế,
phá hoại sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, cùng với việc phát triển lực lượng vũ
trang địa phương về mặt biên chế, vấn đề đảm bảo hậu cần cho lực lượng vũ
trang địa phương cũng được Đảng bộ tỉnh hết sức chú ý. Trong quá trình thực
hiện nhiệm vụ hậu cần, Thái Nguyên luôn nhận được sự chỉ đạo trực tiếp của