BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
____________________
Lê Thị Kim Liên
QUÂN VÀ DÂN NAM BỘ VỚI VŨ KHÍ
TỰ TẠO TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG
THỰC DÂN PHÁP (1945-1954)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
____________________
Lê Thị Kim Liên
QUÂN VÀ DÂN NAM BỘ VỚI VŨ KHÍ
TỰ TẠO TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG
THỰC DÂN PHÁP (1945-1954)
Chuyên ngành: Lịch Sử Việt Nam
Mã số: 60 22 02 13
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS HỒ SƠN ĐÀI
1.1.Vũ khí tự tạo và các loại vũ khí tự tạo ......................................................12
1.1.1.Khái niệm vũ khí tự tạo .......................................................................12
1.1.2 Các loại vũ khí tự tạo ...........................................................................13
1.2. Đặc điểm chiến trường Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp ..........16
1.2.1. Địa lý hành chính, địa lý tự nhiên và dân cư Nam Bộ ........................16
1.2.2. Địa lý quân sự .....................................................................................18
1.3. Truyền thống sản xuất và sử dụng vũ khí tự tạo trong lịch sử ..............21
1.3.1. Thời kỳ từ thế kỷ XVII đến năm 1859 ...............................................21
1.3.2. Thời kỳ 1859-1930..............................................................................23
2
1.3.3. Thời kỳ 1930-1945..............................................................................25
1.4. Đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về sản xuất và sử dụng vũ khí
tự tạo trong kháng chiến chống Pháp ...................................................................27
1.4.1. Đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng Cộng Sản Việt Nam. .......27
1.4.2. Quan điểm của Đảng về sản xuất và sử dụng vũ khí tự tạo trong chiến
tranh nhân dân ...........................................................................................................30
Tiểu kết chương 1 ..............................................................................................32
Chương 2: VŨ KHÍ TỰ TẠO Ở NAM BỘ GIAI ĐOẠN 1945 -1950 ...... 33
2.1. Những loại vũ khí thô sơ đầu tiên (1945-1946)........................................33
2.1.1. Giáo mác và gậy tầm vông trong những ngày đầu kháng chiến ở Nam
Bộ ..............................................................................................................................33
2.1.2. Sự ra đời của các xưởng sản xuất vũ khí và những loại vũ khí thô sơ
đầu tiên ......................................................................................................................35
2.1.3. Hoạt động sử dụng vũ khí tự tạo trong hai năm đầu kháng chiến
(1945-1946) ...............................................................................................................40
2.2. Ngành quân giới Nam Bộ ra đời và sự phát triển của vũ khí tự tạo
trong những năm 1947-1950 ..................................................................................47
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vũ khí tự tạo là loại vũ khí có cấu tạo và nguyên lý hoạt động đơn giản,
dễ chế tạo ở địa phương bằng những phương pháp và phương tiện thủ công,
dùng vật liệu tại chỗ, đạn dược hỏng hoặc cải tiến các loại đạn, bom thu được
của đối phương. Vũ khí tự tạo bao gồm vũ khí đánh xa, đánh gần, nóng,
lạnh… đánh trên mọi địa hình đồng bằng, trung du, miền núi, ven sông, ven
biển. Trong chiến tranh nhân dân ở Việt Nam, vũ khí tự tạo phát huy hiệu quả
sát thương cao.
Từ ngàn xưa, tổ tiên ta đã biết sử dụng công cụ bằng đá, cung nỏ làm
bằng bẫy tre, gỗ để săn bắt, hái lượm và chống lại thú dữ bảo đảm cho sự sinh
tồn và phát triển của dân tộc.Thời đại đồ đồng đã biết làm ra các loại rìu
chiến, giáo, mác, mũi tên để chống lại kẻ thù xâm lược.Lịch sử dựng nước và
giữ nước của dân tộc ta gắn liền với lịch sử chống giặc ngoại xâm.Đây cũng
là quá trình hình thành và phát triển các loại vũ khí thô sơ tự tạo của Việt
Nam.Dân tộc ta tiến hành bảo vệ Tổ quốc luôn trong hoàn cảnh nước nhỏ,
nghèo mà đối chọi với kẻ thù luôn mạnh hơn ta gấp nhiều lần về tiềm lực kinh
tế, quân sự. Để đánh bại được kẻ thù, dân tộc ta luôn quán triệt tư tưởng “Lấy
ít địch nhiều”, tự cung tự cấp, sản xuất ra các loại vũ khí như nỏ, cung tên,
giáo, mác, qua, kiếm, long đao… và lấy gỗ đẽo nhọn thành cọc đóng xuống
lòng sông để đánh đắm tàu giặc. Nhờ đó, nhân dân ta đã làm nên những chiến
thắng thần kỳ, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng,
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn ba lần đánh thắng quân Nguyên, Lê Lợi
đánh thắng quân Minh, Nguyễn Huệ đại thắng quân Thanh...
5
tranh nhân dân ở Việt Nam.Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình khoa học
nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, về quân giới và vũ khí
trang bị chiến tranh trong đó có vũ khí tự tạo.Tuy nhiên, chưa có một công
trình nghiên cứu chuyên khảo về vũ khí tự tạo dưới góc độ lịch sử.
Vì những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Quân và dân
Nam Bộ với vũ khí tự tạo trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954)” để viết
luận văn tốt nghiệp cao học.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề và nguồn tài liệu
2.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đề tài vũ khí tự tạo trong kháng chiến chống Pháp từ trước đến nay đã
thu hút sự quan tâm của không ít cơ quan, cá nhân nghiên cứu trên cả hai
hướng lý luận và thực tiễn.
Trước hết, bộ sách “Vũ khí địa phương” gồm 3 tập do Bộ Tư lệnh Quân
giải phóng miền Nam Việt Nam biên soạn năm 1972. Đây là tài liệu đầu tiên
nói về sản xuất và cách sử dụng các loại vũ khí tự tạo ở Nam Bộ.
Tiếp đó, năm 1993 tác giả Đinh Thu Xuân đã bảo vệ thành công luận
án Tiến sĩ khoa học lịch sử tại Viện Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
với đề tài: “Lịch sử ngành sản xuất vũ khí ở Nam Bộ trong kháng chiến chống
Pháp (1945-1954). Đề tài trình bày lịch sử hình thành và phát triển của ngành
sản xuất vũ khí nói chung ở Nam bộ, tuy nhiên chưa nghiên cứu một cách hệ
thống và chuyên sâu về vũ khí tự tạo và vai trò của vũ khí tự tạo đối với thắng
lợi của cuộc kháng chiến.
Sách “Lịch sử Quân giới Nam Bộ B2 trong chiến tranh giải phóng
(1945-1954)”của TS. Đinh Thu Xuân, doNxb Chính trị Quốc gia Hà Nội xuất
bản năm 2008. Sách ghi lại chặng đường lịch sử hình thành và phát triển của
ngành sản xuất vũ khí Nam Bộ với những biến động và thăng trầm trong suốt
chiều dài cuộc kháng chiến chống Pháp của quân và dân Nam Bộ. Thế nhưng
7
chuyên nghiên cứu dưới góc độ khoa học vũ khí đơn thuần. Cho đến nay,
chưa có một công trình khoa học nào trình bày một cách hệ thống và toàn
diện lịch sử vũ khí tự tạo ở Nam Bộ. Tuy nhiên những công trình ấy đã cung
cấp nhiều luận cứ khoa học và tư liệu lịch sử quan trọng để chúng tôi kế thừa
và tiếp tục nghiên cứu trong luận văn này.
2.2. Nguồn tài liệu
Để thực hiện đề tài này, tác giả luận văn đã tham khảo, nghiên cứu tài
liệu từ các nguồn sau:
- Các tác phẩm lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
chiến tranh cách mạng, các sách lịch sử chiến tranh, lịch sử kháng chiến, các
luận án, luận văn khoa học. Các tác phẩm này lưu ở Thư viện Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh,
Thư viện Khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện khoa học Tổng
hợp thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Trường Đại học sư Phạm Hồ Chí
Minh.
- Các văn bản chỉ thị, nghị quyết, tài liệu tổng kết, báo cáo chung niên,
báo cáo chuyên đề về vũ khí tự tạo ở Nam bộ, lưu ở Viện Lịch sử quân sự
Việt Nam, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 2, Phòng Khoa học quân sự Quân khu
7, Phòng Khoa học quân sự Quân khu 9.
- Tư liệu khảo sát điền dã, hồi ký, lời kể của các nhân chứng lịch sử.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài đã nêu, đối tượng nghiên cứu của luận văn là “lịch sử vũ
khí tự tạo ở Nam Bộ”.Luận văn sẽ trình bày bối cảnh, sự ra đời của vũ khí tự
tạo, các loại vũ khí tự tạo được sản xuất và sử dụng ở Nam bộ trong cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp, đặc điểm và vai trò của nó trong lịch sử.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
9
giáo dục lịch sử cho học sinh, sinh viên.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần dẫn luận, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung chính của luận văn có 3 chương, gồm:
Chương 1. Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và sử dụng
vũ khí tự tạo ở Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp
Chương 2. Vũ khí tự tạo ở Nam Bộ giai đoạn 1945 -1950
Chương 3.Vũ khí tự tạo ở Nam Bộ giai đoạn 1951-1954
11
Chương 1: KHÁI NIỆM VŨ KHÍ TỰ TẠO VÀ NHỮNG YẾU
TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT VÀ SỬ
DỤNG VŨ KHÍ TỰ TẠO Ở NAM BỘ TRONG KHÁNG
CHIẾN CHỐNG PHÁP
1.1.Vũ khí tự tạo và các loại vũ khí tự tạo
1.1.1.Khái niệm vũ khí tự tạo
Vũ khí tự tạo ra đời từ rất sớm, khi con người biết sử dụng những vật
liệu có sẵn trong tự nhiên để cải tạo lại, làm vũ khí chống thú dữ và kẻ thù,
duy trì cuộc sống và sinh tồn.Vũ khí gắn liền với lịch sử của các cuộc chiến
tranh khi xuất hiện xã hội có giai cấp.Mặc dù vậy, trong thời cổ đại và trung
đại chưa hề có khái niệm về vũ khí tự tạo.Khái niệm vũ khí tự tạo chỉ xuất
hiện trong thời đại công nghiệp. Theo từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam
định nghĩa: “Vũ khí tự tạo là vũ khí có cấu tạo và nguyên lý hoạt động đơn
giản, dễ chế tạo ở địa phương bằng những phương pháp và phương tiện thủ
công, dùng vật liệu tại chỗ, đạn dược hỏng hoặc cải tiến các loại đạn dược
thu được của đối phương. Vũ khí tự tạo có nhiều kiểu loại, ví dụ: mã tấu,
giáo, mác, kiếm, dao găm, gậy tầm vông, cung nỏ, chông, bẫy đá, mìn, súng,
“ngựa trời”, vũ khí phóng (đạn cối, lượng nổ, lựu đạn, bom, mìn...). Trong
Mã tấu: là loại dao to bản, cán ngắn, lưỡi dài và cong, mũi nhọn, dài
khoảng 60cm, cán tròn bằng gỗ hoặc thép liền với lưỡi. Mã tấu xuất hiện
trong Cách mạng tháng Tám và những ngày đầu kháng chiến chống thực dân
Pháp.
13
Dao găm: là loại vũ khí được dùng để đánh địch trong nhiều trường
hợp bằng các đòn: đâm, móc, cắt,... vào các bộ phận quan trọng của cơ thể,
diệt địch ngay tại chỗ hoặc làm cho địch bị tàn phế.
Giáo: là vũ khí có cán dài (bằng gỗ hoặc kim loại), mũi nhọn (bằng
thép), dùng để sát thương đối phương bằng dâm, phóng.
Bẫy: là loại vũ khí thô sơ được bố trí dấu kín hoặc ngụy trang theo địa
hình tự nhiên, nhằm sát thương đối phương khi vấp phải. Bẫy xuất hiện từ
những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp và được sử dụng rộng rãi
trong những năm về sau ở chiến trường Nam Bộ.
Cung tên: là loại vũ khí thô sơ, gồm một cánh, có tính đàn hồi (bằng
tre, gỗ, kim loại). Hai đầu cánh gò lại với nhau bằng một sợi dây bền dẻo,
dùng để bắn tên đi. Cung tên xuất hiện từ trước đó, thường do nhân dân và lực
lượng vũ trang người dân tộc thiểu số sử dụng trong những ngày đầu kháng
chiến chống thực dân Pháp.
Chông: là loại vũ khí có mũi nhọn, làm bằng sắt, tre, gỗ… (có ngạnh
hoặc không), có thể tẩm chất độc, chất bẩn, được bố trí ở những nơi nhất định
để sát thương sinh lực, cản trở việc cơ động của đối phương. Ở Nam Bộ trong
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp có các loại: Chông hầm, Chông bốn
mũi, Chông gùi, Chông lăn, Chông thò, Chông nhím, Chông bằng sắt một
ngạnh.
Nhóm thứ hai, các loại vũ khí tự tạo có cấu tạo phức tạp hơn, thường
do các xưởng sản xuất, như: lựu đạn, mìn, súng...
Đạn SSAL, Đạn SSAF, Đạn SSAT-53, Đạn SSAT-73 L, Đạn SSBL-73,
SSBL 81.
Từ các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật thô sơ như: giáo mác, cung tên đến
các loại vũ khí căn bản như: lựu đạn, mìn và các loại vũ khí được coi là tối tân
hiện đại lúc bấy giờ (súng không giật, súng phóng bom, bazoka) đã góp phần
15
tạo nên sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân chống lại các phương
tiện chiến tranh hiện đại nhất của Pháp, góp phần quan trọng và làm phá sản
chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của thực dân Pháp.
1.2. Đặc điểm chiến trường Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp
1.2.1. Địa lý hành chính, địa lý tự nhiên và dân cư Nam Bộ
Nam Bộ là vùng đất ở phía Nam của Tổ quốc. Theo sự phân chia địa
giới hành chính thời kỳ 1945-1954, tính từ Bắc vào Nam có các tỉnh: Biên
Hòa, Gia Định, Chợ Lớn, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Tân An, Gò Công,
Mỹ Tho, Bến Tre, Sa Đéc, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Long Xuyên,
Châu Đốc, Rạch Giá, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Thành phố Sài Gòn.
Tổng diện tích các tỉnh nói trên là 64.100 km2, chiếm 20% trong tổng diện
tích cả nước (thống kê năm 1950).
Địa hình Nam Bộ tương đối bằng phẳng. Hệ thống núi có: núi Bà Đen
cao 986 mét (núi này còn được mệnh danh là “nóc nhà của Nam Bộ”), núi
Chứa Chan (Đồng Nai) cao 839 mét, núi Bà Rá (Bình Phước) cao 733 mét,
núi Bao Quan (Bà Rịa - Vũng Tàu) cao 529 mét, khu vực phía Tây có dãy
Thất Sơn (An Giang) và dãy Hàm Ninh,... đến những ngọn núi thấp như Châu
Diên, Bửu Long cao vài chục mét.
Rừng ở Nam Bộ có đủ loại gồm rừng bán nguyệt, rừng đất đỏ, đất nâu,
đất xám, rừng đất phù sa cổ (Bà Rịa), rừng ngập mặn (Rừng Sác), rừng
nguyên sinh (Bình Long, Thủ Dầu Một, Định Quán, đông bắc Xuân Lộc,
Xuyên Mộc, bắc đông bắc Tân Biên (Tây Ninh).
dân số toàn quốc (theo thống kê năm 1950). Cư dân Nam Bộ là miền đất trẻ,
thuộc nhiều dân tộc khác nhau. Cư dân tụ về có nguồn gốc từ nhiều địa
phương khác nhau trên cả nước. Đại bộ phận trong số họ là những người nông
dân yêu chuộng tự do và cần cù lao động. Nhu cầu tồn tại, làm chủ thiên
17
nhiên và đấu tranh chống ngoại xâm đã gắn bó họ thành một khối có tinh thần
yêu thương, đoàn kết nhất trí cao. Trên cơ sở lưu giữ phần tính cách cốt lõi
của dân tộc, quá trình đấu tranh để tồn tại và phát triển trong điều kiện lịch sử
mới đã góp phần định hình nên tính cách riêng của người dân Nam Bộ. Đó là
tình yêu quê hương đất nước tha thiết; là ý chí bất khuất, khẳng khái và năng
động trước mọi trở ngại của hoàn cảnh; là tinh thần chiến đấu táo bạo, kiên
cường, trí tuệ mưu lược; là phẩm chất tự lực tự cường, cần cù lao động; là
tinh thần đoàn kết tương thân tương ái; là thái độ trung thực và lối ứng xử
không chuộng hình thức, “trọng nghĩa khinh tài”, hào hiệp thủy chung.
Những đặc điểm vừa nêu trên chính là bắt nguồn từ tính cách của dân tộc, tính
cách này đã quyện chặt và góp phần tạo nên tính cách riêng của người dân
vùng Nam Bộ.
1.2.2. Địa lý quân sự
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến trường Nam Bộ
được tổ chức thành các chiến Khu:
Trong giai đoạn 1945-1950, Nam Bộ được chia thành 3 Khu, cụ thể:
- Khu 7 gồm Thành phố Sài Gòn và các tỉnh Chợ Lớn, Gia Định, Bà
Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh. (Từ năm 1948, Thành phố Sài Gòn
tách ra thành một Khu độc lập gọi là Khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Từ tháng 81950, gọi tắt là Đặc khu Sài Gòn- Chợ Lớn).
- Khu 8 gồm các tỉnh Tân An, Gò Công, Mỹ Tho, Sa Đéc, Vĩnh Long,
Trà Vinh, Bến Tre.
- Khu 9 gồm các tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên, Hà Tiên, Cần Thơ, Sóc
Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá.
chiến đấu quy mô lớn.
Vùng đồng bằng bao gồm rẻo duyên hải mạn thấp các tỉnh miền Đông
Nam Bộ, vùng ven thành phố Sài Gòn và đồng bằng Sông Cửu Long. Địa
19
hình bằng phẳng, sông rạch dọc ngang, chằng chịt những cánh rừng tràm,
rừng đước, dừa nước bạt ngàn, dân cư đông đúc, kinh tế trù phú, vùng nông
thôn đồng bằng có đặc điểm thuận lợi cho việc phát triển chiến tranh du kích
rộng khắp, cung cấp sức người, sức của phục vụ cho kháng chiến; nơi cung
cấp nguyên vật liệu cho sản xuất vũ khí tự tạo, nơi bố trí trận địa để sử dụng
vũ khí tự tạo chống địch càn quét bình định.
Vùng đô thị bao gồm Sài Gòn và các thành phố, thị xã lớn khác như
Biên Hòa, Vũng Tàu, Mỹ Tho, Cần Thơ,... Các đô thị thường nằm ở các địa
bàn xung yếu, trấn giữ các đầu mối hoặc trục đường giao thông chiến lược cả
về đường bộ, đường sông, đường biển và đường hàng không, có mối quan hệ
giao lưu mật thiết và thuận tiện với vùng nông thôn đồng bằng bao quanh.
Đây là nơi tập trung nhân lực có trình độ tay nghề cao về sản xuất vũ khí tự
tạo; cũng là nơi tập trung nhiều nhà máy, công xưởng, cung cấp máy móc,
nguyên vật liệu cho việc sản xuất vũ khí tự tạo của các binh công xưởng trong
chiến khu.
Trong cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai, thực dân Pháp
chọn Sài Gòn làm nơi gây hấn đầu tiên, và từ đó tạo bàn đạp đánh chiếm các
tỉnh miền Đông Nam Bộ, miền Tây Nam Bộ rồi các tỉnh Trung Bộ và phát
triển ra phạm vi cả nước. Tại đây chúng đật bản doanh trại của đạo quân viễn
chinh và xây dựng thủ đô của chính phủ ngụy quyền tay sai, biến Sài Gòn
thành trung tâm chính trị, đảng phái, tôn giáo, kinh tế, văn hóa và là nơi thực
hiện một cách tập trung và đầy đủ nhất chủ nghĩa thực dân kiểu cũ ở Việt
Nam và Đông Dương. Trong quá trình tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược,
thực dân Pháp đã ưu tiên bố trí ở Nam Bộ một bộ phận lực lượng lớn quân
Sơn thừa thắng xông lên hạ các đồn xung quanh, dùng lực lượng xung kích
21
thọc sâu, đánh thẳng vào bản doanh trại của địch.Kết quả 29 vạn quân Thanh
đã bị quét sạch.Cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi.
Cũng trong năm 1790, quân đội của Nguyễn Ánh được sự giúp sức về
kỹ thuật của Đại tá Pháp Olivier de Puymanel đã cho đắp thành Gia Định theo
kiểu Vauban 1. Mặc dù xây thành Gia Định theo kiểu này nhưng Nguyễn Ánh
vẫn duy trì theo kiểu truyền thống là lợi dụng địa hình thiên nhiên để tăng
khả năng phòng thủ của thành bằng một hệ thống sông rạch bao quanh thành
cả ba mặt là sông Sài Gòn ở phía Đông Nam, rạch Bến Nghé ở phía Tây Nam,
rạch Thị Nghè ở phía Đông Bắc. Ba con sông này trở thành những con hào tự
nhiên, nó vừa có chiều rộng và vừa có chiều sâu, tất cả hợp thành một chướng
ngại vật ngăn cản các cuộc tiến công vào thành sau này. Sau khi xây dựng
thành Gia Định xong, Nguyễn Ánh quan tâm tới việc đặt kho vũ khí, kho
thuốc súng ở một vị trí đặc biệt trong thành “kho khí giới là cụm kiến trúc ở vị
trí đối xứng với kho lương, giáp kho thuốc súng của pháo đài giữa mặt Tây
Nam của thành. Kho thuốc súng phía Nam những pháo đài giữa của các mặt
Đông Bắc, Tây Bắc và Tây Nam của thành đều có kho thuốc súng, xây 12
gian nhà ngói, tường gạch. Thuốc súng đựng vào thùng gỗ để ở trên sàn. Cục
chế tạo ở bên hữu thành, có ba nhà ngói đối diện với đường Tốn và đường
Đoài. Nhà bên trái là chỗ để súng, nhà bên phải là chỗ thợ rèn làm việc.
Ngoài thành, cách cửa Khôn Trình hai dặm có trường thuốc súng rộng một
dặm, xung quanh trồng cây cỏ gai được dùng làm nơi chế thuốc súng. Khu
vực này cấm người ngoài không được qua lại”.[ 77, tr.217].
Sau khi lên ngôi Hoàng đế, Nguyễn Ánh rất chú trọng trong việc sản
xuất vũ khí.Sự ra đời của các binh công xưởng và quân cảng của ông làm cho
bằng những vũ khí tự tạo.Tự chế tạo vũ khí đánh giặc giữ nước là kỳ công của
dân tộc ta, đồng thời đây cũng là một truyền thống quý báu của dân tộc Việt
Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước.
1.3.2. Thời kỳ 1859-1930
Tháng 2-1859, thực dân Pháp tấn công đánh chiếm thành Gia Định, với
các loại vũ khí hiện đại như: xe thiết giáp, tàu chiến, súng, pháo lớn. Bất chấp
23