Cuộc vận động quốc tế của Việt Nam dân chủ cộng hòa trong kháng chiến chống thực dân Pháp ( Luận văn ThS. Lịch sử ) - Pdf 28

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN VĂN TRÍ
CUỘC VẬN ĐỘNG QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
DÂN CHỦ CỘNG HÒA TRONG KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945-1954)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội – 2014
2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội, tháng 8năm 2014
Tác giả luận văn Nguyễn Văn Trí
4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn đƣợc hoàn thành dƣới sự dẫn dắt tận tình của thầy giáo hƣớng
dẫn PGS.TS. Hồ Khang, với sự tạo điều kiện thuận lợi của Khoa Lịch sử
Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn-Đại học Quốc gia Hà Nội, Bộ
môn Lịch sử Quân sự Thế giới, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Thƣ viện
Quân đội Trung ƣơng, Thƣ viện Quốc gia Việt Nam; trong quá trình thực hiện
bản luận văn này, tôi cũng đƣợcsự hậu thuẫn to lớn từ gia đình tôi và đƣợc sự
động viên thiết thực từ đồng đội, bạn bè thân thiết.
Qua đây, tôi chân thành cảm ơn thầy giáo hƣớng dẫn Hồ Khang; tôi
cũng gửi lời cảm ơn tớiKhoa lịch sử Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội, Bộ môn lịch sử Quân sự Thế giới, Viện
Lịch sử quân sự Việt Nam, Thƣ viện Quân đội Trung ƣơng, Thƣ viện Quốc
gia Việt Nam và bạn bè, đồng đội gần xa; cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn và tình cảm thân yêu nhất đến những ngƣời thân của tôi.

Hà Nội, tháng 8năm 2014
Tác giả luận văn Nguyễn Văn Trí
5


3.2. Ý nghĩa và tác động của cuộc vận động quốc tế đối với sự nghiệp “kháng chiến,
kiến quốc” 98
3.3. Kinh nghiệm lịch sử 105
Tiểu kết
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
PHỤ LỤC 128
7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DCND Dân chủ nhân dân
ĐCS Đảng Cộng sản
ĐLĐVN Đảng Lao động Việt Nam
Nxb Nhà xuất bản
QĐNDVN Quân đội nhân dân Việt Nam
QĐQGVN Quân đội Quốc gia Việt Nam
VNDCCH Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
XHCN Xã hội chủ nghĩa
kháng chiến này. Nghiên cứu vấn đề này cũng giúp làm sáng tỏ đƣờng lối đối
ngoại của VNDCCH trong chín năm kháng chiến gian khổ (1945-1954); qua
đây, chúng ta cũng nhận biết đúng đắn hơn về thái độ của quốc tế đối với
VNDCCH và vai trò của ngoại lực trong cuộc trƣờng kỳ kháng chiến này.
Ngày nay, Việt Nam đang nỗ lực tranh thủ sự ủng hộ mọi mặt của bạn
bè quốc tế cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mình. Và, lúc này,
việc tìm hiểu cuộc vận động quốc tế trong kháng chiến chống thực dân Pháp
(1945-1954) cung cấp những kinh nghiệm quí giá từ thực tế lịch sử góp phần
làm cho cuộc vận động quốc tế ngày nay thu đƣợc kết quả mong muốn.
Chính bởi những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Cuộc động quốc tế
của VNDCCH trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)” làm
đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
9

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề giành ủng hộ quốc tế của VNDCCH trong kháng chiến chống
thực dân Pháp (1945-1954) sớm đƣợc các học giả quan tâm. Năm 1954, ngay
khi cuộc chiến này kết thúc, các tác phẩm Struggle for Indochina (Cuộc chiến
giành Đông Dương) của Hammer và Việt Nam máu lửa của Nghiêm Kế Tổ đã
cho biết sơ bộ về nỗ lực của VNDCCH trong việc hoàn hoãn với quân Tƣởng,
kêu gọi sự ủng hộ từ Mỹ những năm 1945-1946. Hai tác phẩm trên cũng đề
cập việc VNDCCH đoàn kết với Lào, Campuchia và gia nhập khối XHCN để
kháng chiến chống thực dân Pháp.
Sang thập niên 60 của thế kỉ XX, khi Mỹ và VNDCCH trực tiếp đối
đầu ở miền Nam Việt Nam, vấn đề tìm hiểu sự trợ giúp từ các nƣớc trong phe
XHCN cho VNDCCH đƣợc các nƣớc phƣơng Tây, nhất là Mỹ quan tâm.
Theo đó, năm 1967, Zasloff công bố công trình nghiên cứu The role of the
santuary in insurgency: The China’s support to the Vietminh, 1946-1954 (Vai
trò của người bảo trợ trong phong trào nổi dậy: Sự hỗ trợ của cộng sản
Trung Quốc cho Việt Minh, 1946-1954). Trong đó, Zasloff đã nêu con số về

ngị Giơnevơ năm 1954. Cùng thời gian này, ở Pháp, Phrăngxoa Goayô cho
xuất bản công trình Trung Quốc với việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông
Dương lần thứ nhất; trong đó, tác giả cung cấp những số liệu về việc Trung
Quốc viện trợ cho VNDCCH những năm 1950-1954. Công trình này cũng đi
sâu phân tích sự tác động của Trung Quốc khiến VNDCCH chấp thuận giải
pháp chia cắt đất nƣớc tại Hội nghị Giơnevơ về Đông Dƣơng, 1954. Đáng
tiếc, cũng nhƣ công trình của Zasloff, sách trắng của Việt Nam và nghiên cứu
của Phrăngxoa Goayô không cho biết rõ việc vận động Trung Quốc của
VNDCCCH trƣớc và trong Hội nghị Giơnevơ về Đông Dƣơng, 1954.
Sang thập niên 80 của thế kỷ XX, hoạt động vận động quốc tế của
VNDCCH trong kháng chiến chống Pháp tiếp tục đƣợc bổ sung, làm rõ hơn.
Năm 1981, từ thực tế trải nghiệm của mình ở Việt Nam năn 1945,
11

Archimedes L. A. Patti, Thiếu tá tình báo quân đội Mỹ, cho công bố công
trình Why Vietnam? (Tại sao Việt Nam?). Trong đó, những cố gắng của Chính
phủ VNDCCH, nhất là của cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc giành
ủng hộ của Mỹ và các nƣớc phƣơng Tây đƣợc trình bày chi tiết và cụ thể hơn;
ở một công trình khác, năm 1988, Philippe Devillers cho công bố công trình
sƣu tập tƣ liệu về cuộc chiến tranh Việt-Pháp, 1944-1947 mang tên Pari-
Saigon-Hanoi; trong đó, tác giả công bố những thƣ tín của chủ tịch Hồ Chí
Minh gửi phía Pháp và nỗ lực xây dựng quan hệ thân thiện với phƣơng Tây
của VNDCCH nhằm vãn hồi hòa bình trong những năm 1945-1947. Cũng
trong năm 1988, ở Việt Nam, Đào Quang Cát có các công trình nghiên cứu
khá sâu về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc những năm từ 1948 đến 1979 nhƣ:
Quan hệ Trung Quốc-Việt Nam trong quá trình cách mạng hai nước 1948-
1979 và Tư liệu nghiên cứu về quan hệ Trung Quốc đối với Việt Nam từ năm
1948 đến 1979. Trong các công trình này, ngoài việc cung cấp thêm thông tin
về viện trợ của Trung Quốc cho VNDCCH, tác giả còn cho biết chi tiết một
số nỗ lực vận động Trung Quốc của VNDCCH năm 1949 và đầu 1950.

VNDCCH trong việc giành ủng hộ của Liên Xô những năm cuối thập niên 40
của thế kỉ XX; trong công trình của Ilya V. Gaiduk nêu trên, ngƣời đọc đƣợc
cấp thông tin về việc VNDCCH vận động sự ủng hộ của Liên Xô từ năm
1950 đến 1954, đồng thời, độc giả cũng đƣợc biết rõ hơn về thái độ của Liên
Xô cùng sự đồng thuận Xô-Trung trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam tại
Hội nghị Giơnevơ về Đông Dƣơng năm 1954.
Về nỗ lực vận động sự ủng hộ từ Mỹ, Trung Quốc những năm trƣớc
1950, trong thời gian này nổi bật có các các công trình của W.J. Duiker nhƣ:
The communist road to power in Vietnam (Con đường nắm quyền của cộng
sản Việt Nam) (1995), US containment and the conflict in Indochina (Chính
sách ngăn chặn của Mỹ và cuộc xung đột ở Đông Dương) (1996), Ho Chi
Minh- A life (Hồ Chí Minh- Một cuộc đời) (2000)…
13

Về việc vận động sự ủng hộ từ Lào, Campuchia, gần đây, ở Việt Nam
có một số công trình nghiên cứu bổ sung tài liệu lƣu trữ, hồi kí về những hoạt
động đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa VNDCCH với Lào và Campuchia
trong những năm sau 1945 nhƣ Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia
thời kỳ 1945-1954 (tư liệu lịch sử) của Ban Liên lạc cựu chiến binh Quân tình
nguyện Việt Nam ở Campuchia thời kỳ 1945-1954 (2000), Lịch sử quan hệ
đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam, 1930-2007 do Đảng Nhân dân cách
mạng Lào và ĐCS Việt Nam tổ chức biên soạn (2011)…
Ngoài ra, từ thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay, dựa trên nhiều nguồn
tƣ liệu đƣợc công bố, ở Việt Nam đã có nhiều công trình, chuyên khảo về nỗ
lực vận động ngoại giao của VNDCCH, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong một
phần hoặc toàn bộ cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) nhƣ: Ngoại
giao Việt Nam, 1945-2000 do Nguyễn Đình Bin chủ biên (2005); Hoạt động
đối ngoại của nước VNDCCH thời kỳ 1945-1950, Luận án Tiến sĩ lịch sử của
Nguyễn Trọng Hậu (2001); Hồ Chí Minh với cuộc vận động sự ủng hộ quốc
tế trong kháng chiến chống thực dân Pháp, 1946-1954, Luận văn Thạc sĩ của

Mô tả và phục dựng tƣơng đối khách quan, đầy đủ bức tranh vận động
quốc tế của VNDCCH trên phông nền của cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp; chỉ ra cách thức VNDCCH giành ủng hộ bên ngoài và làm rõ sự ủng hộ
quốc tế đối với cuộc kháng chiến này của nhân dân Việt Nam; cung cấp một
số kinh nghiệm lịch sử có giá trị tham khảo.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày bối cảnh lịch sử, quan điểm quốc tế và đƣờng lối đối ngoại
của VNDCCH.
- Phân tích quá trình VNDCCH thực hiện cuộc vận động quốc tế qua
hai giai đoạn: 1945-1950, 1950-1954.
- Phân tích những thành công, hạn chế và đặc điểm cuộc vận động quốc
tế của VNDCCH từ năm 1945 đến năm 1954.
- Nêu lên ý nghĩa của cuộc vận động đối với công cuộc kháng chiến
kiến quốc của VNDCCH những năm 1945-1954; đồng thời, đúc rút một số
kinh nghiệm cho hiện tại.
15

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là cuộc vận động quốc tế của
VNDCCH trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) trên mọi
chiều cạnh, từ yêu cầu khách quan, diễn biến cho đến kết quả.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung khoa học: Nghiên cứu những hoạt động chính, quan trọng,
nổi bật của VNDCCH trong quá trình vận động sự ủng hộ quốc tế đối với
cuộc kháng chiến chống Pháp.
Về thời gian: Mốc bắt đầu nghiên cứu là từ tháng 9/1945- thời điểm
cuộc kháng chiến bắt đầu và mốc kết thúc nghiên cứu là tháng 7/1954 –
khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc.
Về không gian: Không gian nghiên cứu là những địa bàn liên quan đến

viết về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam (1945-
1954); các trang web bàn về cuộc chiến tranh Đông Dƣơng lần thứ nhất.
7. Đóng góp của luận văn
- Tập hợp, hệ thống tài liệu liên quan đến cuộc vận động quốc tế của
VNDCCH trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), trong đó có
một số tài liệu lƣu trữ lần đầu đƣợc công bố.
- Trình bày đầy đủ, rõ ràng hơn quá trình vận động quốc tế của
VNDCCH từ năm 1945 đến năm 1954; chỉ ra cách thức VNDCCH giành ủng
hộ quốc tế và làm rõ hơn sự ủng hộ bên ngoài cho cuộc kháng chiến này của
nhân dân Việt Nam.
- Nêu ra những nhận xét, ý nghĩa và kinh nghiệm từ cuộc vận động
quốc tế trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) phục vụ cho
công cuộc vận động quốc tế ngày nay của Việt Nam.
17

8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở Đầu và Kết Luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận
văn bố cục thành 3 chƣơng.
Chƣơng 1: NỖ LỰC VẬN ĐỘNG QUỐC TẾ NGĂN CHẶN CHIẾN
TRANH, TÍCH CỰC PHÁ VÂY VÀ MỞ CÁNH CỬA RA THẾ GIỚI
(1945-1950)
Chƣơng 2: ĐẨY MẠNH VẬN ĐỘNG QUỐC TẾ, GÓP PHẦN ĐƢA
CUỘC KHÁNG CHIẾN ĐẾN THẮNG LỢI (1950-1954)
Chƣơng 3: NHẬN XÉT, Ý NGHĨA VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ

18

Chƣơng 1
NỖ LỰC VẬN ĐỘNG QUỐC TẾ NGĂN CHẶN CHIẾN TRANH,
TÍCH CỰC PHÁ VÂY VÀ MỞ CÁNH CỬA RA THẾ GIỚI (1945-1950)

tiền có giá trị khác [79, tr. 126-127]. Với sức mạnh chính trị, kinh tế và quân
sự đó, tiếng nói của nƣớc Mỹ trở nên có sức thuyết phục cao trong việc giải
quyết các vấn đề quốc tế; nƣớc Mỹ trở thành địa chỉ mà nhiều nƣớc cậy nhờ
để khôi phục vị thế đã mất bởi chiến tranh.
Về phía Liên Xô, chiến tranh đã đƣa nƣớc này trở thành cƣờng quốc
thứ hai trên thế giới. Vào thời điểm chiến tranh kết thúc, Liên Xô cũng có lực
lƣợng vũ trang hùng hậu với số lƣợng tƣơng đƣơng số quân của quân đội Mỹ-
12 triệu ngƣời [37, tr. 16]; quân đội Liên Xô có mặt từ khu vực Đông Âu đến
Đông Bắc Á; Liên Xô cũng nắm quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo an
Liên Hợp Quốc. Thêm nữa, với sự phát triển của phong trào dân tộc, dân chủ
trên thế giới, Liên Xô còn có một lực lƣợng cảm tình đông đảo từ nhiều nƣớc
thuộc địa, phụ thuộc và cả ở các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa. Tuy vậy, theo Geir
Lundestad, việc coi Liên Xô là một siêu cƣờng chủ yếu xét trên khía cạnh
“sức mạnh quân sự, đặc biệt là về số lƣợng quân có vũ trang” [37, tr. 17]. Quả
vậy, Liên Xô cũng bị chiến tranh gây thiệt hại nặng về nhân lực và vật lực: Về
nhân lực, chiến tranh đã lấy đi của Liên bang Cộng hòa XHCN Xô Viết 28,5
triệu ngƣời [43, tr. 99]; về vật lực, chiến tranh làm sức sản xuất về thép và
nông nghiệp của Liên Xô năm 1945 giảm một nửa so với năm 1941. Với thực
trạng kinh tế- xã hội đó, Liên Xô không có nhiều cơ sở nhƣ Mỹ để mở rộng
ảnh hƣởng của mình ra thế giới.
Trong khi đó, hầu hết các nƣớc tƣ bản và đế quốc chủ nghĩa ở cả phe
Trục và phe Đồng minh đều bị chiến tranh tàn phá nặng nề: Nƣớc Đức bị mất
17,5% tài sản cố định, nƣớc Nhật bị phá hủy 1/3 thiết bị máy móc, nƣớc Pháp
bị mất 10% tài sản cố định [73, tr. 11-12]; số thiệt hại về tài sản cố định của
nƣớc Anh trị giá tới 3 tỷ bảng Anh [37, tr. 19-20]. Không chỉ thế, các nƣớc
Đức và Nhật còn bị Đồng minh chiếm đóng; các nƣớc Anh và Pháp phải gánh
những khoản nợ nƣớc ngoài khổng lồ. Nƣớc Anh nợ Mỹ và các nƣớc trong
20

Liên hiệp Anh tới 50 tỷ đô la [43, tr. 99]; nƣớc Pháp nợ Mỹ 2. 842.000.000 đô


Nhƣ thế, sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, thế giới có nhiều đổi
thay lớn, bao hàm trong đó nhiều cải cách, tiến bộ cho sự nghiệp giải phóng
các dân tộc phụ thuộc. Thế nhƣng, cải cách là một chuyện, độc lập lại là một
chuyện khác. Sau chiến tranh, các dân tộc phụ thuộc vẫn đứng trƣớc đầy rẫy
cản trở trên con đƣờng giành lại những quyền cơ bản của mình.
Thật vậy, ngay khi chiến tranh kết thúc, các nƣớc đế quốc Đồng minh đã
triển khai ngay việc khôi phục quyền cai trị của mình ở các thuộc địa. Vƣơng
quốc Anh cho quân trở lại các thuộc địa nhƣ Miến Điện, Malayxia…, Pháp và
Hà Lan dựa vào quân Anh cũng bắt đầu tái lập vị trí ở Đông Dƣơng và
Inđônêxia. Trong khi đó, do sự đối lập về lợi ích quốc gia, hai siêu cƣờng hàng
đầu thế giới (Liên Xô, Mỹ) dần chuyển từ hợp tác sang đối đầu. Cuộc Chiến
tranh lạnh này đã khiến hai nƣớc lớn ấy phải thay đổi chính sách đối với vấn đề
thuộc địa theo hƣớng có lợi cho các đế quốc Đồng minh để tranh thủ sự ủng hộ
của họ. Tháng 2 năm 1945, tại Hội nghị Ianta, hai nƣớc Mỹ và Liên Xô nhất trí
không nhất thiết áp dụng chế độ ủy trị quốc tế ở thuộc địa của các đế quốc
Đồng minh để đƣa những xứ này đến “độc lập” [114, pg. 977].
Đối với vấn đề Đông Dƣơng, theo sự thay đổi chính sách chung với các
đế quốc Đồng minh, cả Mỹ và Liên Xô đều từ bỏ chủ trƣơng loại Pháp ra khỏi
bán đảo này. Về phía Mỹ, ngày 8 tháng 5 năm 1945, tại Hội nghị thành lập
Liên Hợp Quốc, Bộ Ngoại giao Mỹ khẳng định Mỹ không phản đối chủ
quyền Pháp ở Đông Dƣơng [117, pg. 307]. Về phía Liên Xô, tháng 8 năm
1945, trong văn thƣ nội bộ gửi cơ quan ngoại giao của mình ở Pháp, Bộ
Ngoại giao Liên Xô khẳng định nƣớc này không có ý định áp dụng chế độ ủy
trị quốc tế ở Đông Dƣơng [55, tr. 4]. Và, thay vào đó, hai nƣớc chỉ chủ trƣơng
buộc Pháp cải thiện điều kiện chính trị, kinh tế ở bán đảo này. Cụ thể, Mỹ
muốn Pháp trao cho ngƣời Đông Dƣơng quyền tự trị [153, pg. 21]. Để thúc
đẩy ý muốn ấy, mùa hè năm 1945, một mặt, Mỹ không cho Pháp tự do tái lập
chủ quyền ở Đông Dƣơng: Quân Pháp tham chiến ở Mặt trận Thái Bình
Dƣơng đặt dƣới sự kiểm soát của Mỹ [137, pg. 397-398]; phần Bắc vĩ tuyến

Pháp ở xứ sở này nữa. Không chỉ vậy, phong trào cách mạng của Việt Nam còn
23

bị các nƣớc này nhìn nhận với thái độ tiêu cực, thậm chí đối lập. Về phía Mỹ,
những ngƣời cách mạng Việt Nam, nhất là lãnh tụ Hồ Chí Minh, bị giới lãnh
đạo nƣớc này khẳng định là cộng sản. Trong điện văn gửi Ngoại trƣởng Mỹ
ngày 22 tháng 8 năm 1945, Giám đốc Cục Công tác chiến lƣợc Mỹ (OSS)
khẳng định: “Việt Minh hoàn toàn một đảng cộng sản” [151, pg. C66]. Với
Trung Quốc, nhằm ngăn sự liên lạc giữa những ngƣời cộng sản Việt Nam với
những ngƣời cộng sản Trung Quốc và cũng để dọn đƣờng cho việc lập thế lực
của mình ở Đông Dƣơng, Trung Quốc chủ trƣơng “diệt cộng, cầm Hồ”, đƣa
các đảng tay sai Việt Quốc, Việt Cách lên cầm quyền [24, tr. 427; 135, pg. 120;
77, tr. 384]. Trong khi đó, về phía Liên Xô, vốn không đồng tình với quan điểm
của lãnh tụ Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, giai cấp [1, tr. 34-35] nên trƣớc
việc Việt Minh hợp tác với Mỹ trong chiến tranh họ nghi ngại hơn về lập
trƣờng giai cấp của các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam [111, pg. 84].
Trong hoàn cảnh đó, trƣớc khi chiến tranh nổ ra ở Nam Bộ, Việt Nam
đã vận động Mỹ, Trung Quốc và các nƣớc lớn khác ủng hộ cuộc đấu tranh
giành độc lập của mình bằng việc tham gia Đồng minh chống Nhật, bằng việc
thực hiện chính sách hợp tác, thân thiện với Đồng minh…Nhƣng, nỗ lực vận
động ấy của Việt Nam chỉ nhận đƣợc cảm tình cá nhân từ một số quân nhân
Mỹ và đạt đƣợc sự hòa hoãn tạm thời với quân Tƣởng. Trong khi đó, nguyện
vọng độc lập của nhân dân Việt Nam chƣa đƣợc nƣớc nào công khai ủng hộ,
nƣớc VNDCCH chƣa đƣợc một nƣớc nào công nhận.
Trong khi chƣa nhận đƣợc sự ủng hộ chính thức từ bên ngoài cho sự
nghiệp giành độc lập hoàn toàn của mình, nƣớc VNDCCH non trẻ cũng đối
mặt với chồng chất khó khăn, cản trở từ chính bản thân mình, đó là: Chính
quyền cách mạng mới thành lập, chƣa đƣợc củng cố, kiện toàn, thiếu cán bộ ở
mọi ngành, cấp; tài chính gần nhƣ trống rỗng- ngân khố quốc gia chỉ có
1.250.000 đồng, trong đó 580.000 đồng là tiền rách nát [98, tr. 26]; quân đội

Hành động này của thực dân pháp đẩy nƣớc VNDCCH non trẻ vào thế đầy
bất lợi khi không chỉ phải đƣơng đầu với một kẻ thù mạnh hơn mà còn phải
cùng lúc đối phó với nhiều kẻ thù.
25

Trƣớc tình hình đó, một mặt, VNDCCH kiên quyết đứng lên kháng
chiến chống thực dân Pháp để “tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam
không chịu ách nô lệ một lần nữa” [4, tr. 97]. Tập trung sức lực cho cuộc
kháng chiến này, VNDCCH tiếp tục chủ trƣơng hòa hoãn với quân Tƣởng.
Theo đó, từ chiều ngày 22 đến ngày 23 tháng 9, đại diện Chính phủ Hồ Chí
Minh đã có các cuộc tiếp xúc với đại diện quân đội Trung Quốc ở Hà Nội;
trong các cuộc gặp này, hai bên bàn việc cho những ngƣời Việt thân Trung
Quốc tham chính [104, pg. 346-348; 3, tr. 46]. Đến ngày 27 tháng 9, Chính
phủ lâm thời nƣớc VNDCCH tán thành cho một số đảng viên của đảng Việt
Cách tham gia chính quyền. Theo đó, Nguyễn Hải Thần đƣợc giữ chức Phó
chủ tịch Chính phủ, Trƣơng Trung Phụng đƣợc bổ làm Tham nghị trƣởng
Bộ Quốc phòng [3, tr. 50].
Song, để giành ủng hộ của thế giới cho cuộc chiến chính nghĩa này,
trong thƣ Gửi đồng bào Nam Bộ ngày 26 tháng 9, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn
dặn: “Đối với những ngƣời Pháp bị bắt trong lúc chiến tranh, ta phải canh
phòng cẩn thận, nhƣng phải đối đãi với họ cho khoan hồng. Phải làm cho thế
giới, trƣớc hết là làm cho dân Pháp biết rằng: Chúng ta là quang minh chính
đại. Chúng ta chỉ đòi độc lập tự do, chứ chúng ta không vì tƣ thù tƣ oán, làm
cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi
giết ngƣời cƣớp nƣớc” [59, tr. 29-30].
Mặt khác, Chính phủ VNDCCH nỗ lực vận động ngoại giao để ngăn
chặn cuộc chiến không cân sức này. Theo đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thƣ
đến lãnh đạo Mỹ, Anh và chỉ huy quân Anh ở Nam vĩ tuyến 16 của Việt Nam,
phản đối hành động giúp Pháp và vi phạm quyền tự do, dân chủ của quân Anh
ở Nam Bộ. Trong thƣ gửi Tổng thống Mỹ Truman ngày 24 tháng 9, Chủ tịch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status