Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Triết học - Nguyễn Văn Phong - Triết K24
A. PHẦN MỞ ĐẦU:
I. LÝ DO CHN Đ TÀI:
Loài người đang sống trong những năm đầu của thế kỷ XXI, với bao
biến động đổi thay đầy phức tạp. Trong kinh tế, xu thế khu vực hoá, quốc tế
hoá nền kinh tế thế giới đang trở thành yêu cầu khách quan. Sự phát triển
mạnh mẽ của cách mạng khoa học - kỹ thuật - công nghệ đã và đang tác
động đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Thế giới chuyển từ thời kỳ
đối đầu sang đối thoại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh cùng thi đua tồn tại trong
hoà bình và phát triển.
Có thể khẳng định rằng, không một quốc gia, dân tộc nào phát triển
được mà lại tách biệt, biệt lập với thế giới bên ngoài. Vì thế hợp tác quốc tế
trở thành xu thế khách quan phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội, trong
đó khai thác được nguồn vốn, công nghệ, và tìm được chỗ đứng trong thị
trường quốc tế là cực kỳ quan trọng.
Trên thế giới: Sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu
khiến CNXH tạm thời lâm vào thoái trào, nhưng điều đó không làm thay đổi
tính chất của thời đại, loài người vẫn ở trong thời kỳ quá độ từ CNTB lên
CNXH.
Nguy cơ chiến tranh thế giới bị đẩy lùi, nhưng xung đột vũ trang,
chiến tranh cục bộ, xung đột về sắc tộc và tôn giáo, việc sản xuất và buôn
bán vũ khí, chạy đua vũ trang, các hoạt động can thiệp, bạo loạn, lật đổ,
khủng bố vẫn xảy ra ở nhiều nơi.
Cách mạng KH-CN mà nội dung cơ bản là cách mạng về công nghệ
thông tin, sinh học, năng lượng, vật liệu mới tiếp tục phát triển nhanh với
trình độ ngày càng cao, làm thay đổi nhanh chóng tính chất và trình độ của
lực lượng sản xuất, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới,
Quốc tế hoá nền sản xuất và đời sống xã hội.
Các nước đều đứng trước cơ hội để phát triển, nhưng mặt khác do ưu
thế thuộc về các nước TBCN phát triển và các công ty xuyên quốc gia - về
vốn, công nghệ, thị trường, kinh nghiệm quản lý - nên các nước đang phát
khó khăn như: tụt hậu về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên
thế giới, chệch hướng XHCN, nạn tham nhũng và tệ quan liêu; "diễn biến
hoà bình" do các thế lực gây ra. Đến nay, những thách thức đó vẫn tồn tại,
diễn biến phức tạp, đan xen tác động lẫn nhau, không thể xem nhẹ nguy cơ
nào.
Việt Nam là một nước đang phát triển, đời sống nhân dân còn nhiều
khó khăn. Muốn đổi mới thành công, làm cho nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp vào năm 2020, thực hiện mục tiêu: "Dân giàu nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" chúng ta không thể không mở cửa,
giao lưu hợp tác trong quan hệ Quốc tế.
Trong bối cảnh quốc tế rất phức tạp hiện nay, xu thế tất yếu khách
quan trong quá trình phát triển là đòi hỏi phải có sự hợp tác, phát huy thế
mạnh, khắc phục khó khăn đưa đất nước đổi mới với thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đi tới thắng lợi.
- 2 -
Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Triết học - Nguyễn Văn Phong - Triết K24
Với tinh thần sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong
cộng đồng Quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển. Việt Nam
thực hiện đường lối nhất quán đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng đa phương
hoá, đa dạng hoá các quan hệ Quốc tế. Trong bối cảnh Quốc tế diễn biến
nhanh chóng, có nhiều thuận lợi nhưng cũng chứa đựng không ít yếu tố bất
trắc, những năm sắp tới, sự nghiệp cách mạng nước ta chắc chắn sẽ có bước
phát triển sôi động.
Xuất phát từ tình hình kinh tế - xã hội của đất nước trong những năm
đầu tiến hành công cuộc đổi mới, cũng như những diễn biến phức tạp của
Thế giới nêu trên, do hạn chế về thời gian và tri thức, đề tài nghiên cứu của
tôi chỉ giới hạn trong phạm vi: "Vấn đề hợp tác Quốc tế của Việt Nam trong
thời kỳ đổi mới dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin".
II. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CỦA Đ TÀI:
Quan hệ hợp tác quốc tế đã xuất hiện với tư cách là mối quan hệ xã
thống công trình nghiên cứu nào mang tính chuyên biệt về quan hệ hợp tác
Quốc tế thời hiện đại.
Trên cơ sở kế thừa và phát triển những tài liệu đã có, đồng thời vận
dụng những sự kiện qua tìm hiểu vấn đề hợp tác Quốc tế, đề tài khoá luận sẽ
đi phân tích sâu một số nội dung về quan hệ hợp tác Quốc tế ở Việt Nam
hiện nay và rút ra những kết luận cần thiết về tầm quan trọng của sự hợp tác
Quốc tế trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
III. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Mục đích của đề tài là: xây dựng một hệ thống hoàn chỉnh, có cơ sở
khoa học cả về lý luận và thực tiễn với nội dung sát thực, chỉ ra xu hướng,
khuynh hướng và quy luật của sự hợp tác Quốc tế ở nước ta hiện nay.
Nhiệm vụ của đề tài là: góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của
quan hệ hợp tác Quốc tế trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam hiện nay, nhất là
trong giai đoạn nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước; Khái quát nội dung và hình thức của hợp tác Quốc tế
trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật của Việt Nam.
IV. CƠ SƠ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Cơ sở lý luận của đề tài là: chủ nghĩa Mác-Lênin và những quan điểm
của Đảng CSVN về quan hệ hợp tác Quốc tế trong thời kỳ quá độ lên
CNXH và trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là: phương pháp biện chứng duy
vật và kết hợp với một số phương pháp chủ yếu khác như: Phân tích, tổng
hợp, khái quát
V. ĐÓNG GÓP CỦA Đ TÀI:
Đề tài góp phần khẳng định tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác-Lênin
về hợp tác Quốc tế và những quan điểm của Đảng ta về hợp tác Quốc tế
trong thời kỳ đổi mới trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị và khoa học kỹ
thuật ở Việt Nam. Đề tài cũng bước đầu đi sâu xem xét, nghiên cứu và đánh
giá thực trạng của sự hợp tác Quốc tế ở Việt Nam hiện nay một cách có hệ
thống.
những biến đổi không ngừng. Thế kỷ XXI sẽ đánh dấu sự phát triển vượt
bậc của khoa học và công nghệ, của toàn cầu hoá, và các vấn đề kinh tế, văn
hoá Các quốc gia vừa hợp tác vừa đấu tranh với nhau để tồn tại và phát
triển.
Mác và Ăng ghen, những người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa
học trên cơ sở của hai phát minh vĩ đại: quan niệm duy vật biện chứng về
lịch sử và quy luật giá trị thặng dư. Từ đây chủ nghĩa Mác đã đặt cơ sở khoa
học để nghiên cứu một cách đúng đắn về xã hội loài người. Trong đó bao
gồm việc nghiên cứu những vấn đề quan hệ hợp tác quốc tế phải dựa trên cơ
sở lý luận của chủ nghĩa Mác là phương pháp luận biện chứng duy vật khoa
học. Những quan điểm cơ bản về vấn đề quan hệ hợp tác quốc tế của Mác
và Ăng ghen đã giúp ta nhận thức đúng đắn và sâu sắc những vấn đề quốc tế
trong lịch sử cũng như trong thời đại ngày nay. Có thể nêu lên một số quan
điểm cơ bản về quan hệ hợp tác quốc tế của Mác và Ăng ghen như sau:
Vấn đề thời đại:
Kế thừa tư tưởng của những người đi trước như: Phuriê, Mooc-Găng
về vấn đề thời đại và đứng trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng về lịch
- 6 -
Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Triết học - Nguyễn Văn Phong - Triết K24
sử và học thuyết giá trị thặng dư, Mác và Ăng ghen đã nêu lên quan điểm về
thời đại. Ăng ghen viết: “ Trong mỗi thời đại lịch sử, phương thức chủ yếu
của sản xuất kinh tế và trao đổi, cùng với cơ cấu xã hội do phương thức đó
quyết định, đã cấu thành cơ sở cho lịch sử chính trị của thời đại và lịch sử
của sự phát triển trí tuệ của thời đại, cái cơ sở mà chỉ có xuất phát từ đó mới
cắt nghĩa được lịch sử đó ”[4; 523].
Như vậy, hình thái kinh tế - xã hội là nội dung cấu thành thời đại.
Còn bản thân thời đại là thời kỳ lịch sử hình thành, phát triển và ngự trị của
một hình thái kinh tế - xã hội nhất định.
Mác và Ăng ghen chỉ dự báo nội dung cơ bản của thời đại mới là:
“Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ
quốc tế hoá kinh tế bắt đầu từ sau khi tìm ra châu Mỹ, nhưng tiến trình này
chỉ thực sự tăng tốc sau khi cách mạng công nghiệp ở Anh và các nước tư
bản chủ nghĩa chủ yếu khác thành công. Thứ hai, quá trình quốc tế hoá kinh
tế mang tính tất yếu khách quan, do đòi hỏi của bản thân nền sản xuất, đặc
biệt là do sự phát triển của lực lượng sản xuất sự phát triển của sức sản xuất
vừa đòi hỏi lại vừa tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế mang tính quốc tế.
Thứ ba, quá trình quốc tế hoá kinh tế dù mang trong nó yếu tố khách quan,
nhưng bên trong nó thúc đẩy và luôn là ý áp đặt chủ quan của những nước
nắm các lực lượng kinh tế hùng hậu nhất.
Toàn cầu hoá kinh tế là xu hướng có tính tất yếu, và tính tất yếu đó lại
có nguyên do từ quá trình quốc tế hoá, có sự bắt đầu bằng quốc tế hoá kinh
tế. Bản chất khách quan của toàn cầu hoá kinh tế được quy định bởi tính tất
yếu khách quan của quá trình quốc tế hoá kinh tế. Ngay trong thực tiễn, trên
một số mặt chủ yếu của nền kinh tế thế giới, quốc tế hoá là cơ sở, tiền đề
cho toàn cầu hoá kinh tế.
Ôn lại những chỉ dẫn của Mác và Ăng ghen, chúng ta càng nhận thức
vấn đề này một cách sâu sắc hơn. Hiện nay, xu thế hoà bình, hợp tác để phát
triển trở thành xu thế chủ đạo của quan hệ quốc tế. Có nhiều yếu tố tác động
đến toàn cầu là: cuộc cách mạng khoa học và công nghệ từ cuối thập kỷ 70
của thế kỷ XX trở lại đây, đặc biệt là cách mạng thông tin; Sự quốc tế hoá
hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó đặc biệt là vai trò của các công ty
xuyên quốc gia; Chính sách tự do hoá của các nước, trong đó đặc biệt là vai
trò đầu tầu của các nước bá quyền và các nước tư bản chủ nghĩa phát triển
phương Tây.
Vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử
Chủ nghĩa Mác khẳng định quá trình phát triển của xã hội loài người
là quá trình lịch sử tự nhiên, đồng thời cũng khẳng định không phải những
cá nhân kiệt xuất, những anh hùng mà chính quần chúng nhân dân là người
làm nên lịch sử. Vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử ngày một
tăng lên.
cuộc cách mạng ấy, những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những
xiềng xích trói buộc họ. Họ sẽ giành được cả thế giới. Vô sản các nước đoàn
kết lại”[2; 646].
Trong tác phẩm: ”Phê phán cương lĩnh Gôtha”, cũng như trong
“Cương lĩnh Gôtha”, Mác đã phê phán Đảng Công nhân Đức chỉ nói đến sự
hoạt động riêng biệt của giai cấp vô sản trong phạm vi dân tộc, mà không
nêu lên mối quan hệ đoàn kết, tương trợ giữa giai cấp công nhân các nước
- 9 -
Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Triết học - Nguyễn Văn Phong - Triết K24
với nhau: không hề nói đến những nhiệm vụ quốc tế của giai cấp công nhân
Đức.
Cống hiến của V.I. Lênin về lý luận quan hệ hợp tác quốc tế:
Lênin đã phát triển chủ nghĩa Mác lên một giai đoạn mới, đặc biệt
trong lý luận về quan hệ quốc tế. Lênin có nhiều cống hiến to lớn vào kho
tàng lý luận của chủ nghĩa Mác. Người nêu ra những quy luật quan hệ quốc
tế ở những thời kỳ lịch sử khác nhau và những nguyên lý cơ bản về lý luận
quan hệ quốc tế để hình thành chiến lược sách lược đối ngoại của Đảng
công nhân và Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng của Lênin về quan hệ
hợp tác quốc tế được thể hiện rõ ở hai giai đoạn: Trước Cách mạng tháng
Mười và sau Cách mạng tháng Mười Nga 1917.
Trước Cách mạng tháng Mười, Lênin đã nghiên cứu nguyên nhân của
cuộc chiến tranh và tính chất của chiến tranh giữa các đế quốc. Người vạch
ra tính chất cướp đoạt trong chính sách đối ngoại của các nước đế quốc, và
nhấn mạnh vai trò quan trọng của sự đoàn kết giữa giai cấp công nhân và
các lực lượng tiến bộ trong đấu tranh chống đế quốc. Đồng thời Người cũng
chỉ ra chính sách đối ngoại của Nhà nước vô sản mới thành lập, phải đối lập
với chính sách ngoại giao có tính chất cướp đoạt của giai cấp tư sản.
Chính sách đó phải thúc đẩy sự nghiệp giải phóng các nước thuộc địa
và quyền tự quyết của các dân tộc, phải liên minh với các lực lượng cách
mạng và các dân tộc bị áp bức, phải bảo vệ hoà bình trên cơ sở tôn trọng
dàng đánh đổ chế độ Nga hoàng, giai cấp công nhân và nông dân được giải
phóng, thoát khỏi cuộc chiến tranh đế quốc.
Lênin cũng chỉ ra rằng, không phải chỉ những người cách mạng Nga
mà cả các đảng của giai cấp vô sản ở tất cả các nước tham chiến cũng phải
thực hành chính sách làm cho chính phủ đế quốc ở nước mình thất bại. Ở
đây, Lênin đã thể hiện rất rõ lập trường và thái độ cách mạng của giai cấp
vô sản đối với chiến tranh của chủ nghĩa đế quốc.
Kết hợp phong trào giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản:
Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, Lênin đã nhận ra vai trò cách mạng
của phong trào giải phóng dân tộc. Phong trào này kết hợp với phong trào
cách mạng vô sản, sẽ biến các nước phụ thuộc và các thuộc địa từ chỗ là lực
lượng hậu bị của giai cấp tư sản đế quốc trở thành lực lượng hậu bị và đồng
minh của giai cấp vô sản cách mạng.
Lênin đã chỉ rõ: phong trào giải phóng dân tộc cần kết hợp với phong
trào cách mạng của giai cấp vô sản để lật đổ kẻ thù chung là chủ nghĩa đế
quốc. Từ đó, Người nêu lên một cách cụ thể nhiệm vụ giáo dục chủ nghĩa
quốc tế vô sản cho giai cấp công nhân như sau: “Trọng tâm của việc giáo
dục chủ nghĩa quốc tế cho công nhân trong các nước bị áp bức, tất nhiên
phải là ở chỗ họ tuyên truyền và bênh vực quyền tự do phân lập của các
nước bị áp bức. Nếu không thì không có chủ nghĩa quốc tế” và “trái lại,
người dân chủ xã hội thuộc một dân tộc nhỏ phải có bổn phận chuyển trọng
- 11 -
Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Triết học - Nguyễn Văn Phong - Triết K24
tâm công tác cổ động của mình vào chữ thứ nhất trong công thức chung của
chúng ta là: “liên hợp tự nguyện giữa các dân tộc”. Bổ sung vào khẩu hiệu
“Vô sản toàn thế giới đoàn kết lại” của Mác và Ăng ghen Lênin đã nêu lên
khẩu hiệu: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”[7;
56-57].
Sau cách mạng tháng Mười Nga, Lênin tiếp tục phát triển và làm
phong phú thêm những quan điểm của chủ nghĩa Mác về quan hệ hợp tác
trong chính sách đối ngoại của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa quốc
tế vô sản đã được Mác và Ăng ghen nêu ra trong “Tuyên ngôn của Đảng
Cộng Sản”. Đến Lênin, nó lại được tiếp tục phát triển. Lênin đã phân tích
cho thấy tư bản là một lực lượng quốc tế, để chiến thắng chủ nghĩa tư bản
cần phải có sự liên minh và đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân.
Trước cách mạng tháng Mười, chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công
nhân thể hiện ở những nguyên tắc quan hệ giữa các đội tiên phong của giai
cấp công nhân. Sau cách mạng tháng Mười thành công thì nguyên tắc đoàn
kết quốc tế của giai cấp công nhân đã trở thành cơ sở cho chính sách đối
ngoại của Nhà nước Xô Viết.
Năm là, đảm bảo nguyên tắc chung sống hoà bình giữa các nước có
chế độ xã hội khác nhau. Vào khoảng năm 1915-1916, Lênin đưa ra kết luận
trong thời đại chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa xã hội có thể thắng lợi ở một
nước hay một vài nước, chủ nghĩa xã hội thay thế chủ nghĩa tư bản sẽ diễn
ra trong một quá trình lâu dài và đó là cả một thời kỳ lịch sử. Do đó, mà có
vấn đề quan hệ giữa các nước có chế độ khác nhau.
Lênin nhấn mạnh rằng, có một lực lượng to lớn hơn nguyện vọng, ý
chí và nghị quyết của bất cứ chính phủ hay giai cấp nào, đó là sức mạnh của
quan hệ kinh tế chung trên toàn thế giới. Quan hệ đó đã thúc đẩy các chính
phủ đối địch, các giai cấp đối địch đi vào con đường làm ăn với chúng ta.
Tư tưởng này của Lênin được thể hiện trong Hiến pháp đầu tiên của
Nhà nước Xô Viết. Pháp lệnh hoà bình. Tháng 6 năm 1920, Uỷ viên Bộ Dân
uỷ Ngoại giao Xô Viết đã tuyên bố: “Khẩu hiệu của chúng ta: Trước đây và
bây giờ là chung sống hoà bình với các chính phủ khác, phải xây dựng mối
quan hệ lâu dài giữa chính phủ công nông với chính phủ của giai cấp tư
sản”. Đây là văn kiện chính thức đầu tiên của Nhà nước Xô Viết sử dụng
thuật ngữ: “Chung sống hoà bình”.
Lúc đó Nhà nước Xô Viết đang ở trong vòng vây của chủ nghĩa tư
bản, nhưng việc nêu ra nguyên tắc chung sống hoà bình không phải là suy
nghĩ về sự tồn tại của bản thân Nhà nước Xô Viết mà là dựa trên sự nhận
VI (12 - 1986). Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới đúng đắn, trong đó đề
cao vai trò của đường lối đối ngoại. Mở rộng sự hợp tác vì hoà bình và phát
triển theo hướng đa phương hoá và đa dạng hoá các quan hệ hợp tác.
Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười đã từng phát biểu “Chúng ta hãy tự cứu mình
trước khi trời cứu”.
Trước những diễn biến nhanh chóng và phức tạp của tình hình thế
giới hiện nay, Đảng ta nhận thức rằng (cùng tồn tại hoà bình giữa các nước
có chế độ chính trị - xã hội khác nhau đã được đề cập từ lâu, song được tập
trung đặc biệt rõ nét trong các văn kiện Đại Hội VII - 1991 của đảng): ”Việt
Nam muốn là bạn, muốn sống hoà bình, hữu nghị với tất cả các nước”.
Cùng tồn tại hoà bình là một hiện tượng có tính lịch sử được Lênin
xác định như những nguyên tắc tất yếu bắt nguồn từ sự phát triển không đều
của chủ nghĩa tư bản và trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Cùng tồn tại hoà
- 14 -
Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Triết học - Nguyễn Văn Phong - Triết K24
bình không có gì chung với hoà bình giai cấp, thoả hiệp về tư tưởng, mà là
một trạng thái đặc thù của đấu tranh giai cấp giữa chủ nghĩa xã hội và chủ
nghĩa tư bản.
Kế thừa những bài học trong lịch sử dân tộc, trong hai cuộc kháng
chiến chống Pháp, chống Mỹ, nhất là trong giai đoạn cách mạng hiện nay -
giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
về hợp tác quốc tê, trên cơ sở đòi hỏi khách quan của thực tiễn phát triển,
Đảng ta đã khẳng định mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế là một tất yếu
khách quan trong quá trình phát triển của đất nước ta hiện nay.
Đảng ta không bao giờ chủ trương theo đuổi đường lối biệt lập mà
luôn luôn coi việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại là
một trong những nguyên tắc cơ bản trong đường lối quốc tế của mình. Qua
15 năm tiến hành công cuộc đổi mới do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi
xứng và lãnh đạo, nhân dân Việt Nam vô cùng phấn khởi và tự hào về
Đại hội đại biểu của Đảng lần thứ VII họp vào tháng 6/1991, mở ra
bước đột phá mới: thông qua Cương lĩnh của Đảng, Chiến lược ổn định và
phát triển kinh tế - xã hội 10 năm, đồng thời đưa ra đường lối đối ngoại rộng
mở với khẩu hiệu: “với chính sách đối ngoại rộng mở, chúng ta tuyên bố
rằng: Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới,
phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển”[13. tr 147].
Cụ thể hoá đường lối nêu ra tại Đại hội VII, Hội nghị Trung ương lần
3 (khoá VII) đã đưa ra Nghị quyết về chính sách đối ngoại và kinh tế đối
ngoại, trong đó nêu ra tư tưởng chủ đạo là: giữ vững nguyên tắc độc lập,
thống nhất và chủ nghĩa xã hội. Đồng thời phải rất sáng tạo, năng động, linh
hoạt, phù hợp với vị trí, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước ta cũng như
diễn biến của tình hình khu vực và thế giới, phù hợp với từng đối tượng
nước ta có quan hệ. Đồng thời Nghị quyết cũng nêu ra bốn phương châm:
Đảm bảo lợi ích dân tộc, trong đó kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu
nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân; giữ vững độc lập tự chủ,
tự lực tự cường, đẩy mạnh đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại;
nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế; ưu tiên hợp
tác khu vực đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước.
Đại hội Đảng lần thứ VIII, họp tháng 6/1996, đã khẳng định chủ
trương tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế “Xây dựng một nền kinh tế
mở”, “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”.
Hội nghị Trung ương 4 (khoá VIII) nêu nhiệm vụ: “Tích cực chủ
động thâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế”, “Tiến hành khẩn trương,
vững chắc việc đàm phán Hiệp định thương mại với Mỹ”, “Gia nhập APEC
và WTO, có kế hoạch cụ thể để chủ động thực hiện cam kết trong khuôn
khổ AFTA”.
- 16 -
Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Triết học - Nguyễn Văn Phong - Triết K24
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, họp tháng 4/2001, đã kiểm điểm
quá trình thực hiện đường lối đối ngoại do Đại hội VIII đề ra, một lần nữa
Vấn đề không phải chỉ là sự thay đổi từ ngữ, mà ở đây thể hiện sự
nhận thức sâu sắc hơn bối cảnh và thực chất trong quan hệ hợp tác Quốc tế.
Điều đó thể hiện ở chỗ: Một mặt, thể hiện chính sách yêu hoà bình, hữu
- 17 -
Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Triết học - Nguyễn Văn Phong - Triết K24
nghị của Việt Nam, thể hiện đúng đắn mong muốn chân thành của Việt Nam
sẽ là bạn với những ai mong muốn là bạn với Việt Nam; Mặt khác, chúng ta
biểu thị thái độ trách nhiệm cao trong quan hệ với các nước, sẵn sàng là đối
tác tin cậy của các nước, nghiêm chỉnh thực hiện mọi luật lệ và cam kết
chung khi thiết lập quan hệ hợp tác. Điều đó cũng có nghĩa là chúng ta cũng
yêu cầu các đối tác phải nghiêm chỉnh thực hiện các hiệp định, cam kết đã
thoả thuận với chúng ta. Đây là chữ tín, là quan hệ bình đẳng, cùng có lợi.
Có như vậy mới duy trì được mối quan hệ lâu dài. Cơ sở chung để
thiết lập mối quan hệ giữa nước ta với các nước là: “phấn đấu vì hoà bình,
độc lập và phát triển”. Đây là điểm chung, dễ được chấp nhận đối với đại đa
số các nước trên thế giới, bất kể chế độ chính trị của các nước đó có khác
nhau.
Như thế, những quan điểm cơ bản của Đảng ta về mở rộng quan hệ
hợp tác quốc tế trong thời kỳ đổi mới, đã được thể hiện rất rõ trong các văn
kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI - 1986, lần thứ VII - 1991, lần thứ
VII - 1996, lần thứ IX - 2001, ngày càng được bổ sung hoàn thiện, đáp ứng
yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội cả về trước mắt cũng như lâu
dài, phù hợp với tình hình thực tiễn khách quan và xu thế chung của thế
giới. Trong những năm tới, chúng ta tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc
tế, nhưng phải tập trung quán triệt những quan điểm chủ yếu sau:
Phát triển kinh tế đối ngoại là một tất yếu khách quan, phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước. Thế giới ngày nay là một thực thể thống
nhất, trong đó, mỗi quốc gia là một thực thể độc lập. Tuy nhiên, các quốc
gia lại phải phụ thuộc vào nhau về kinh tế, khoa học - công nghệ, do có sự
khác biệt về điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển. Trong lịch sử kinh tế
Ngược lại, mối quan hệ thương mại - kinh tế phát triển sẽ có tác dụng củng
cố, tăng cường mối quan hệ chính trị. Khác với hoạt động kinh tế trong
nước, hoạt động kinh tế đối ngoại phải phụ thuộc vào những yếu tố chính
trị, vào lợi ích của các nước đối tác. Việc xử lý mối quan hệ giữa kinh tế với
chính trị là vấn đề có ý nghĩa quyết định của kinh tế đối ngoại. Trên cơ sở
đó, xác định sự cân bằng lợi ích giữa các bên theo nguyên tắc bình đẳng,
cùng có lợi. Sự ổn định về chính trị sẽ tạo điều kiện cho buôn bán quốc tế,
du lịch, đầu tư. Việc thực hiện tốt công tác quốc phòng, an ninh sẽ tạo thuận
lợi cho việc mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại.
Phát huy sức mạnh dân tộc để tham gia vào phân công lao động quốc
tế. Tuy nhiên, việc phát huy ý chí “tự lực tự cường” không đồng nghĩa với
việc coi nhẹ sức mạnh của yếu tố bên ngoài. Cần tận dụng có hiệu quả
những thành tựu khoa học và công nghệ thế giới và sự giúp đỡ quốc tế.
Từng bước xây dựng nền kinh tế “mở cửa”. “Mở cửa” nền kinh tế ra
thế giới bên ngoài là một chiến lược hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển
của nền kinh tế thế giới. Nhưng “mở cửa” phải bảo đảm sự ổn định về chính
trị, an ninh quốc gia, phải bảo vệ được tài nguyên và môi trường, phải có
biện pháp hạn chế những mặt tiêu cực phát sinh trong quá trình “mở cửa”.
Nói cách khác, Việt Nam không đóng cửa về kinh tế, nhưng phải xây dựng
- 19 -
Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Triết học - Nguyễn Văn Phong - Triết K24
một nền kinh tế độc lập, tự chủ, với cơ chế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa. Ở Việt Nam có thành phần kinh tế tư nhân, nhưng không tư
nhân hoá nền kinh tế, chúng ta tổ chức lại kinh tế hợp tác xã nhưng không
giải tán hợp tác xã. Kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể vẫn là thành phần
kinh tế chủ đạo của nền kinh tế Việt Nam.
Với tinh thần trên, việc mở cửa phải có định hướng, có kế hoạch cụ
thể, bước đi vững chắc và phải được quản lý chặt chẽ. Trên cơ sở nhận thức
đúng đắn quan điểm “mở cửa”, phê phán các quan điểm sai lầm về “mở
cửa” như: chỉ thấy được mặt tích cực của “mở cửa” dẫn đến việc “mở toang
theo những thách thức trong một thế giới có những “luật chơi” khác với
quan niệm và kinh nghiệm cũ của ta. Do đó, chúng ta phải chọn đúng hướng
và có quyết tâm cao trong cuộc chạy đua này.
Nhận thức rõ sự yếu kém về kinh tế của Việt Nam, là nguồn gốc có
thể dẫn đến những hậu quả bất lợi về chính trị, quân sự, kinh tế - xã hội và
quan hệ quốc tế, Đảng và Nhà nước ta quyết tâm đưa đất nước sớm thoát
khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu, đặt nhiệm vụ phát triển kinh tế ở vị trí ưu tiên
chiến lược. Phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước
công nghiệp. Nhân tố chủ yếu trong việc quyết định chính sách đối ngoại
của Việt Nam trong tương lai phải là nhân tố kinh tế, nhận rõ điều đó, Đảng
và Nhà nước ta phải hoạch định đường lối chiến lược, sách lược, trước mắt
cũng như lâu dài, có bước đi thận trọng, phù hợp với tình hình thực tiễn của
đất nước, cũng như tình hình hiện nay của thế giới.
Trong thời đại ngày nay, toàn cầu hoá và khu vực hoá đang diễn ra
ngày càng sâu sắc, không một quốc gia nào có thể đứng ngoài. Các quan hệ
kinh tế quốc tế trở nên sôi động hơn bao giờ hết và có tác động to lớn đến sự
phát triển của các quốc gia. Một trong những đặc điểm nổi bật của kinh tế
thế giới những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, là quá trình toàn cầu
hoá được thúc đẩy mạnh mẽ dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học -
công nghệ. Quá trình này được thúc đẩy mạnh mẽ thêm do sự mở cửa của
nền kinh tế và thực hiện chiến lược kinh tế hướng ngoại của hầu hết các
nước. Tuy vậy, cùng với quá trình toàn cầu hoá, quá trình khu vực hoá đã
diễn ra song song và được đẩy mạnh chư từng có.
Toàn cầu hoá và khu vực hoá nền kinh tế, một mặt thúc đẩy quá trình
phát triển lực lượng sản xuất, chuyển giao công nghệ, chuyển dịch cơ cấu
ngành, lao động. Thúc đẩy quá trình hợp tác và cạnh tranh giữa các quốc gia
và khu vực; đồng thời sẽ diễn ra hai quá trình trái ngược nhau trong thương
mại: Đó là tự do hoá và bảo hộ mậu dịch, hình thành thị trường khu vực với
sự ưu đãi ở mức độ khác nhau đối với các bạn hàng liên kết và phân biệt đối
xử với các bạn hàng khác.
mạnh tổng hợp cho sự phát triển nhanh và bền vững.
1.2.2. Bản chất của sự hợp tác quốc tế.
Nguyên nhân của hợp tác quốc tế bắt nguồn từ sự phát triển cao của
lực lượng sản xuất, sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, của
quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá nền kinh tế thế giới. Muốn phát triển
nhanh và bền vững đòi hỏi phải có sự hợp tác liên kết. Hơn nữa, hợp tác,
hoà bình và phát triển đã trở thành xu thế khách quan của phát triển.
Vậy, bản chất của hợp tác quốc tế hiện nay là gì? Trước kia quan hệ
quốc tế được hiểu là quan hệ bang giao giữa các quốc gia, liên quan đến an
- 22 -
Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Triết học - Nguyễn Văn Phong - Triết K24
ninh, biên giới lãnh thổ. Nay, quan hệ đó được mở rộng ra mọi lĩnh vực
như: văn hoá, xã hội, chính trị, kinh tế, quân sự, môi trường và liên quan
đến nhiều loại chủ thể. Loại quan hệ quốc tế mang tính chất kinh tế được thể
hiện rất phong phú trong đời sống quốc tế và thường được điều chỉnh bằng
công pháp quốc tế. Ví dụ như: Các nước đang phát triển yêu sách về một
trật tự kinh tế thế giới mới vào những năm 70 của thế kỷ XX, sự hợp tác
giữa các quốc gia trong việc thành lập các tổ chức kinh tế quốc tế, quan hệ
giữa các quốc gia liên quan đến viện trợ và nợ nước ngoài, việc ký kết các
hiệp định thương mại và bảo hộ đầu tư, việc giải quyết tranh chấp kinh tế
giữa các quốc gia, Như vậy, quan hệ hợp tác quốc tế xét về bản chất là
những quan hệ nhằm phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế -xã hội của
đất nước, quan hệ kinh tế quốc tế là cơ bản, nhưng không phải là toàn bộ
quan hệ quốc tế, mà chỉ bao gồm các quan hệ có liên quan đến yếu tố kinh
tế.
Quan hệ kinh tế được hiểu là mối quan hệ giữa các chủ thể thực hiện
các hoạt động liên quan đến quá trình sản xuất, phân phối, tiêu thụ hàng
hoá. Các hoạt động và quan hệ kinh tế chịu sự tác động của các quy luật
kinh tế khách quan như: quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh
tranh, quy luật lưu thông tiền tệ, Trong thực tiễn hoạt động kinh tế có các
quốc gia lớn, nhỏ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác và liên kết
quốc tế về kinh tế và thương mại, song tính cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Các dân tộc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, tự cường dân tộc, chống can
thiệp của nước ngoài’[21; 26-27]. Xu thế trên là xu thế khách quan, xu thế
‘’hội nhập’’, từ đó làm nảy sinh tính đa phương, đa dạng trong quan hệ hợp
tác quốc tế.
Mở rộng sự hợp tác quốc tế đã góp phần củng cố và nâng cao vị thế
của Việt Nam trên trường quốc tế, thu hút vốn đầu tư, mở rộng thị trường,
tiếp thu kinh nghiệm quản lý, Chúng ta đã giữ vững được ổn định chính
trị, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, mà trọng tâm là phát triển kinh tế,
chăm lo đời sống nhân dân; mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối
ngoại, củng cố quốc phòng, an ninh, đã góp phần bảo đảm cho đất nước
đứng vững và tiếp tục phát triển. Sự hợp tác quốc tế còn góp phần to lớn
trong việc thực hiện nhiệm vụ ‘’giữ vững hoà bình, mở rộng quan hệ hữu
nghị và hợp tác tạo môi trường và điều kiện quốc tế thuận lợi cho công
cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc
đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ
và tiến bộ xã hội’[12; 24].
Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, điều quyết định thành công của
công cuộc đổi mới là do sức mạnh của toàn dân ta, của con người, ý chí, trí
tuệ và tiềm lực của đất nước. Đồng thời chúng ta cũng hiểu rằng, trong thời
- 24 -
Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Triết học - Nguyễn Văn Phong - Triết K24
đại ngày nay, bất cứ nước vào, dù phát triển đến đâu, cũng không thể tự
khép kín được. Với điểm xuất phát rất thấp như nước ta, tranh thủ nguồn lực
bên ngoài là rất quan trọng. Phải có chính sách khôn khéo, cách làm có hiệu
quả để mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoài nhằm khai thác tốt nhất tiềm
lực và lợi thế bên trong.
Vì vậy, chúng ta chủ trương mở rộng đa dạng hoá và đa phương hoá
quan hệ hợp tác cả về chính trị, kinh tế, văn hoá và khoa học, kỹ thuật, cả về