BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
---------o0o---------
Tên công trình:
MÔ HÌNH KINH TẾ LƢỢNG DÙNG ĐỂ TIẾP CẬN VÀ PHÂN TÍCH
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN GIÁ CẢ Ở VIỆT
NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Nhóm ngành: XH 1a Sinh viên thực hiện: Nguyễn Tiến Long
Giới tính: Nam. Dân tộc: Kinh
Lớp: Trung 1 Khóa: 45 Khoa: KT&KDQT
Giáo viên hƣớng dẫn: ThS. Phùng Duy Quang http://svnckh.com.vn
2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
C Tiền mặt
c Tỷ lệ tiền mặt/tiền gửi không kỳ hạn
CO Tiêu dùng
CPI Chỉ số giá tiêu dùng
CSTT Chính sách tiền tệ
R
b
Tổng dự trữ
R
e
Dự trữ vượt mức
R
r
Dự trữ bắt buộc
r
e
Tỷ lệ dự trữ dôi ra
r
rTỷ lệ dự trữ bắt buộc
T Tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết
kiệm
TD Tiền gửi có kỳ hạn
t Tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi
tiết kiệm/tiền gửi không kỳ hạn
USD Đồng đôla Mỹ
VND Tiền đồng
WTO Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
http://svnckh.com.vn
4
Giá cả mất ổn định là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng bất ổn trên
mọi phương diện của đời sống kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, chính nó buộc các
quốc gia phải tiến hành những cải cải sâu rộng trên mọi lĩnh vực từ chính trị đến
kinh tế. Sự kiện chính thức khởi xướng chính sách Đổi Mới từ Đại hội đại biểu
Đảng Cộng sản Việt Nam lần VI (12/1986) là một bước ngoặt quan trọng trong
tiến trình phát triển của Việt Nam, mà kết quả của nó còn ảnh hưởng đến ngày
hôm nay. Sau hơn 20 năm kể từ khi công cuộc Đổi Mới bắt đầu, nền kinh tế
nước ta đã có những bước tiến đột phá. Cụ thể, Việt Nam không những đã nhanh
chóng kiềm chế được lạm phát phi mã vào thời kỳ đầu những năm Đổi Mới,
khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ
Châu Á năm 1997 – 1998, mà còn luôn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao thứ
hai trong khu vực Châu Á trong những năm gần đây. Bên cạnh đó, sự kiện Việt
Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) là thành công to lớn của tiến
trình hội nhập nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế toàn cầu trong thời kỳ Đổi
Mới. Đóng góp vào những thành công đó, không thể không kể đến những cải
cách trong việc điều tiết nền kinh tế bằng chính sách tiền tệ (CSTT). Tuy nhiên,
chưa đầy hai mươi năm sau Đổi Mới, những thành quả đạt được trong việc quản
http://svnckh.com.vn
6
lý giá cả đã xuất hiện dấu hiệu không ổn định. Kể từ năm 2004, giá cả bắt đầu
tăng vọt theo xu hướng năm sau cao hơn năm trước. Những sự kiện ảnh hưởng
đến diễn biến giá cả ngày càng phức tạp, nhất là sau khi Việt Nam trở thành
thành viên của WTO. Sự mở cửa của thị trường vốn và sự tăng vọt về khối lượng
thương mại trên thị trường hàng hóa làm cho các biến số gây ra biến động giá cả
vô cùng phức tạp. Điều này đã dẫn đến các kiến nghị chính sách ổn định giá cả
không theo một hướng nhất quán mà thậm chí còn làm cho những tranh luận đối
lập về diễn biến giá cả ở Việt Nam trở lên gay gắt hơn bao giờ hết. Trong bối
cảnh trên, việc xem xét một cách tổng quan về nguyên nhân gây ra biến động giá
cả ở khía cạnh lý thuyết và tìm kiếm một bằng chứng thực nghiệm cho Việt
tác giả cũng sử dụng phương pháp phân tích định lượng bằng mô hình kinh tế
lượng, phương pháp thống kê, kết hợp với các phương pháp phân tích, so sánh,
và tổng hợp trong suốt quá trình nghiên cứu.
5. Phạm vi nghiên cứu
Công trình nghiên cứu tác động của CSTT tới giá cả của Việt Nam trong
giai đoạn 1986 – 2010.
6. Kết quả nghiên cứu dự kiến
Sau khi quá trình nghiên cứu kết thúc, công trình sẽ chỉ rõ mức độ tác
động của CSTT cũng như một số nhân tố khác tới giá cả trong từng giai đoạn
của thời kỳ 1986 – 2010, tổng kết thực tiễn các tác động đó trong từng bối cảnh
http://svnckh.com.vn
8
kinh tế - xã hội của đất nước ở mỗi giai đoạn cụ thể và đề xuất các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu lực của CSTT nhằm ổn định giá cả trong thời gian sắp tới.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, kết cấu của công trình gồm ba chương
với nội dung từng chương như sau:
Chƣơng I: Lý luận chung về chính sách tiền tệ và tác động của chính
sách tiền tệ tới giá cả
Chƣơng II: Phân tích định lƣợng tác động của chính sách tiền tệ tới
giá cả ở Việt Nam trong thời kỳ Đổi Mới
Chƣơng III: Tổng kết và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu lực của
chính sách tiền tệ
CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TỚI GIÁ CẢ
1.1 Lý luận chung về chính sách tiền tệ
1.1.1 Tiền tệ và hệ thống tiền tệ
1.1.1.1 Nguồn gốc và khái niệm tiền tệ
Tiền tệ là một phạm trù kinh tế khách quan, gắn liền với sự ra đời và phát
đã tiếp nhận dịch vụ hoặc sản phẩm đó. Điều cơ bản là, xã hội và nền kinh tế vận
hành cùng với việc trao đổi, chuyển dịch sở hữu hàng hóa, chất xám lao động
thông qua phương tiện trung gian là các loại hình giấy nợ này. Sự đa dạng của
1
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà
Nội, tr. 64 – 67.
2
Frederic S. Mishkin (2004), The Economics of Money, Banking and Financial Markets, 7e, Pearson Addison –
Wesley, tr. 44.
http://svnckh.com.vn
10
các hình thức giấy nợ theo tiến trình phát triển của nền kinh tế, hình thành lên hệ
thống tiền tệ. Ở các nước phát triển, hệ thống tiền tệ bao gồm
3
:
1.1.1.2.1 Tiền mặt (Currency – C)
Tiền giấy, tiền của ngân hàng trung ương (NHTW), tiền của Nhà nước,
tiền pháp định là những tên gọi khác nhau của C. C là một khoản nợ do Nhà
nước phát ra qua NHTW khi có hàng hóa, dịch vụ hay tài sản mới phát sinh.
Tổng C trong lưu thông được gọi là cơ sở tiền tệ (monetary base - MB) hay tiền
mạnh (high powered money) gồm hai phần: tổng C do nhân dân nắm giữ và tổng
C trong kho của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) dưới hình thức dự trữ.
NHTW trực tiếp quản lý MB, và MB là cơ sở để NHTW điều tiết cung tiền (MS).
1.1.1.2.2 Tiền gửi không kỳ hạn (Demand Deposits - D) tại các NHTM
Tổng D là tổng số khả năng có thể viết séc để chi tiêu hoặc chuyển
nhượng số tiền gửi tại các tài khoản không kỳ hạn tại các NHTM. Do vậy, D còn
được gọi là tiền trong tài khoản séc (checking accounts). D chỉ tương đương với
C về số lượng khi nó được rút ra.
1.1.1.2.5 Trái phiếu ngắn hạn được mua lại của NHTM (Overnight repurchase
agreements)
Theo quy ước quốc tế, loại tiền này được viết tắt là REPO hoặc RPs.
Thông thường, các NHTM bán trái phiếu Nhà nước hoặc trái phiếu của ngân
hàng (tín phiếu) cho nhân dân để thu C trong hoàn cảnh cấp bách với thỏa thuận
sẽ mua lại nó với giá cao hơn trong khoảng thời gian rất ngắn sau đó. Loại tiền
này giúp các NHTM, các tập đoàn sản xuất giải quyết nhu cầu cấp bách về C.
http://svnckh.com.vn
12
1.1.1.2.6 Đôla Euro (Euro Dollar)
Đôla Euro rất phổ biến ở Nhật Bản, Hoa Kỳ và Châu Âu. Đây là một
chứng thư có thể được chuyển đổi dễ dàng thành đôla Mỹ (USD) khi cần thiết và
thường do các NHTM phát hành. Đôla Euro là một loại hình trái phiếu có hai
mặt được ghi rõ ngân hàng đã phát hành ra nó, nơi phát hành, ngày phát hành, số
USD tương đương với giá trị của nó, lãi suất, và ngày đáo hạn. Loại trái phiếu
này được mua bằng USD, khi đáo hạn, nó cũng được trả bằng USD. Người sở
hữu Đôla Euro cũng có thể dùng nó để mua, bán hoặc thanh toán như USD.
1.1.1.2.7 Tiền gửi trong các quỹ tín dụng của thị trường tiền tệ (Monetary
market fund deposits)
Loại tiền này được gửi tại các quỹ tiết kiệm, các quỹ tín dụng trên thị
trường tiền tệ có lãi suất khá cao, ngắn hạn và số lượng nhỏ. Người gửi được
phép viết séc để thanh toán, và trao thẳng chứng thư cho đối tác khi thanh toán.
Đối tác có thể dùng chứng thư này để bán tiếp hoặc đem đến quỹ để đổi lấy C.
1.1.1.2.8 Tài khoản gửi ở thị trường tiền tệ (Money market deposits accounts)
So với tiền gửi trong các quỹ tín dụng của thị trường tiền tệ, loại tiền này
có mức lãi suất tương đương, nhưng có thời hạn gửi dài hơn. Người gửi cũng có
quyền viết séc khi cần, với số tiền trên tấm séc được giới hạn. Chứng thư của
loại tiền này có thể được dùng để mua, bán, và thanh toán trên thị trường tiền tệ.
1.1.1.2.9 Tiền tệ theo nghĩa rộng (broader definition of money: M3)
C, vừa là tài sản sinh lãi mà việc giữ nó có ý nghĩa như một hoạt động đầu tư.
Bảng 1.1 Đo lường khối lượng tiền tệ
M0 = C
M1 = M0
http://svnckh.com.vn
14
http://svnckh.com.vn
15
Khoản 1, Điều 3, Luật NHNN Việt Nam 2010.
http://svnckh.com.vn
16
cung ứng. Vì cung tiền (MS) là đại diện cho những thay đổi của CSTT, nên trong
công trình này, MS là biến số đại diện cho CSTT trong các phân tích định lượng.
1.1.2.2 Các tác nhân tham gia thực thi CSTT
1.1.2.2.1 Ngân hàng trung ương
NHTW là một định chế được thiết lập để giám sát hệ thống ngân hàng và
điều tiết lượng tiền tệ cung ứng. NHTW là ngân hàng của các ngân hàng, là ngân
hàng duy nhất được phát hành tiền và là ngân hàng của Chính phủ thực hiện
chức năng quản lý Nhà nước về hoạt động lưu thông tiền tệ, tín dụng, ngân
hàng
6
.
NHTW là ngân hàng độc quyền phát hành tiền của Chính phủ, và đồng tiền đó
có hiệu lực pháp định sử dụng trong toàn quốc như phương tiện trao đổi. Việc
NHTW trực tiếp quản lý cung ứng C có tác động rất mạnh đến MS.
1.1.2.2.2 NHTM và các trung gian tài chính phi ngân hàng
NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ theo hướng thu hút các nguồn vốn
nhàn rỗi từ các cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế, giữ lại một phần làm dự trữ
và cho vay số còn lại. NHTM là tổ chức trung gian tài chính chủ yếu tham gia
vào quá trình thực thi CSTT, vì vậy trong công trình nghiên cứu này, tác giả tập
trung vào phân tích vai trò của NHTM. Vai trò tham gia vào việc thực thi CSTT
của các trung gian tài chính phi ngân hàng có hoạt động nhận tiền gửi và cho vay
khác sẽ hoàn toàn tương tự như các NHTM. NHTM là định chế tài chính có khả
năng tạo ra tiền gửi (deposit creation). Điều này thể hiện trên tài khoản tiền gửi
thanh toán của khách hàng tại NHTM. Từ khoản dự trữ ban đầu, thông qua hành
vi cho vay bằng chuyển khoản, hệ thống NHTM có khả năng tạo ra số tiền gửi
7
Frederic S. Mishkin (2004), The Economics of Money, Banking and Financial Markets, 7e, Pearson Addison –
Wesley, tr. 365-370.
http://svnckh.com.vn
18
100.000 (=ΔR×1) + 90.000[=ΔR×(1- r
d
)] + 81.000[=ΔR×(1- r
d
)
2
] +…
(1.1) (ΔR: số dự trữ tăng thêm ban đầu; r
d
: tỷ lệ dự trữ bắt buộc do NHTW quy
định)
(1.1) ↔ ΔD = ΔR×[1 + (1- r
r
) + (1- r
r
)
2
+ (1- r
r
)
3
+…]
↔ ΔD = ΔR× hay ΔD = ΔR× ( : hệ số mở rộng tiền gửi)
Kết quả là, tổng số tiền gửi được tạo ra là 1.000.000VND, gấp 10 lần số
Giả sử, mức nắm giữ C của nhân dân và mức nắm giữ dự trữ dôi ra của
các ngân hàng R
e
tỷ lệ thuận với mức D tại các ngân hàng. Nói cách khác, giả
định tỷ lệ giữa các đại lượng này và D là một hằng số tại trạng thái cân bằng.
Nếu ký hiệu c là tỷ lệ C trong nhân dân, r
e
là tỷ lệ dự trữ dôi ra của các ngân
hàng, và r
r
là tỷ lệ dự trữ bắt buộc, công thức (1.2) có thể được viết lại dưới dạng
như sau:
MB = r
r
× D + r
e
× D + c × D
↔ MB = (r
r
+
r
e
+ c) × D
hay D = × MB
8
(1.3)
Mặt khác, khối lượng tiền M2 được định nghĩa là:
M2 = C + D + T (T : TD và tiền gửi tiết kiệm) (1.4)
1.1.2.4 Các công cụ của CSTT
Công cụ CSTT là những phương tiện, cách thức mà các cơ quan thực hiện
CSTT sử dụng nhằm tác động đến MS để đạt được các mục tiêu của CSTT nói
riêng và mục tiêu phát triển kinh tế nói chung. Hiện nay, những công cụ CSTT
thường được NHTW sử dụng bao gồm hai nhóm. Thứ nhất, công cụ điều chỉnh
trực tiếp. Nhóm công cụ này bắt nguồn từ quyền lực quản lý của Nhà nước, can
thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanh tiền tệ của các tổ chức tín dụng, từ đó,
http://svnckh.com.vn
21
tác động trực tiếp MS. Các công cụ điều chỉnh trực tiếp thường được sử dụng bao
gồm: hạn mức tín dụng, khung lãi suất, biên độ dao động của tỷ giá mua bán
ngoại tệ, chính sách quản lý ngoại hối. Thứ hai, công cụ điều chỉnh gián tiếp.
Nhóm công cụ này không mang tính chất bắt buộc mà có tính chất định hướng
hoạt động của các tổ chức tín dụng trên thị trường tiền tệ, từ đó, tác động vào
MS. Các công cụ điều chỉnh gián tiếp thường được các NHTW sử dụng là nghiệp
vụ thị trường mở (OMO), chính sách tái chiết khấu, và dự trữ bắt buộc.
Ngày nay, NHTW của các quốc gia trên thế giới thường sử dụng các công
cụ điều chỉnh gián tiếp để thực thi CSTT vì các biện pháp này ít cứng nhắc hơn
các công cụ điều chỉnh trực tiếp. Do đó, các NHTW có thể điều tiết thị trường
tiền tệ một cách hợp lý, trách cho thị trường các cú sốc bất ngờ. Dưới đây là
phân tích chi tiết về các công cụ điều chỉnh gián tiếp của CSTT. Ảnh hưởng của
các công cụ này đến MS được phản ánh trong Bảng 1.2.
1.1.2.4.1 Nghiệp vụ thị trường mở (Open market operations – OMO)
Theo Fed, “OMO là việc mua bán các loại chứng khoán trên thị trường tài
chính được thực hiện bởi Fed, và “một OMO xảy ra khi NHTW thay đổi MB
bằng việc mua bán các loại chứng khoán tài chính trên thị trường mở
9
. Theo
NHNN Việt Nam, “OMO là nghiệp vụ mua, bán giấy tờ có giá giữa một bên là
của các NHTM. Vì vậy, khi NHTW bán (hoặc mua) các chứng khoán, nó sẽ làm
giảm (hoặc tăng) dự trữ của các NHTM, từ đó ảnh hưởng đến khả năng tạo tiền
gửi thông qua cung ứng tín dụng của hệ thống NHTM. Cụ thể, khi NHTW phát
hành (bán) các chứng khoán, nó sẽ “rút tiền” về theo cơ chế sau: tài khoản vãng
lai của người mua các chứng khoán được các NHTM ghi “Nợ” và NHTW sẽ ghi
giảm tài khoản tiền gửi dự trữ của các NHTM đó
12
. Vì tài khoản tiền gửi dự trữ
của các NHTM tại NHTW giảm xuống, nên MB giảm làm giảm MS một lượng
bằng giá trị của số chứng khoán bán ra nhân với m. Kết quả sẽ ngược lại khi
NHTW mua các chứng khoán.
1.1.2.4.2 Chính sách tái chiết khấu (Discount Policy)
OQRL4yJkkAWNoatNXlsuKM0jslJDyLXroHXM_4A9RYcIQ!!/dl3/d3/L2dJQSEvUUt3QS9ZQnZ3LzZfMEQ0
OTdGNTQwR0YyNzBJT1JFUVNBRDJTMTY!/
11
Frederic S. Mishkin (2004), The Economics of Money, Banking and Financial Markets, 7e, Pearson Addison –
Wesley, tr. 398.
12
Frederic S. Mishkin (2004), The Economics of Money, Banking and Financial Markets, 7e, Pearson Addison –
Wesley, tr. 358-364.
http://svnckh.com.vn
23
Chính sách tái chiết khấu là công cụ của NHTW trong việc thực thi CSTT
bằng cách cho các NHTM vay để đáp ứng nhu cầu C ngắn hạn hoặc bất thường.
Lãi suất mà NHTW sử dụng cho các khoản vay này là lãi suất tái chiết khấu. Khi
thực hiện nghiệp vụ, các NHTM có lúc thiếu hụt tạm thời C để giải quyết các
yêu cầu về thanh toán hoặc bù đắp lượng R
r
là một chính sách nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho các
NHTM, và cũng là một chính sách có thể sử dụng để làm thay đổi cơ cấu C trong
13
Frederic S. Mishkin (2004), The Economics of Money, Banking and Financial Markets, 7e, Pearson Addison –
Wesley, tr. 400-401.
14
Fed (2010), Reserve Requirements. Truy cập ngày 26 tháng 06 từ
http://www.federalreserve.gov/monetarypolicy/reservereq.htm
http://svnckh.com.vn
24
lưu thông. R
r
tác động đến MS theo cơ chế: r
r
tăng làm m giảm xuống, từ đó làm
MS giảm; và ngược lại.
1.1.2.5 Mục tiêu và phương thức điều tiết vĩ mô bằng CSTT
1.1.2.5.1 Mục tiêu của CSTT
mục tiêu kia. Mâu thuẫn giữa mục tiêu ổn định giá cả và mục tiêu giảm tỷ lệ thất
nghiệp trong ngắn hạn là một ví dụ điển hình. Tuy nhiên, NHTW của hầu hết các
quốc gia trên thế giới đều thừa nhận ổn định giá cả là mục tiêu cơ bản và là mục
tiêu dài hạn của CSTT
16
.
b. Mục tiêu trung gian (Intermediate Targets)
Mục tiêu trung gian là chỉ tiêu được NHTW lựa chọn để đạt được mục tiêu
cuối cùng của CSTT. Do “độ trễ” của chính sách (thông thường hơn một năm),
nên NHTW chỉ có thể thấy được sự thay đổi trong các mục tiêu trong khoảng
thời gian hơn một năm kể từ khi CSTT được thực hiện. Do đó, sẽ quá muộn để
cho NHTW phát hiện các sai lầm trong chính sách, mà các sai lầm này đang làm
CSTT xa rời mục tiêu cuối cùng.Vì vậy, nếu chờ đợi sự phản hồi từ các mục tiêu
cuối cùng, các NHTW sẽ không kịp sửa chữa các sai lầm trong CSTT mà mình
đã thực hiện. Nhằm khắc phục hạn chế này, NHTW của tất cả các nước thường
xác định các mục tiêu trung gian cần đạt được trước khi đạt được mục tiêu cuối
cùng. Các chỉ tiêu được sử dụng làm mục tiêu trung gian là khối lượng tiền cung
ứng (M1, M2 hoặc M3) hoặc lãi suất thị trường (ngắn hoặc dài hạn)
17
.
c. Mục tiêu hoạt động (Instrument/Operating Targets)
Mục tiêu hoạt động là những mục đích sách lược mà NHTW nhằm đạt tới
trong ngắn hạn. Đó là những biến tiền tệ mà NHTW có thể tác động hay kiểm
soát một cách trực tiếp bằng các công cụ CSTT, nhằm thay đổi mục tiêu trung
16
Frederic S. Mishkin (2004), The Economics of Money, Banking and Financial Markets, 7e, Pearson Addison –
Wesley, tr. 412.
17
Frederic S. Mishkin (2004), The Economics of Money, Banking and Financial Markets, 7e, Pearson Addison –