Website: Email : Tel : 0918.775.368
A: PHầN Mở ĐầU
Những thập kỉ cuối thế kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI đã chứng kiến
nhiều thay đổi lớn về mọi mặt trong đời sống kinh tế, xã hội và chính trị, đặc
biệt là những thành tựu về khoa học, công nghệ. Hoà bình, hợp tác vì sự phát
triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của nhiều quốc gia và các dân tộc
trên thế giới nhằm tập trung mọi nguồn lực u tiên cho phát triển kinh tế. Những
tiến bộ trên lĩnh vực khoa học công nghệ, nhất là công nghệ truyền thông và tin
học, càng làm tăng sự gắn kết giữa các quốc gia và các nền kinh tế. Toàn cầu
hoá và vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế khách quan. Hiện
nay trên thế giới, các quốc gia ở mức độ này hay mức độ khác đều có quan hệ
phụ thuộc lẫn nhau, vì vậy mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế là yêu cầu tất yếu
hớng tới sự phát triển của mỗi nớc.
Nhận thức đợc xu thế và yêu cầu chung đó của thời đại, Đảng và nhà nớc ta
đã chủ trơng tích cực tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, với những
bớc đi phù hợp, nhằm vợt qua những thách thức, tận dụng những cơ hội mà toàn
cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế mang lại để phát triển kinh tế-xã hội, đẩy
nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc với tinh thần : "Việt Nam
sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nớc trong cộng đồng quốc tế, phấn
đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển" .
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
SV. Phạm Thị Thu Trang 1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
B : Phần nội dung
I> To àn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là gì?
1. Tính tất yếu
Đặc trng nổi bật của toàn cầu hoá kinh tế là nền kinh tế thế giới tồn tại và
phát triển nh một chỉnh thể, trong đó mỗi quốc gia là một bộ phận, có quan hệ
Một nền công nghệ toàn cầu là cơ sở cho các quan hệ kinh tế toàn cầu phát
triển. đầu tiên là các quan hệ thơng mại. Chi phí vận tải, liên lạc càng giảm đi
thì khả năng bán hàng đi các thị trờng xa càng tăng lên, quan hệ thơng mại toàn
cầu ngày càng phát triển. Đồng thời quá trình phân công, chuyên môn hoá sản
xuất càng có thể diễn ra giữa các quốc gia và châu lục. Các linh kiện của máy
bay, ô tô, máy tính... đã có thể sản xuất ở hàng chục nớc khác nhau. Các quan
hệ sản xuất, thơng mại có tính toàn cầu đã kéo theo các dòng tiền tệ, vốn, dịch
vụ... vận động trên phạm vi toàn cầu. Ngày nay lợng buôn bán tiền tệ toàn cầu
một ngày đã vợt quá 1500 tỷ USD . thơng mại điện tử xuất hiện với kim ngạch
ngày càng tăng và đang trở thành một loại hình buôn bán toàn cầu đầy triển
vọng.
c. Những vấn đề toàn cầu ngày càng xuất hiện nhiều, trở nên bức xúc và
ngày càng đòi hỏi phải có sự phối hợp toàn cầu của các quốc gia
Chúng ta có thể kể ra hàng loạt các vấn đề toàn cầu nh : thơng mại, đầu t,
tiền tệ, dân số, lơng thực, năng lợng, môi trờng... Môi trờng toàn cầu ngày càng
trở nên ô nhiễm trầm trọng; các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng bị cạn
kiệt; dân số thế giới gia tăng một cách chóng mặt trở thành một thách thức toàn
cầu; các dòng vốn toàn cầu vận động tự do không có sự điều tiết đã làm nảy
sinh các cuộc khủng hoảng liên tiếp ở châu Âu, châu Mỹ, châu á trong thập kỷ
90. Chính vì vậy mà cần có sự phối hợp toàn cầu để đối phó với các thách thức
đó.
Ngoài ba căn cứ chính trên đây thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá phát triển,
còn có thể kể đến các căn cứ khác nh: chiến tranh lạnh chấm dứt đầu thập kỷ
90 đã kết thúc sự đối lập giữa các siêu cờng, tạo ra một thời kỳ hoà bình hợp tác
và phát triển mới.
SV. Phạm Thị Thu Trang 3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nh vậy toàn cầu hoá là xu thế tất yếu biểu hiện sự phát triển nhảy vọt của
quan hệ sản xuất do phân công lao động quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng
trên phạm vi toàn cầu dới tác động của cách mạng khoa học công nghệ và tích
nối thế giới.Thơng mại phát triển khiến thị trờng thế giới thống nhất hơn, xu
thế thống nhất lại đòi hỏi loại bỏ các hàng rào thơng mại.
Thứ ba, toàn cầu hoá thúc đẩy quá trình nhất thể hoá kinh tế phát triển nhanh
chóng, trao đổi kinh tế giữa các khu vực ngày càng quan trọng, tăng thêm sự
phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế và các khu vực kinh tế. Theo thống kê
của Liên hợp quốc trong những năm 60 có khoảng 19 tổ chức nhất thể hoá kinh
tế khu vực, những năm 70 có 28 tổ chức, những năm 80 con số này là 32 và
những năm 90 đã lên tới gần 60 tổ chức với hơn 160 nớc tham gia với các loại
hình và mức độ khác nhau. Sự gia tăng các tổ chức nhất thể hoá kinh tế đã góp
phần thúc đẩy nhanh quá trình toàn cầu hoá kinh tế, việc giao lu trao đổi các
hoạt động kinh tế để tìm kiếm lợi ích giữa các nền kinh tế, các khu vực kinh tế
ngày một gia tăng, khiến cho nền kinh tế mỗi quốc gia, mỗi khu vực trở thành
một bộ phận của kinh tế thế giới, hình thành một cục diện kinh tế thế giới mới.
Một cục diện trong đó các thành viên tồn tại trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu
tranh với nhau, cùng phát triển. Nó cho phép giảm thiểu các chớng ngại trong
việc lu chuyển vốn, hàng hoá, dịch vụ, nguồn nhân lực ... giữa các nền kinh tế,
các khu vực kinh tế, làm tăng vai trò kinh tế đối ngoại, mậu dịch và đầu t nớc
ngoài đối với sự phát triển kinh tế của mỗi nớc, làm cho việc phân bố các
nguồn lực trên thế giới hợp lý và có hiệu quả hơn.
Thứ t, với sự gia tăng của quá trình toàn cầu hoá kinh tế, hàng rào phi thuế
quan sẽ thịnh hành hơn. trong quá trình toàn cầu hoá kinh tế, mỗi nền kinh tế
phải tính toán chiến lợc để đẩm bảo an toàn vế kinh tế, chính trị, xã hội và an
ninh quốc gia, vì thế hàng rào phi thuế quan sẽ là công cụ đợc a chuộng hơn cả.
hiện nay đã có hơn 1000 loại hàng rào phi thuế quan. Song theo dự đoán của
các chuyên gia kinh tế, loại hình hàng rào phi thuế quan sẽ còn phát triển mạnh
trong thập kỷ tới, mà chủ yếu tập trung trên các phơng diện nh : hàng rào bảo
vệ môi trờng ; hàn rào thông tin; hàng rào công nghệ thơng mại...
Thứ năm, toàn cầu hoá sẽ làm gia tăng tỷ trọng các loại hình đầu t vào lĩnh
vực dịch vụ. Đầu những năm 90, có khoảng 50,17% vốn đầu t nớc ngoài của
SV. Phạm Thị Thu Trang 5
quan hệ, sử dụng vũ khí lơng thực, công nghệ, tài chính, tiền tệ... chính trị hoá
SV. Phạm Thị Thu Trang 6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
các vấn đề kinh tế. Theo thống kê của chính phủ Mỹ, kể từ sau chiến tranh thế
giới thứ hai đến nay Mỹ đã thực hiện 115 lần cấm vận đối với các nớc khác.
Hiện nay có 75 nớc với 52% dân số thế giới chịu cấm vận của dới nhiều hình
thức khác nhau mà phần lớn trong đó do Mỹ đơn phơng cấm vận. Nớc Mỹ dựa
vào sức mạnh kinh tế để xâm phạm chủ quyền các nớc, mà gần đây nhất là
chính quyền của tổng thống Bush phát động cuộc chiến tranh chống Irăc dù
không hề có một bằng chứng rõ ràng nào về việc Irăc sản xuất vũ khí hạt nhân.
Nh vậy trong quá trình toàn cầu hoá Mỹ, Nhật Bản và một số nớc châu Âu với
vị thế là cờng quốc kinh tế các nớc này có thể áp đặt nhiều quy tắc chuẩn mực
buộc các nớc khác phải tuân theo.
Thứ hai, độc lập chủ quyền quố gia chỉ là tơng đối, nhợng bộ chủ quyền là
điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, mức độ và phạm vi nhợng bộ sẽ khác nhau, tuỳ
điều kiện và quan điểm của từng nớc. Các nớc đang phát triển, do yếu kém về
kinh tế, để nhận đợc viện trợ buộc phải nhợng bộ một phần chủ quyền.
Thứ ba, những nhân tố không ổn định trên phạm vi thế giới có thể sẽ gia
tăng. Lợi ích của các nớc nhỏ, nớc yếu bị tổn hại, vì vậy các hình thức phản đối
toàn cầu hoá ngày một gia tăng nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc. Các nhân
tố không ổn điịnh trong các nớc nghèo nh nội chiến, đảo chính, biến động
chính trị, bạo lực, tội phạm ... khó có thể đợc giải quyết triệt để. Hơn nữa, sức
mạnh kinh tế bên ngoài chi phối, và sự tranh giành kiếm lời của các thế lực
càng tạo thêm những khó khăn ngày một nhiều hơn.Chúng ta có thể thấy rõ
biểu hiện này qua các cuộc biểu tình của các tổ chức phản đối toàn cầu hoá với
đông đảo thành viên tham gia, những hành động khủng bố, mà tiêu biểu là vụ
khủng bố ngày 11/9/2001 tại toà nhà thơng mại thế giới (WTC) NewYork
Mỹ.
Từ những phân tích trên ta có thể thấy rằng ngoài những yếu tố tích cực, toàn
cầu hoá cũng là một quá trình chứa đầy những nguy cơ: xu hớng thống trị thế
khu vực ra đời đã có những tác động quan trọng; thúc đẩy tự do hoá thơng mại
đầu t; thúc đẩy quá trình mở cửa thị trờng các quốc gia, tạo lập ra những thị tr-
ờng khu vực rộng lớn, thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá tiến triển.
SV. Phạm Thị Thu Trang 8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
c. Những tổ chức kinh tế toàn cầu
Các tổ chức kinh tế có tác dụng điều chỉnh các quan hệ kinh tế toàn cầu có:
Tổ chức thơng mại thế giới(WTO), Quỹ tiền tệ quốc tế(IMF), Ngân hàng thế
giới(WB) và một số tổ chức kinh tế của liên hợp quốc nh UNDP, G8 ... Tuy
nhiên phải thừa nhận rằng cho đến nay mới chỉ có những cam kết quốc tế về
mặt thơng mại là có tơng đối có hiệu lực hơn cả, còn nhiều lĩnh vực cần có
những luật lệ toàn cầu hữu hiệu nh: chính sách tiền, đầu t chu chuyển vốn, bảo
vệ môi trờng, các tiêu chuẩn về lao động và di chuyển lao động quốc tế... hiện
nay cha có các cam kết toàn cầu mang tính luật pháp. Những hoạt động của
IMF và WB mới chỉ kiểm soát đợc phần nào dòng, vốn, tiền tệ chính thức của
Nhà nớc còn các dòng vốn t nhân vẫn vận động bên ngoài các vòng kiểm soát.
Các tổ chức kinh doanh toàn cầu hiện nay là những công ty xuyên quốc gia
đang mở rộng hoạt động khắp các châu lục với số lợng ngày một tăng. Hiện có
60.000 công ty xuyên quốc gia với 500.000 chi nhánh , nắm 25% sản xuất thế
giới, kiểm soát 50% mậu dịch quốc tế ; trên 90% vốn đầu t trực tiếp, trên 80%
bản quyền kỹ thuật và công nghệ mới. Có thể nói nếu các nớc không có các
công ty xuyên quốc gia của mình thì sự hội nhập quốc tế sẽ bị hạn chế chỉ ở
hoạt động xuất nhập khẩu, thu hút các công ty nớc ngoài vào nớc mình. Sự
khiếm khuyết này sẽ làm giảm lợi thế so sánh của các quốc gia. Có thể dự báo
là trong một nền kinh tế toàn cầu thống nhất trong tơng lai các công ty xuyên
quốc gia sẽ là hình thức doanh nghiệp cơ bản.
Ngoài những hình thức hội nhập quốc tế trên, ngời ta còn thấy ngững tam
giác, tứ giác vùng ; những thành phố cảng tự do nh Hồng Kông, Singapo... là
những khu vực mở cửa tự do cho tất cả các công ty của mọi nớc đến hoạt động
v.v..
SV. Phạm Thị Thu Trang 10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần mở rộng thị trờng xuất, nhập khẩu của
Việt Nam , quan hệ bạn hàng đợc mở rộng. Việc đợc hởng những u đãi về thuế
quan và xoá bỏ hàng rào phi thuế quan và các chế độ đãi ngộ khác nh tối huệ
quốc và đối xử quốc gia, đã tạo điều kiện cho hàng hoá Việt Nam thâm nhập thị
trờng thế giới. Chỉ tính trong phạm vi khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)
kim ngạch xuất khẩu của ta sang các nớc thành viên cũng đã tăng lên đáng kể.
Nếu nh xuất khẩu sang các nớc ASEAN của ta năm 1990 đạt 348,6 triệu USD
thì năm 1996 đạt 1777,5 triệu USD và năm 1998 đạt 2349 triệu USD. Kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nớc thành viên APEC, ASEM tăng lên
đáng kể. Đến nay, ta đã mở rộng quan hệ thơng mại với trên 150 nớc và lãnh
thổ trên thế giới.
Hội nhập kinh tế quốc tế cũng góp phần tăng thu hút vốn đầu t nớc ngoài,
viện trợ phát triển chính thức và giải quyết vấn đề nợ quốc tế. Hiện đã có trên
70 nớc và vùng lãnh thổ có dự án đầu t vào Việt Nam, trong đó có nhiều công
ty và tập đoàn lớn có công nghệ tiên tiến. Điều này góp phần làm chuyển dịch
cơ cấu kinh tế trông nớc theo hớng công nghiệp, phát triển lực lợng sản xuất và
tạo thêm công ăn việc làm. Vốn đầu t nớc ngoài trong giai đoạn 1991-1995
chiếm 25,7% và từ năm 1995 đến nay chiếm gần 30% tổng vốn đầu t xã hội.
Hội nhập kinh tế quốc tế còn góp phần giải quyết tốt vấn đề nợ nớc ngoài
của Việt Nam. Trong những năm qua, nhờ phát triển tốt các mối quan hệ đối
ngoại song phơng, đa phơng các khoản nợ nớc ngoài cũ của Việt Nam về cơ
bản đã đựơc giải quyết thông qua câu lạc bộ Paris, London và đàm phán song
phơng. điều đó góp phần ổn định các cân thu chi ngân sách, tập trung nguồn
lực cho các chơng trình phát triển kinh tế xã hội trong nớc.
Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo điều kiện cho ta tiếp thu khoa học
công nghệ tiên tiến, đào tạo cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh. Trong những
thập niên qua, cuộc cách mạng khoa họ kỹ thuật, nhất là công nghệ thông tin và
viễn thông phát triển mạnh, làm thay đổi bộ mặt kinh tế thế giới và đã tạo điều