Phạm Văn Tùng - Lớp KTPT 44B ĐHKTQD
lời mở đầu.
Toàn cầu hoá làtất yếu đợc dự đoán từ lâu. Về logic, xu hớng này bắt nguồn từ nền
kinh tế thị trờnglà hệ thống 'ở' ,không bị giới hạn bởi các đờng biên giới quốc gia và gianh
giới dân tộc,chủng tộ và tôn giáo. Sự gia tăng mạnh mẽ của toàn cầu hoá kinh tế đặt yêu cầu
đòi hỏi các quốc gia phải có chiến lợc phù hợp vào nền kinh té khu vực và thế giới . Việt
nam cũng không ngoại lệ, sau hai cuôc chiến tranh tàn khốc nền kinh tế nớc ta lâm vao
khủng hoảng ngiêm trọng, từ năm1986 đảng và nhà nớc ta đã thực hiện chính sách đổi
mới, đa nền kinh tế nớc ta phát triển theo con đờng XHCN bắt kịp sự phát triển của các nớc
trên thế giới.
Là sinh viên của trờng đại học KTQD nhận thấy toàn cầu hoá là một xu thế khách
quoan , ngày càng cuốn hút nhiều nớc trên thế giới tham gia với những mức độ không
giốngnhau . Nớc ta đang xây dựng CNXHtrong bối cảnh toàn cầu hoá về kinh tế do CNTB
chi phối nó sẽ tác động nh thế nào đến chính trị , văn hoá ,xã hội của nớc ta, đồng thời em
cũng muốn tìm hiểu những chủ trơng ,chính sách của đảng và nhà nớc ta
Trong tình hình mới. Tìm hiểu về vấn đề toàn cầu hoá , quá trình hội nhập của việt
nam nhầm định hớnh cho em về cái nhìn tổng thể về tình hình trong nớc và thế giới , trớc
mắt là phục vụ cho công viêc học tâp , sau nữa việc định hớng công việc phù hợp với nhu
cầu tình hình của nớc ta khi em ra trờng . chính vì thế em chọn đề tài : Chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế ,nhiệm vụ và trọng tâm của nớc ta hiên nay .
Trong bài làm tuy rất cố gấng tìm tài liều và nghiên cứu trớc khi viết nh không thể
không có những sai sót và những nội dung phân tích còn thiếu sót , và sơ sài mong thầy góp
ý để em hoàn thiện đề án của mình.1
Ph¹m V¨n Tïng - Líp KTPT 44B §HKTQD
2/ Một số vấn đề toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế :
2.1. Khái niệm về toàn cầu hoá kinh tế:
Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan ngày càng cuốn hút nhiều nước trên thế
hàng chục”.
Quá trình quốc tế hoá lực lượng sản xuất đã dẫn tới sự thay đổi chỉnh thể đời sống xã hội,
hình thành nên lịch sử thế giới. Lịch sử thế giới không chỉ đánh dấu bằng cuộc “cách mạng
kỹ thuật”, “cách mạng cộng nghiệp”, mà bao gồm cả cuộc “cách mạng xã hội” làm biến đổi
toàn diện mạo của đời sống xã hội. Trong điều kiện đó, không chỉ sản xuất tiêu dùng, mà cả
sự phát triển của khoa học kỹ thuật, văn hoá, tinh thần cũng có tính chất quốc tế.Trong khuôn
khổ của quan hệ sản xuất TBCN thì quá trình này thực là quá trình quốc tế hoá tư bản mà
động lực bên trong thôi thúc nó là chiếm đoạt lợi nhuận. Mác và Ăng-ghen chỉ rõ “vì luôn
luôn bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ sản phẩm, giai cấp tư sản xâm lấn khắp
hoàn cầu. Nó phải xâm nhập vào khắp nơi, trụ lại khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ ở
khắp nơi.
2.2/ Thế nào là hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực:
Đại hội lần I của đảng đã khẳng định một chủ trương lớn là: chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế,
bảo đảm độc lập tư chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc
2
Ph¹m V¨n Tïng - Líp KTPT 44B §HKTQD
gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc bảo vệ môi trường. Nhằmcụ thể hoá chủ trương trên,
tháng 11-2001, Bộ chính trị trung ương Đảng đã ra nghị quyết về hội nhập kinh tế quốc tế.
Trên thực tế nước ta đã hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới với việc tham gia khu vực
mậu dịch tự do ÁEAN (AFTA). Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC).
Diễn đàn hợp tác Á – Âu (AFEM), và trong những ngày này đang tiến hành đàm phán thực
chất để tham gia nhập Tổ chức Thương Mại thế giới (WTO). Hơn thế nữa xuất khẩu, đầu tư
và tài trợ phát triển nước ngoài nay đã chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng sản phẩm quốc nội
và vốn đầu tư xã hội, thu ngân sách .
Nghị quyết Bộ chính Trị về hội nhập kinh tế quốc tế đã chỉ rõ mục tiêu, quan điểm chỉ đạo
và những việc cần làm để hội nhập thành công. Nghị quyết cho rằng :Hội nhập kinh tế quốc
tế và khu vực là gắn liền nền kinh tế của nước mìnhvới nèn kinh tế khu vực và thế giới, tham
ra vào sự phân công lao động quốc tế, gia nhập cấc tổ chức kinh tế đa phương, chấp
nhận,tuân thủ những quy định chung dược hình thàn trong quá trình hợp tác và đấu tranh giữa
dùng của các nước mang tính chất thế giới ”; “Thay cho tình trạng cô lập trước kia của các
đia phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ
thuộc phổ bién giữa các dân tộc”; “Nhờ cải thiện mau chóng công cụ sản xuất và làm cho các
phương tiện giao thông trở nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản lôi cuốn đến cả những dân tộc
dã man nhất vào trao lưu văn minh. Giá rẻ của những sản phẩm của giai cấp là trọng pháo bắn
thủng tất cả những bức tường thành và buộc những người bài ngoại một cách ngoan cường
nhất cũng phải hàng phục”.
3
Ph¹m V¨n Tïng - Líp KTPT 44B §HKTQD
Như vậy, toàn cầu hoá kinh tế là kết quả tất yếu của quá trình xã hội hoá sản xuất, của tốc
độ phát triển nhanh của lực lượng sản xuất, bắt nguồn từ sự thúc đẩy khoa học, kỹ thuật và
công nghệ hiện đại; đó la kết quả tất yếu của sự phát triển sâu rộng nền kinh tế thị trường trên
phạm vi toàn thế giới, sự gia tăng phân công lao động quốc tế, sự mở rộng hơn nữa trong
không gian và thời gian các mối quan hệ giao lưu phổ biến của loài người và sự xuất hiện
những vấn đề toàn cầu cấp bách. Nói cách khác, nó là kết quả các quá trình tích luỹ về số
lượng đã tạo ra một khối lượng tới hạn để lương biến thành chất mới; Xu hướng toàn cầu hoá
trong thời đại ngày nay. Nó là một trong những xu thế lịch sử tất yếu do quy luật phat triển
của lực lượng sản xuất chi phối không thể đảo ngược, cũng không thể chối từ.
Toàn cầu hoá kinh tế sở dĩ có sức mạnh to lớn như vậy vì nó mang tính khách quan gắn
liền với xu thế vận động, phát triển của nền sản xuất xã hội. Tuy nhiên cái khách quan đó phải
được thể hiẹn thông qua hoạt động chủ quan của con người. Nói cách khác nó là quá trình
thống nhất của cái khách quan và cái chủ quan, là thể hiện phép biện chứng của khách quan
và chủ quan, không thể phủ nhận rằng toàn cầu hoá kinh tế như nó đang diễn ra hiện nay đang
bị các nước tư bản phát triển chi phối, thao úng, thúc đẩy vì lợi ích của mình. Tuy nhiên cũng
cần nhận thấy rằng, toàn cầu hoá kinh tế hiện nay về bản chất không hoàn toàn thuộc về
CNTB, cũng không hoàn toàn thuộc về một số nước Tư Bản phát triển ở phương tây, mà là
yêu cầu nội tại để lực lượng sản xuất phat triển của loài ngưòi phát triển. Lực lượng sản xuất
phát triển tất yếu đòi hỏi một quan hệ sản xuất tương thích với nó. Nhưng quá trình toàn cầu
hoá khinh tế mà các nước này khởi xướng hiện nay chỉ là mượn toàn cầu hoá của lực lượng
sản xuất để đẩy mạnh toàn cầu hoá quan hệ sản xuất TBCN. Đây là quá trình áp đặt lợi ích và
4
Ph¹m V¨n Tïng - Líp KTPT 44B §HKTQD
2001-2005 ”. Nghị quyết đã chỉ ra nguyên tắc đảm bảo cho quá trình hội nhập, đất nước ngày
càng ổn định phát triển như: Phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế,
của toàn xã hội, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo; hợp tác kinh tế quốc tế là quá
trinh vừa hợp tác vừa đấu tranh và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít những thách
thức, do đó cần tỉnh táo, khôn khoé và linh hoạt trong xử lý hai mặt của hội nhập tuỳ theo đối
tượng, vấn đề, trường hợp, đối tượng cụ thể, xây dụng kế hoạch lộ trình hợp lý, phù hợp với
trình độ phát triển của đất nước vừa dáp ứng quy định của các tổ chức quốc tế mà Việt Nam
tham ra, Tranh thủ những ưu đãi cho các nước phát triển; kết hợp chặt chẽ với yêu cầu giữ
vững an ninh, quốc phòng, cảnh giác với những âm mưu thông qua hội nhập để thực hiện ý
đồ “diễn biến hoà bình” đối với Việt Nam
Để thực hiện chủ trương “phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên
gnoài và chủ dộng hội hnập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh có hiểu quả và bền vững “đã
nêu trong nghị quết Đại hội đảng cộng sản Việt Nam lần IX .Ngày 27-2-2002. Uỷ ban quốc
gia về hợp tác kinh tế phối hợp với chương trình phát triển liên hợp quốc( UNDP) tổ chức hội
thảo: “hội nhập kinh tế của Việt Nam và hộ trợ của cộng đồng quốc tế”. Hội nghị đã báo cáo
về hõ trợ kỹ thuật của cộng đồng quốc tế cho Việt Nam trong những năm qua; ghi nhận
nhưng nổ lực của Việt Nam trong công cuộc đổi mới nền kinh tế phù hợp với xu hướng của
nền kinh tế thế giới; nhất trí nổ lực hổ trở kỹ thuật nhiều hơn nữa cho Việt Nam để tiếp tục cải
cách kinh tế, cải tiến khung pháp lý, nâng cao sức canh tranh cho doanh nghiệp và hàng hoá,
thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài để đáp ứng thách thức nảy sinh trong quá trình hội nhập.
Việt Nam là một nước đang phát triển, tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta sẽ có
thêm nhiều cơ hội mới để phát triển đó là:
Được tận dụng các nguyên tắc phi kỳ và cạnh tranh công bằng để bảo vệ mình; được
hưởng những ưu đãi dành cho nước đang phát triển, ưu đãi về thuế quan, được cung cấp
thông tin về tự do hoá mậu dịch, về quy tắc kỹ thuật, thủ tục hải quan, các tiêu chuẩn thuế...
Đây là cơ hội mở rộng thị trường và loại bỏ những thiệt thòi khi chưa gia hâp các tổ chức
kinh tế quốc tế.
Có cơ hội chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân trên cơ sở phát huy lơi thế so sánh
Mianma. Tuy vậy nếu xét về yếu tố nguồn lực, lợi thế của Việt Nam không thua kém
TháiLan, thậm chí còn vượt Inđonexia và Singapore, chỉ số HDI của Việt Nam tuy chưa cao
so với thế giới chỉ đạt 0,56 xong nếu so với các quốc gia có thu nhập tương ứng thì Việt Nam
thuộc nhóm cao hơn. Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo cơ hội để nguồn lực của nước ta khai
thông, giao lưu với thế giới bên ngoài. Việt Nam đã xuất khẩu lao động qua các hợp đồng gia
công chế biến hàng xuất khẩu và nhập khẩu lao động lao động kỹ thuật cao, công nghệ mới
nhất rất cần thiết. Như vậy với lợi thế nhất định về nguồn lao động cho phép lựa cọn dạng
hình phù hợp tham gia vào hội nhập và quá trình hội nhập đã tạo điều kiện nâng cao chất
lượng nguồn lao động ở Việt Nam.
Việt Nam đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện đất nước hoà bình,
chính trị- Xã hội ổn định. Đây là cơ hội rất quan trọng để tập trung phát triển kinh tế, mở rộng
quan hệ đối ngoại. Chính trị-Xã hội ổn định là bộ loc quan trọng trong quá trình giao lưu hội
nhập, hơn nữa nó bảo đảm vai trò định hướng trong hội nhập quốc tế.
Mặc dù kinh tế của Việt Nam chưa phát triển nhưng nước ta hội nhập không phải với hai
bàn tay trắng, ngoài nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực cùng với sự ổn định về
chính trị xã hội, Việt Nam cũng đã có kinh nghiệm nhất định sau hơn 17 năm đổi mới hội
nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Bên cạnh những cơ hội thì chúng ta còn đứng trước nhiều khó khăn thách thức gay gắt
như:
Tiềm lực vật chất của Việt Nam còn yếu, nguồn nhân lực nói chung có trình độ thấp và kỹ
năng không cao, điều này khiến cho việc tham gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế
gặp nhiều bất cập. Khó khăn này thể hiện ở chỗ năng lực tiềp nhận công nghệ yếu, khó phát
huy lợi thế của nước đi sau trong việc tiếp nhận các nguồn lực có sẵn từ bên ngoài để nâng
cao cơ sở hạ tầng kỹ thuật; dẫn tới nguy cơ Việt Nam có thể trở thành “Bãi rác ”của công
nghệ lạc hậu.
Sức cạnh tranh, đặc biệt là của các sản phẩm công nghiệp Việt Nam quá thấp, do đó Việt
Nam gặp nhiều khó khăn trong việc cũng cố và phát triển các thị trường mới trong điều kiện
nhiều nước đang phát triển cùng chọn chiến lược tăng cường hướng về xuất khẩu nên Việt
Nam sẽ bị áp lực cạnh tranh ngay tại thị trường nội địa, việc mở cửa thị trường nội địa theo
AFTA, WTO có thể biến Việt Nam thành thị trường tiêu thụ sản phẩm nước ngoài nếu các
Trên thị trường thế giới hàng xuất khẩu của ta chủ yếu vẫn còn các loại nguyên liệu thô,
các sản phẩm sơ chế như: Dầu thô,gạo, cà phê, chè, cao su,... Đây là nnhững mặt hàng rất dễ
bị tác động sấu về giá cả chẳng hạn năm 1998 tuy xuất khẩu được 12,1 triệu tấn dầu thô, vượt
rất xa so với mức 9,8 triệu tấn năm 1997.
Cuộc khủng hoảng kinh tế- Tài chính vừa qua tại các nước trong cùng khu vực có sức tàn
phá lớn, đồng nội tệ của các nước này bị sụt giá rất nhanh so với các đồng ngoại tệ mạnh, làm
cuốn đi các nổ lực của nhiều năm xuất khẩu, hoạt động ngoại thương và thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài bị suy giảm. Nhưng sau “cơn bão” khủng hoảng, sự mất giá của đồng nội tệ
lại làm tăng sức cạng tranh của hàng xuất khẩu của các nước này. Trong khi đó, đồng tiền
Việt Nam vẫn tương đối ổn định tỷ giá so với các đồng ngoại tệ mạnh cũng làm cho sức cạnh
tranh của hàng hoá của ta phải chịu những thách thức gay gắt bất lợi.
Về văn hoá:
Hiện nay, xu thế toàn cầu hoá về kinh tế và quá trình hội nhập kinh tế thế giới đang diễn ra
ở mọi quốc gia. Tình hình đó đặt nền văn hoá của mỗi dân tộc trước những biến động lớn,
phải chăng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các nền văn hoá dân tộc sẽ trở nên đồng
nhất, mất hết bản sắc của mình?
Nhưng cuộc sống vẫn có quy luật của nó. Hội nhập kinh tế htế giới là một quá trình liên
kết; thường xuyên diễn ra sự đồng hoá và dị hoá. Khả năng đồng hoá và dị hoá này không chỉ
phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế mỗi nước, mà chủ yếu tuỳ thuộc vào bản lĩnh văn
hoá và sức sống của mỗi dân tộc. Vì vậy văn hoá dân tộc có vai trò cực kỳ quan trọng trong
hội nhập kinh tế thế giới.
Xu thế toàn cầu hoá là nhằm đạt đến sự liên thông về kinh tế. Giữa các quốc gia, dân tộc
đòi hỏi một sự giao thoa lớn hơn giữa các giá trị văn hoá trên phạm vi toàn cầu. Như một tất
yếu quá trình đó đang diễn ra ở nước ta, đặc biệt là từ khi chúng ta thực hiện công cuộc đổi
mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cùng với những thay đổi tích cực tạo nên nhiều
thành tựu trên lĩnh vực kinh tế và diễn biến sôi động trên lĩnh văn hoá. Do tác động của toàn
cầu hoá, hoạt động giáo duc- đào tạo đang đứng trước yêu cầu có tính bức xúc: Phải phát
triển nhanh về quy mopo và chất lượng; cần phải cải tiến về nội dung chương trình, về
phương pháp dạy và học phải có nhiều loại hình trường lớp; cần phải sử dụng công nghệ hiện
đại vào giáo dục. Và một quan điểm mới: Tri thức là tài sản và là sức mạnh đang dần hình
Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, nhất quán ổn định. Điều đó có nghĩa là hhệ thống các
văn bản pháp quy phải bao quat điều tiết được mọi khía cạnh của hoạnh động sản xuất, kinh
doanh. Các diiêù khoản pháp luật phải nhất quán, không chồng chéo, mâu thuẫn, thậm chí
triệt tiêu lẫn nhau. Chúng phải rõ ràng,không thể hiểu khác nhau mà vận dụng tuỳ tiện. Các
quy định của pháp luật cần tương đối ổn định; nếu cần thay đổi theo một chiều hướng nhất
quán, các nhà kinh doanh dễ tiên liệu. Trong điều kiện hội nhập nền kinh tế quốc tế, hệ thống
pháp luật về kinh tế còn cần phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế.
Kết cấu hạ tầng(đương xá, phương tiện giao thông, hệ thống điện nước, viễn thông... )
tương đối hoàn chỉnh với cước phí cạnh tranh so với các nước khác, chí ít là các nước trong
khu vực là một tiêu chuẩn không thể thiếu được đối với khả năng cạnh tranh đối với các sản
phẩm và doanh nghiệp; nếu ngược lại thì giá thành sẽ bị đổi lên cao, khó bề ganh đua với các
nước khác.
Bên cạnh đó một hệ thống ngân hàng hữu hiệu, đáng tin cậy một tỷ giá hối đoái có sức
cạnh tranh; một chính sách tài chính- thuế má hợp lý cũng là những nhân tố rất quan trọng đối
với khả năng cạnh tranh của mỗi quốc gia.
Một hệ thống hành chính vận hành suôn sẽ, một đội ngũ công chức vừa thành thạo nghiệp
vụ, vừa mẫn cán, trong sạch. Bên cạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng trong đội ngũ công
chức, đặt cao yêu cầu tinh thông nghiệp vụ vì tiếc rằng do nhiều lẽ, trong đó có phương pháp
đào tạo và sử dung cán bộ, nước ta có rất nhiều những công chức thành thạo công việc, kể cả
những công việc bình dị như văn thư hành chính. Điều này gây phiền toá rất nhiều cho các
doanh nghiệp và làm mất đi tính hấp dẫn của môi trường kinh doanh của đất nước.
8
Ph¹m V¨n Tïng - Líp KTPT 44B §HKTQD
3/ T×nh tr¹ng héi nhËp:
3.1 / Quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam.
3.1.1/ Bối cảnh quốc tế và khu vực liên quan tới chủ trương hôi nhập kinh tế
quốc tế :
Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã xác định nhiệm vụ “ mở rộng quan hệ kinh tế đối
ngoại, chủ động tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và nâng cao vị thế nước ta
trên trường quốc tế”. Đại hội lần thứ IX khẳng định chủ trương “phát huy cao độ nội lực,
Độ,Mỹ…và cả một số nước vốn “khép kín’’,theo mô hình tự cung tự cấp cũng dần mở cửa ,
từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực.
Mặt khác,công đồn thế giới đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu: suy thoái môi trường
,bùng nổ dân số,nghèo đói, các bệnh tật hiểm nghèo,các vấn đề xã hội, “xuyên quốc gia”
…,không một quố gia riêng lẻ nào có thế giái quyết đượ mà cần phải có sự hợp tác đa
phương.
Tình hình trên làm nảy sinh và thúc đẩy su thế hội nhập để phát triển.Trong xu thế hội
chung đó,các nước công nghiệp phát triển,trước hết là mỹ,do có ưu thế về thị trường ,nắm
được tiến bộ khoa học-công nghệ, có nền kinh tế phát triển cao, đã ra sức thao túng, chi phối
thị trường thế giới, apđặt điều kiện với các nướcchậm phát triển hơn, thậm chí dùng những
biện pháp thô bạo như bao vây, cấm vận, trừng phạt , làm thiệt hại lợi ích của các nước đang
phát triển đã từng bước tập hợp nhau lại, đấu tranh chống chính sách cườngquyền áp đặt của
9
Ph¹m V¨n Tïng - Líp KTPT 44B §HKTQD
Mỹ để bảo vệ lợi ích của mình vì trật tự kinh tế qúc tế bình đẳng, công bằng. Điều đó chứng
tỏ xu thế hội nhập phản ánh cục diện vừa đẩy mạnh hợp tác, vừa đấu tranh khốc liệt.
3 Ở khu vực Đông –Nam Á đã diễn ra nhiều biến đổi sâu sắc,. sau nhiều thập kỷ chiến
tranh, đối đầu, Đông –Nam Á đã hòa bình, tuy còn tiềm ẩn một số nhân tố có thể gây bất ổn
định, xu thế hợp tác để phát triển không ngừng gia tăng, mặc dù trải qua cuộc khủng hoảng
kinh tế-tài chính trầm trọng thời gian 1997-1998, song đây vẫn là khu vực có nhiều tiềm năng
do vị trí địa – chính trị và địa –kinh tế của mình, dung lượng thị trường lớn, taì nguyên phong
phú, lao động dồi dào, được đào tạo tốt, có quan hệ quốc tế roọng rãi.
3.1.2/ Quá trình hội nhập với nền kinh tế quốc tế :kết quả và tồn tại
Các chủ trương tại đại hội lần thứ VIII, Hội nghị lần thứ tư ban chấp hành Trung
ương (khóa VIII) và tại đại hội lần IX đều phản ánh một quan điểm nhất quán của Đảng ta là,
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi
với chủ động mở rộng sự hợp tác quốc té trên cả cơ sở song phương lẫn đa phương. Không
phải bây giờ chúng ta mới hội nhập. trong lời kêu gọi liên hợp quốc (tháng 12 năm 1946), hủ
ticg Hồ Chí Minh nêu rõ chính sách đối ngoai của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, trong
đó có những điểm mà trong bối cảnh hiện nay, tavẫn thâý rất đúng , nước Việt Nam sẵn sàng
4. Tranh thủ được nguồn viện trợ phát triển chính thức(ODA) ngày càng lớn đồng thời
giảm đáng kể nợ nước ngoài.
Từ năm 1993, hàng năm đều có hội nghị các nhà tài trợ cho nước ngoài gồm một số nước và
một số định chế tài chính-Tiền tệ quốc tế. Cho đến nay các nhà tài chợ đã cam kết dành cho
10
Ph¹m V¨n Tïng - Líp KTPT 44B §HKTQD
nươc ta gần 20 tỷ USD chủ yếu là cho vay yêu đãi với lãi suất từ 0,75%-2,75% tùy theo mỗi
đối tác; một phần là viện chợ không hoàn lại.
5. Tiếp thu khoa học và công nghệ, kỹ năng quản lý, góp phần đào tạo một đội ngũ cán
bộ quản lý và cán bộ kinh doanh năng động và sáng tạo.
Quá trình hội nhập vòa nền kinh tế quốc tế đã tọa cơ hội để Việt Nam tiếp cận với những
thành quả của cuộc cách mạng khoa học- Công nghệ phát triển mạnh mẽ trên thế giới. Nhiều
công nghệ và dây truyền sản xuất hiện đại tạo nên bước phát triển trong các ngành sản xuất.
Đồng thời thông qua các dự án liên doanh hợp tác với nước ngoài, các doanh nghiệp Việt
Nam đã tiếp nhận được nhiều kinh nghiệm quản lý tiên tiến.
6. Từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế và môi trường cạnh
tranh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại, nhiều doanh nghiệp
đã nổ lực đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, nâng cao năng xuất và chất lượng, không
ngừng vươn lên trong cạnh tranh để tồn tại và phát triển; khả năng cạnh tranh của nhiều
doanh nghiệp đã được nâng lên; đã có hàng trăm doanh nghiệp đã được ISO-9000, Một tư
duy mới một nếp làm ăn mới lấy hiệu quả sản xuất kinh doanh làm thước đo, một đội ngũ các
nhà doanh nghiệp mới năng động, sáng tạo có kiến thức quản lý đang hình thành.
B/ Những mặt yếu kém ,tồn tại
Tuy nhiên , qua quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,chúng ta cũng bộc lộ nhiều mặt
yếu kém:
Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế đã được khẳng định trong nhiều nghị quyết của Đảng
và văn kiện của Nhà nước và trên thực tế đã được thực hiện từng bước, nhưng nhận thức về
nội dung,bước đi, lộ trình hội nhập còn giản đơn ;các ngành,các cấp và khá đong cán bộ chưa
nhận thức đầy đủ những thức và cơ hội để từ đó có kế hoạch chủ động vươn lên vượt qua
tế Nhà nước giữa vai trò chủ đạo.
3. Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh và cạnh tranh, vừa có
nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức, do dố cần tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt trong
viêc sử lý hai mặt của hội nhập tùy theo đối tượng, vấn đề, trường hợp; thời điểm cụ
thể; đồng thời, vừa phải đề phòng tư tưởng trì truệ, thụb động, vừa phải chống tư
tưởng giản đơn, nôn nóng .
4. Nhận thức đầy đủ đặc điểm nền kinh tế nước ta, từ đó đề ra kế hoạch và lộ trình hợp
lý, vừa phù hợp với trình độ phát triển của đất nước, vừa đáp ứng các quy định của
các tổ vhức kinhtế quốc tế mà nước ta tham gia; tranh thủ những ưu đãi dành cho các
nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi từ kinh tế tập trung bao
cấp sang kinh tế thị trường.
5. Kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững ổn định
chính trị, an ninh, quốc phòng; thông qua hội nhập để tăng cường sức mạnh tổng hợp
của quốc gia, nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nước, cảnh giác với những mưu
toan thông qua hội nhậpđể thực hiện ý đồ “diễn biến hòa bình” đối với nước ta.
Lộ Trình Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
Nắm vững các quan điểm chỉ đạo và hiểu rõ các nguyên tắc tuân thủ , cả nước
củng như mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp cần xây dựng một lộ trình hội nhập hợp lý. Khi
hình thành lộ trình, giữ vững các vấn đề có nguyên tắc sau:
1. Hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa tranh thủ vừa cạnh
tranh, vừa tận dụng cơ hội vừa đối phó vừa thách thức. Đối với nước ta hiện nay,
thách thức lớn nhất là: khảnăng cạnh tranh yếu, dễ bị thua thiệt trên thương
trường; sự non kém của cán bộ và bộ máy; khả năng dự báo chưa kịp thời chiều
hướng phát triển kinh tế thế giới, nhất là trong điều kiện toàn cầu hóa phát triển
nhanh; hiện tượng mất cảnh giác của một bộ phận cán bộ trước những âm mưu,
thủ đoạn xấu của các lực lượng thù địch .
2. Nướcta nhập cuộc đua tranh kinh tế khi trình độ phát triển kinh tế và công nghệ
còn thấp, vì vậy .phải tiến hành hội nhập từng bước ,dần dần mở cửa thì trường
với lộ trình hợp lí. Lộ trình có được xác định trên cơ sở tính toán cẩn trọng căn cứ
vào các yêu cầu và cam kết của các tổ chức khu vực và quốc tế mà chúng tagia