CÁC CAM KẾT QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM VỀ TỰ DO HÓA DỊCH VỤ NGÂN HÀNG - Pdf 28

LỜI NÓI ĐẦU
Lý do chọn đề tài : Hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế hiện nay là xu thế tất yếu và
là đòi hỏi khách quan của quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế. Xu thế
này đang dần bao trùm lên hầu hết các lónh vực cuả đời sống xã hội. Lónh vực
ngân hàng cũng không nằm ngoài xu thế chung đó. Quá trình hội nhập trong lónh
vực ngân hàng đã trở thành một trong những nội dung chủ yếu, có ảnh hưởng
mạnh mẽ đến toàn bộ các quan hệ kinh tế, tài chính của mỗi nước và của toàn thế
giới; nó vừa góp phần nâng cao hiệu quả phân phối nguồn lực và phát triển kinh
tế, tăng cường khả năng thanh toán vừa thúc đẩy thò trường tài chính phát triển ổn
đònh đồng thời nó cũng nâng cao chất lượng hoạt động cuả hệ thống ngân hàng và
các trung gian tài chính khác. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề hội nhập trong lónh vực
ngân hàng là một việc làm quan trọng và cần thiết trong bối cảnh hệ thống ngân
hàng nước ta đang từng bước hội nhập với quốc tế hiện nay.
Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài : Nhận thức đúng đắn và đầy đủ những
cơ hội và thách thức, những lợi ích và nguy cơ để chủ động hội nhập theo một lộ
trình hợp lý chắc chắn sẽ giúp các ngân hàng thương mại Việt Nam có được một
sự chuẩn bò thật tốt trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Mục tiêu
nghiên cứu cuả đề tài này là trên cơ sở phân tích thực trạng hiện nay cuả hệ thống
NHTM Việt Nam và từ những vấn đề đó kiến nghò một số giải pháp nâng cao
năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam trong tiến trình hội nhập.
1
Phần I
CÁC CAM KẾT QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM VỀ
TỰ DO HÓA DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
11. Hiệp đònh thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA)
Một số cam kết trong hiệp đònh BTA của Chính phủ Việt Nam đối với tổ chức
ngân hàng và tài chính của Hoa Kỳ được trình bày tóm tắt như sau :
 Các nhà cung cấp dòch vụ tài chính Hoa kỳ được phép cung cấp dòch vụ tại
Việt Nam thông qua các hình thức pháp lý: (i) Chi nhánh ngân hàng Hoa
Kỳ; (ii) Ngân hàng liên doanh Việt Nam-Hoa Kỳ; (iii) Công ty thuê mua tài
chính 100% vốn Hoa Kỳ và (iv) Công ty thuê mua tài chính liên doanh Việt

 Năm thứ 3 (từ 10/12/2003) 250%
 Năm thứ 4 (từ 10/12/2004) 400%
 Năm thứ 5 (từ 10/12/2005) 600%
 Năm thứ 6 (từ 10/12/2006) 700%
 Năm thứ 7 (từ 10/12/2007) 900%
 Năm thứ 8 (từ 10/12/2008) Đối xử quốc gia đầy đủ
Trong 10 năm đầu, sau khi hiệp đònh có hiệu lực, các chi nhánh ngân hàng Hoa Kỳ
hoạt động tại Việt Nam nhận tiền gửi bằng VND từ các thể nhân mà ngân hàng
3
không có quan hệ tín dụng với những tỷ lệ nhất đònh tính trên mức vốn pháp đònh
của chi nhánh, cụ thể như sau:
 Năm thứ 1 (từ 10/12/2001) 50% vốn pháp đònh chuyển vào
 Năm thứ 2 (từ 10/12/2002) 100%
 Năm thứ 3 (từ 10/12/2003) 250%
 Năm thứ 4 (từ 10/12/2004) 350%
 Năm thứ 5 (từ 10/12/2005) 500%
 Năm thứ 6 (từ 10/12/2006) 650%
 Năm thứ 7 (từ 10/12/2007) 800%
 Năm thứ 8 (từ 10/12/2008) 900%
 Năm thứ 9 (từ 10/12/2009) 1000%
 Năm thứ 10 (từ 10/12/2010) Đối xử quốc gia đầy đủ.
Như vậy, chúng ta chỉ còn chưa đầy 4 năm nữa thì ngành ngân hàng phải thực sự
mở cửa theo hiệp đònh thương mại Việt – Mỹ đó là chưa tính đến lộ trình mở cửa
ngành ngân hàng nếu Việt Nam được gia nhập tổ chức WTO vào cuối năm nay.
Nhưng có một điều chắc chắn rằng những cam kết để được gia nhập tổ chức WTO
trong lónh vực ngân hàng sẽ ít nhất cũng giống như trong hiệp đònh thương mại
Việt – Mỹ
4
Phần II
PHÂN TÍCH SWOT ĐỐI VỚI HỆ THỐNG NGÂN

Hệ thống NHTM Việt Nam bao gồm năm ngân hàng thương mại quốc doanh,
một ngân hàng chính sách và 38 ngân hàng thương mại cổ phần. Các NHTM
Việt Nam hiện thống trò thò trường tiền gửi và cho vay với thò phần tương đối
lớn và đối tượng khách hàng thì đa dạng. Điều này có được nhờ những lợi thế
sẵn có với vai trò là ngân hàng trong nước bởi các NHTM Việt Nam không
phải chòu những hạn chế về quy mô hoạt động hay số lượng các chi nhánh
trong một khu vực. Trong khi những ngân hàng nước ngoài lại gặp phải một số
hạn chế khi nhận tiền gửi tại thò trường trong nước.
Trong khi các NHTMQD vẫn tập trung phục vụ các khách hàng truyền thống là
những DNNN lớn, các NHTM cổ phần đã tìm ra những thò trường ngách là
phục vụ những doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như các khách hàng cá nhân.
Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng và ngân hàng chính sách xã hội đóng một
vai trò quan trọng trong việc cấp vốn cho khu vực nông thôn và những người
nghèo.
Như vậy chúng ta có thể thấy rằng hệ thống NHTM Việt Nam hiện chiếm một
thò phần tương đối lớn ở thò trường Việt Nam hiện nay (khoảng gần 90%, các
NH nước ngoài hiện chỉ chiếm khoảng 10% thò phần trong nước) và theo nhiều
chuyên gia trong lónh vực ngân hàng thì trong một tương lai gần, thò phần của
các tổ chức tín dụng Việt Nam sẽ không thay đổi nhanh chóng; mặc dù có thể
6
xuất hiện một số thay đổi về cấu trúc, ví dụ như thò phần của các ngân hàng
TMCP sẽ tăng lên.
1.4. Am hiểu thò trường và “văn hóa” của khách hàng trong nước
Với lợi thế hoạt động lâu năm trên “sân nhà”, các NHTM Việt Nam tỏ ra rất
có lợi thế về việc am hiểu thò trường cũng như am hiểu về phong tục tập quán,
tâm lý và “văn hóa” của các khách hàng trong nước. Ngoài ra các NHTM Việt
Nam còn có được những thông tin về khách hàng tốt hơn các ngân hàng nước
ngoài và trong nhiều trường hợp các thông tin này có thể bổ sung cho các Báo
cáo tài chính thiếu minh bạch của khách hàng trong việc phục vụ mục đích cho
vay của ngân hàng.

thực hiện.
Vấn đề thứ ba về thể chế đó là vấn đế thiếu minh bạch trong các Báo cáo tài
chính của các khách hàng doanh nghiệp. Hiện nay chỉ có một số ít doanh
nghiệp được kiểm toán độc lập hàng năm. Việc thiếu kiểm toán và kế toán
minh bạch sẽ gấy khó khăn cho việc đánh giá khả năng sinh lời của một doanh
nghiệp, qua đó ngân hàng khó có thể có quyết đònh cho vay hiệu qủa. Đây
chính là vấn đề cản trở ngân hàng chưa mạnh dạng cho các khách hàng doanh
nghiệp vay vốn đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, và điều này cũng lý
giải vì sao các NHTMQD chỉ cho các doanh nghiệp lớn vay mà ít quan tâm đến
các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Muốn khắc phục vấn đề này đòi hỏi Chính phủ
phải có những biện pháp nhằm phát triển thò trường vốn bởi vì các doanh
nghiệp muốn khai thông nguồn vốn trên thò trường chứng khoán thì họ phải
công khai và minh bạch tài chính, do đó các ngân hàng cũng dễ cho các doanh
8
nghiệp vay hơn và các doanh nghiệp cũng dễ tiếp cận các khoảng tín dụng
ngân hàng hơn.
2.2. Về năng lực tài chính
Trong thời gian gần đây một loạt các NHTM đã và đang có những sự gia tăng
đáng kể về vốn điều lệ, cụ thể như: ACB vừa phát hành thành công 1.650 tỷ
đồng trái phiếu chuyển đổi, Sacombank vừa phát hành 10% cổ phiếu thưởng
nâng mức vốn điều lệ của mình lên 1999 tỷ VND, Eximbank phát hành 400 tỷ
đồng mệnh giá cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu để tăng vốn lên 1200 tỷ VND,…
song nhìn chung nguồn vốn chủ sở hữu – sức mạnh tài chính của NHTM Việt
Nam vẫn còn khá thấp so với các NHTM trong khu vực và thế giới. Nhiều
NHTM nước ngoài có quy mô vốn chủ sở hữu hàng tỷ USD, trong khi đó các
NHTM nước ta quy mô vốn chủ sở hữu còn rất khiêm tốn, tổng vốn chủ sở hữu
của toàn hệ thống NHTM nước ta khoảng hơn 2 tỷ USD. Điều này đã hạn chế
các ngân hàng nâng cấp công nghệ và giới thiệu những dòch vụ mới như ngân
hàng điện tử, ATM, vốn là những dòch vụ đòi hỏi phải đầu tư đáng kể.
Bảng 1 : Vốc chủ sở hữu của một số Ngân hàng qua các năm.

cung cấp đủ nguồn vốn trung dài hạn cần thiết cho các doanh nghiệp, các
NHTM hiện nay đang pải đảm trách nhiệm vụ cung cấp nguồn vốn trung dài
hạn cho các doanh nghiệp. Điều này làm tăng tính rủi ro thanh khoản cho hệ
thống NHTM Việt Nam, đặc biệt là trong điều kiện thiếu các khoảng tiền gửi
trung và dài hạn.
Mặc dù năng lực tài chính có hạn, các NHTM Việt Nam còn đang tham gia vào
các cuộc chạy đua về lãi suất cả về ngiệp vụ huy động vốn và nghiệp vụ cho
vay. Việc chạy đua về lãi suất có thể dẫn tới rủi ro làm tất cả cùng suy yếu.
Nếu các NHTM nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh, chiến lược marketing
mạnh mẽ tham gia vào cuộc chạy đua này thì cuộc chạy đau về lãi suất của các
NHTM trong nước sẽ không thể kéo dài được.
Vì thế năng lực tài chính còn nhỏ bé có thể xem là một điều bất lợi rất lớn đối
với các NHTM Việt Nam trong quá trình hội nhập, đặc biệt là trong điều kiện
các NHTM quốc tế đang có xu hướng sáp nhập tạo thành các NHTM có quy
mô vốn chủ sở hữu lớn và rất lớn.
Tuy trong những năm gần đây hệ thống NHTNQD đã có những cải thiện đáng
kể về tính hình tài chính, nhưng nhìn chung thìmtình hình tài chính của các
NHTMQD vẫn còn kém lành mạnh, các chỉ tiêu khả năng sinh lời và chi phí
đều không tốt bằng mức trung bình của khu vực.
2.3. Năng lực quản lý điều hành còn kém so với yêu cầu của một NHTM
hiện đại
10
 Tính chuyên nghiệp trong quản trò NHTM hiện đại : Quản trò NHTM hiện đại
đòi hỏi các cán bộ quản lý phải có tính chuyên nghiệp cao. Khả năng quản
trò, vận hành, điều chỉnh, bổ sung, không ngừng hoàn thiện cơ chế quản lý
cuả Ban lãnh đạo NHTM quyết đònh hiệu quả hoạt động kinh doanh của
NHTM theo đònh hướng xác đònh. Ở Việt Nam hiện nay hầu hết các nhà
quản trò NHTM đều chưa được đào tạo nghề quản trò NHTM một cách bài
bản mà chủ yếu được lựa chọn qua thực tiễn hoạt động kinh doanh nên tính
chuyên nghiệp trong quản trò một NHTM còn nhiều bất cập.

của xã hội.
Do trình độ công nghệ còn yếu nên các sản phẩm và dòch vụ phi tín mà các
NHTM Việt Nam cung cấp chưa thật sự đa dạng, tín dụng vẫn là nguồn thu chủ
yếu của ngân hàng, tỷ trọng thu nhập từ dòch vụ ngân hàng chỉ chiếm một tỷ lệ
khiêm tốn trong tổng thu nhập cuả ngân hàng.
Biểu đồ 1 : Tỷ trọng thu nhập từ dòch vụ của các ngân hàng ở các nước.
Việt Nam
20%
80%
thu nhập từ dòch vụ
thu nhập ngoài dòch vụ
Các nước Asian
30%
70%
thu nhập từ dòch vụ
thu nhập ngoài dòch vụ
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status