Hoàn thiện pháp luật về sáp nhập và mua lại
doanh nghiệp (M&A) phù hợp với các cam kết
quốc tế của Việt Nam
Phùng Ngọc Việt Nga
Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật Quốc tế; Mã số: 60 38 60
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Hồng Thao
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Làm sáng tỏ các quan điểm, khái niệm về đầu tư (sáp nhập và mua lại
doanh nghiệp) M&A, đặc điểm của hình thức đầu tư này và thực tiễn hoạt động M&A
trên thế giới. Nghiên cứu các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên liên quan
đến hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Nghiên cứu các quy
định pháp luật hiện hành của Việt Nam về sáp nhập, mua lại doanh nghiệp. Nghiên
cứu đặc điểm, xu hướng của các giao dịch sáp nhập, mua lại doanh nghiệp qua các giai
đoạn, tìm hiểu các yếu tố tác động đến xu hướng này. Đưa ra các ưu điểm và nhược
điểm của các quy định hiện hành của Việt Nam về M&A. Nghiên cứu những điểm phù
hợp và chưa phù hợp của các quy định pháp luật Việt Nam về sáp nhập và mua lại
doanh nghiệp với các cam kết quốc tế. Đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật
Việt Nam về sáp nhập và mua lại doanh nghiệp.
Keywords: Luật Quốc tế; Doanh Nghiệp; Luật kinh doanh; Đầu tư
Content
MỞ ĐẦU
Việt Nam đang gia nhập ngày càng sâu và rộng với nền kinh tế thế giới. Thông qua
các cam kết quốc tế, đặc biệt là các cam kết với WTO, Hoa Kỳ, Nhật Bản và một số Hiệp
định song phương với các quốc gia khác, Việt Nam thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài. Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên thế giới được thực hiện
sáp nhập làm lu mờ công ty bị sáp nhập và công ty được sáp nhập sẽ nắm giữ các quyền, lợi ích và trách
nhiệm của công ty bị sáp nhập. Một hoạt động sáp nhập không giống với hoạt động hợp nhất mà hai
công ty cùng bị mất đi những đặc điểm nhận dạng của mình và tạo nên một hình thức công ty hoàn toàn
mới.
1.1.1.2 Cộng đồng chung Châu Âu
Cộng đồng Châu Âu đã có một định nghĩa cụ thể về sáp nhập và mua lại tại Quy định về
Sáp nhập của Cộng đồng Châu Âu số 139/2004 ngày 20/01/2004 (EC Merger Regulation)
như sau: (i) sự sáp nhập giữa hai pháp nhân độc lập hoặc hai bộ phận của hai pháp nhân; hoặc
(ii) thâu tóm quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc mua lại chứng khoán
hoặc tài sản của một công ty khác; (iii) hoặc tạo ra một liên doanh mới. Quy định về Sáp nhập
của Cộng đồng Châu Âu đã đưa ra cách tính về doanh số, thủ tục cần thiết để tiến hành việc
sáp nhập và mua lại một cách cụ thể.
Mặc dù hệ thống pháp luật của từng quốc gia thuộc thành viên của Cộng đồng chung
3
Châu Âu là khác nhau, nhưng Quy chế về Sáp nhập của Cộng đồng Châu Âu được áp dụng
chung và là văn bản có hiệu lực điều chỉnh cao hơn pháp luật của từng quốc gia phê chuẩn.
1.1.3. Định nghĩa của Việt Nam.
Khái niệm M&A được đề cập đến trong một số văn bản quy phạm pháp luật của Việt
Nam như Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật cạnh tranh như sau.
"Sát nhập doanh nghiệp" là việc một hay một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
(gọi là doanh nghiệp bị sát nhập) chuyển toàn bộ bằng tiền và tài sản của mình để sát nhập
vào một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác (gọi là doanh nghiệp nhận sát nhập).
"Hợp nhất doanh nghiệp" là việc hai hay một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
(gọi là doanh nghiệp bị hợp nhất) mang toàn bộ vốn bằng tiền và tài sản của mình để hợp
nhất với nhau chuyển thành một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mới (gọi là doanh
nghiệp hợp nhất)”.
3. Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh
nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”.
Quy định khái niệm về sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp không thống nhất với nhau
1.4. Phân loại M&A
1.4.1. Dựa trên mối quan hệ giữa các doanh nghiệp thực hiện M&A
1.4.1.1. Sáp nhập ngang
Diễn ra đối với hai công ty cùng cạnh tranh trực tiếp và chia sẻ cùng dòng sản phẩm và
thị trường.
1.4.1.2. Sáp nhập dọc
Diễn ra đối với các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng, dẫn tới sự mở rộng về phía
trước hoặc phía sau của công ty sáp nhập trên chuỗi cung ứng đó.
1.4.1.3. Sáp nhập mở rộng thị trường
Diễn ra đối với hai công ty bán cùng loại sản phẩm nhưng ở những thị trường khác
nhau.
1.4.1.4. Sáp nhập mở rộng sản phẩm
Diễn ra đối với hai công ty bán những sản phẩm khác nhau nhưng có liên quan tới nhau
trong cùng một thị trường.
1.4.1.5. Sáp nhập kiểu tập đoàn
Trong trường hợp này, hai công ty không có cùng lĩnh vực kinh doanh nhưng muốn đa
dạng hóa hoạt động lĩnh vực kinh doanh đa ngành nghề. Như một công ty thiết bị y tế mua lại
một công ty thời trang.
1.4.2. Phân loại dựa trên cơ cấu tài chính
1.4.2.1. Sáp nhập mua
Như chính cái tên này thể hiện, loại hình sáp nhập này xảy ra khi một công ty mua lại
một công ty khác.
5
1.4.2.2. Sáp nhập hợp nhất
Với hình thức sáp nhập này, một thương hiệu công ty mới được hình thành và cả hai
công ty được hợp nhất dưới một pháp nhân mới. Tài chính của hai công ty sẽ được hợp nhất
trong công ty mới.
Như vậy, hợp nhất theo quy định của pháp luật Việt Nam là một trong những hình thức
sáp nhập.
doanh nghiệp như hình thức tổ chức lại doanh nghiệp xuất phát từ nhu cầu tự thân của doanh
nghiệp. Luật Doanh nghiệp không đưa ra định nghĩa về mua, bán doanh nghiệp. Tuy nhiên,
Luật Doanh nghiệp có một Điều riêng quy định về việc bán doanh nghiệp tư nhân.
2.1.2.2. M&A theo quy định của Luật Đầu tư
Luật Đầu tư năm 2005 thừa nhận hai hình thức M&A là sáp nhập và mua lại doanh
nghiệp. Hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp được coi là một trong những hình thức
đầu tư trực tiếp. Việc mua lại doanh nghiệp có thể được thực hiện dưới hình thức mua lại một
phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp hoặc chi nhánh.
2.1.2.3. M&A theo quy định của Luật Cạnh tranh
Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định: “Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số
doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một
doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập. Mua lại
doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp
khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”.
Luật Cạnh tranh cũng đề cập đến hợp nhất doanh nghiệp - là việc “hai hoặc nhiều doanh
nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành
một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất”.
Theo quy định của Luật Cạnh tranh, việc sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh
nghiệp và mua lại doanh nghiệp là hành vi tập trung kinh tế. Do đó, việc sáp nhập, hợp nhất,
mua lại doanh nghiệp bị cấm trong trường hợp việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại doanh nghiệp tạo
ra thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên
quan.
2.1.2.4. M&A theo quy định của Luật Chứng khoán
Luật Chứng khoán quy định việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất công ty chứng khoán,
công ty quản lý quỹ phải được chấp thuận của Ủy ban chứng khoán nhà nước trước khi thực
hiện.
7
2.1.2.5. M&A theo quy định của luật Các tổ chức tín dụng
Như vậy, việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập của tổ chức tín dụng phải được sự chấp
liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh. Phần vốn góp của phía nước ngoài không vượt
quá 51% vốn pháp định của liên doanh.
8
- Dịch vụ viễn thông không có hạ tầng mạng: Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên
doanh không vượt quá 65% vốn pháp định của liên doanh.
2.2.2. Cam kết trong khu vực ASEAN
Các các kết quốc tế của Việt Nam trong khu vực ASEAN về M&A chủ yếu được thể
hiện ở Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN. Một trong những mục tiêu của Hiệp định
là xây dựng một Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA) có môi trường đầu tư thông thoáng và rõ
ràng hơn giữa các quốc gia thành viên, nhằm đẩy mạnh đầu tư vào ASEAN từ các nguồn cả
trong và ngoài ASEAN.
Theo Hiệp định khung về đầu tư ASEAN, các quốc gia thành viên cam kết thực hiện
các biện pháp thích hợp để bảo đảm tính rõ ràng và nhất quán trong việc áp dụng và giải thích
các luật, quy định và thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư của nước mình nhằm tạo ra và
duy trì một chế độ đầu tư có thể dự đoán trước được trong ASEAN. Đồng thời, các bên phải
mở ngay lập tức tất cả các ngành nghề của nước mình cho đầu tư của các nhà đầu tư ASEAN
và dành ngay lập tức cho các nhà đầu tư ASEAN và đầu tư của họ, đối với tất cả các ngành
nghề và các biện pháp có tác động tới các đầu tư đó, bao gồm, nhưng không chỉ giới hạn ở
việc tiếp nhận, thành lập, nắm giữ, mở rộng, quản lý, vận hành và định đoạt đầu tư, sự đối xử
không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho các nhà đầu tư và đầu tư tương tự của nước
mình ("đối xử quốc gia") (khoản 1 Điều 7).
2.2.3. Các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư
Các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư mà Việt Nam đã ký kết (với 54/55 quốc
gia) có nội dung tương đối thống nhất theo mô hình các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu
tư truyền thống trên thế giới.
2.2.4. Các cam kết quốc tế về đầu tư song phương có yếu tố tự do hoá liên quan đến
M&A
Các cam kết này bao gồm Hiệp định khuyến khích, bảo hộ và tự do hoá đầu tư Việt
Nam - Nhật Bản và trong Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA).
tình hình tài chính, quy mô kinh doanh, cơ cấu cổ phần, kế hoạch ổn định nhân sự và đặc biệt
là cách thức quản lý công ty mới. Trung Quốc yêu cầu các nhà đầu tư nước ngoài cung cấp kế
hoạch để cải tiến cơ cấu quản lý và thúc đẩy tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp nhà
nước.
Về vấn đề giá cả mua lại doanh nghiệp: Trung Quốc quyết định giá mua lại doanh
nghiệp phải dựa trên giá trị tài sản hoặc giá trị cổ phần do một công ty đánh giá tài sản ở
Trung Quốc đưa ra. Phương pháp đánh giá tài sản hoặc cổ phần phải là phương pháp được
quốc tế công nhận. Nếu như giá mua lại doanh nghiệp thấp hơn giá trị đó thì cuộc chuyển
nhượng này không được phép thực hiện.
Về thuế áp dụng cho các giao dịch M&A, Trung Quốc căn cứ vào từng hình thức
M&A để áp dụng mức thuế suất khác nhau đối với từng giao dịch.
2.3.2. Thái Lan
Mua lại và sáp nhập hai hoặc nhiều công ty có thể dưới các hình thức sau: i, Sáp nhập
(hợp nhất) ii, Mua lại cổ phần iii, Mua lại tài sản. Trong ba hình thức trên thì hình thức hợp
nhất là ít phổ biến tại Thái Lan do Thái Lan không khuyến khích hình thức hợp nhất các công
ty.
10
Trong một số lĩnh vực nhất định (Ngân hàng, tài chính tín dụng, bảo hiểm nhân thọ, đại lý du
lịch, hàng hải, hàng không…) Thái Lan đều có những giới hạn về vốn và số lượng người nước ngoài
tham gia vào hoạt động quản lý.
Về thuế, Thái Lan dành nhiều ưu đãi về thuế cho các nhà đầu tư nước ngoài. Thuế
doanh lợi là 30% đối với sáp nhập và mua lại bằng hình thức tài sản. Còn đối với mua lại cổ
phiếu, Thái Lan áp dụng thuế lũy tiến từ 5% - 37% đối với công dân Thái và 30% cho các
công ty nội địa và 15% khấu trừ trước cho công dân và công ty nước ngoài.
Thuế trước bạ là 0,5 % trên số bất động sản ( được miễn nếu như các điều kiện đặt ra được đáp
ứng ) đối với hình thức đầu tư mua lại bằng tài sản và sáp nhập. Và 0,1% giá bán ra hoặc giá trị cổ phiếu
đã trả ( tùy theo giá trị nào lớn hơn ).
Hình thức đầu tư bằng cách mua lại cổ phiếu và sáp nhập được miễn thuế VAT, còn
mua lại tài sản chỉ bị đánh 7% trên bất động sản và được miễn nếu chuyển nhượng toàn bộ
Trước khi Luật công ty của Singapore có hiệu lực (ngày 15/6/2005), các giao dịch
thường được gọi là “sáp nhập” thực chất là công ty B mua lại tài sản của công ty A nhờ đó
công ty B phát hành cổ phiếu của công ty mình cho công ty A. Hay công ty A và công ty B có
thể cùng góp tài sản để lập thành công ty C và công ty C sẽ phát hành cổ phiếu cho hai công
ty trên. Mặc dù về tài sản là chung trong một công ty nhưng về tư cách pháp nhân thì công ty
A, công ty B và công ty C (nếu phù hợp) vẫn là ba công ty riêng biệt. Sau khi luật công ty ra
đời, Singapore đặt ra những quy định chặt chẽ hơn đối với hình thức hợp nhất (sáp nhập) công
ty. Sau khi hợp nhất hai hay nhiều công ty thì có thể hình thành một công ty hợp nhất hoặc là
hình thành một công ty mới.
Mua lại các công ty ở Singapore cũng giống như các nước khác có thể thông qua hình
thức mua lại cổ phiếu hoặc mua lại tài sản.
Về luật chống độc quyền, Singapore không có luật chống độc quyền. Nhưng trong một
số ngành như viễn thông, bưu chính, ngành dịch vụ công có những quy định về chống độc
quyền.
2.4.5. Hoa Kỳ
Hoa Kỳ có lẽ là một trong những nước đi đầu trong kinh nghiệm thực hiện quản lý nhà
nước đối với hoạt động M&A. Luật chống độc quyền Sherman được ban hành từ năm 1890.
Về định chế quản lý M&A, đạo luật ủy ban Thương mại liên bang (FTC) năm 1975 đã
quy định “ngăn cấm mọi hành vi không lành mạnh đe dọa tính cạnh tranh của thị trường” và
trao cho cơ quan hành pháp này chức năng độc lập thực thi các luật chống độc quyền của liên
bang. Tiếp theo, năm 1976 Luật chống độc quyền Hart-Scott-Rodino (HSR) bắt buộc các bên
liên quan phải thông báo và nộp hồ sơ thẩm tra lên FTC và Bộ Tư pháp trước khi hoàn tất vụ
sáp nhập. Quy định này được áp dụng đối với tất cả những vụ sáp nhập mà một trong hai bên
có doanh thu trên 100 triệu USD và bên còn lại trên 10 triệu USD, với giá trị chuyển nhượng
vượt quá 15 triệu USD. Nếu các công ty thuộc đối tượng như trên thực hiện sáp nhập mà
không qua thẩm tra của FTC và Bộ Tư pháp sẽ bị hủy thỏa thuận chuyển nhượng và có thể bị
phạt lên đến 10000 USD/ngày.
12
Chương 3:
mua tới 49% cổ phần của các công ty chứng khoán. Các công ty chứng khoán bán cổ phần đề là
các công ty có quy mô vừa và nhỏ, thị phần còn khiêm tốn cả về hoạt động môi giới và tư vấn
tài chính doanh nghiệp.
13
3.1.2. Đặc điểm hoạt động M&A tại Việt Nam
3.1.3. Thực tiễn quản lý nhà nước về M&A
3.1.4. Một số vụ M&A điển hình tại Việt Nam
3.1.4.1.Kinh Đô thâu tóm kem Walls của Unilever
Nhận thức được tiềm năng phát triển của ngành kem, kết hợp cùng sự am tường về
thực phẩm, Kinh Đô đã quyết định mua lại Wall‟s và thành lập công ty Kido‟s. Vào thời điểm
1993, đây là sự kiện bất ngờ tạo tiếng vang lớn - lần đầu tiên một doanh nghiệp Việt Nam
mua lại nhãn hiệu của một tập đoàn lớn nước ngoài, đồng thời cũng đánh dấu việc Kinh Đô
chính thức đầu tư sang lĩnh vực mới, thực hiện chiến lược đa dạng hóa sản phẩm cũng như nâng cao
uy tín thương hiệu của Kinh Đô trên thương trường trong nước và quốc tế.
Qua tổng quan công ty Kinh Đô, ta thấy được chiến lược của Kinh Đô là đa dạng hóa
lĩnh vực sản xuất kinh doanh của mình, nhưng ở đây kinh Đô không phải là “đàn em” trong
công nghệ mà luôn luôn là người đi đầu trong công nghệ sản xuất lĩnh vực mới, từ bánh
Snacks đơn điệu rồi đến cookies, kẹo cứng, kẹo mềm, bánh mì, bánh bông lan, chocolate,…
Cũng vì mục tiêu phục vụ chiến lược đa dạng hóa sản phẩm, khai thác những khúc thị trường
mới mà tháng 04 năm 2003, ban quản trị Kinh Đô đã quyết định mua lại dây chuyền sản xuất
kem ăn sao cấp Wall‟s của Unilever.
3.1.4.2.Ngân hàng TMCP Liên Việt và Dịch vụ tiết kiệm Bưu điện
Ngân hàng Liên Việt nhận sáp nhập Dịch vụ tiết kiệm Bưu Điện thì Liên Việt sẽ được thừa
hưởng mạng lưới của hệ thống tiết kiệm bưu điện. Các chuyên gia kinh tế đánh giá, cuộc “se
duyên” giữa Bưu Điện và ngân hàng Liên Việt đã giúp cho Ngân hàng này có bước tiến dài,
đi tắt đón đầu tới cả 100 năm. Ở Việt Nam ngoài Ngân hàng Nông nghiệp thì chưa có Ngân
hàng nào có mạng lưới rộng như vậy. Có lẽ, đây cũng chính là mục tiêu mà Ngân hàng Liên
Việt hướng tới khi nhận sáp nhập Dịch vụ Bưu điện.
Về bản chất, đây là một thương vụ sáp nhập. Tuy nhiên, hai doanh nghiệp này đã thỏa
hội việc áp dụng trực tiếp các cam kết khác chưa được quy định tại Nghị quyết. Tuy nhiên, việc áp dụng
trực tiếp các cam kết quốc tế còn nhiều hạn chế.
Các doanh nghiệp, kể cả các cơ quan nhà nước vẫn còn dè dặt trong việc áp dụng các
cam kết quốc tế khi mà các cam kết quốc tế đó quy định khác với luật trong nước. Nguyên
nhân của vấn đề này là do các chủ thể áp dụng pháp luật không có sự hiểu biết về các cam kết
quốc tế hoặc do e ngại sẽ vi phạm các quy định của pháp luật Việt Nam.
3.2.2. Thiếu hành lang pháp lý về M&A
Trở ngại đối với hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A) tại Việt Nam
khung pháp lý quy định còn thiếu rõ ràng và không đầy đủ. Việt Nam không có một đạo luật
riêng về M&A. Luật Doanh nghiệp chỉ quy định về M&A dừng lại ở mức độ hướng dẫn về
trình tự, thủ tục. Luật Đầu tư coi M&A như là một trong những hình thức đầu tư trực tiếp và
không có quy định cụ thể, rõ ràng về thủ tục đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài khi tham
gia thương vụ M&A.
Hiện nay các quy định liên quan đến hoạt động M&A ở Việt Nam được quy định trong
nhiều văn bản khác nhau. Tuy nhiên, các quy định này hầu như mới chỉ dừng lại ở việc xác
lập về mặt hình thức của hoạt động M&A, tức là mới chỉ giải quyết được các vấn đề về mặt
15
“thay tên, đổi họ” cho doanh nghiệp. Trong khi đó, M&A là một giao dịch thương mại, tài
chính, nó đòi hỏi phải có quy định cụ thể, có một cơ chế thị trường để chào bán, chào mua
doanh nghiệp, giá cả, cung cấp thông tin, chuyển giao và xác lập sở hữu, chuyển dịch tư cách
pháp nhân, cổ phần, cổ phiếu, các nghĩa vụ tài chính, người lao động, thương hiệu Đồng thời, còn hàng
loạt vấn đề liên quan trực tiếp đến M&A mà pháp luật nước ta còn chưa có quy định cụ thể như kiểm
toán, định giá, tư vấn, môi giới, bảo mật, thông tin, cơ chế giải quyết tranh chấp…
3.2.3. Vướng mắc do quy định chồng chéo trong các văn bản quy phạm pháp luật
Các quy định về M&A trong các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam còn chồng chéo
như chưa có nghị định thống nhất về M&A, chưa có văn bản hướng dẫn các thủ tục, quy trình
M&A rõ ràng, cụ thể trong khi các văn bản luật lại có quy định khác nhau làm cho việc sáp
nhập, hợp nhất doanh nghiệp gặp khó khăn trong xác lập các giao dịch, địa vị mỗi bên mua –
bán, hậu quả quản lý sau khi mua… Quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư không
̣
i thế giơ
́
i (WTO) và các đạo luật khác (Luật các tổ chức tín
dụng, Luật chứng khoán). Cam kết của WTO đã rõ ràng, tuy nhiên, những cam kết này chưa
được nội luật hóa. Vì vậy, các cơ quan chức năng trong quá trình quản lý chỉ áp dụng các quy
định của pháp luật Việt Nam mà chưa áp dụng các cam kết đối với WTO.
3.2.5. Vướng mắc theo quy định của Luật cạnh tranh
Luật cạnh tranh hiện nay cấm các hoạt động M&A có thể dẫn tới việc một doanh nghiệp
có mức tập trung kinh tế lớn hơn 50% thị trường liên quan. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là Luật
Cạnh tranh và các văn bản dưới luật không có quy định rõ ràng về khái niệm “Thị trường liên
quan”. Và trong trường hợp một doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng (có nhiều thị
trường khác nhau) thì tùy theo các cách tính khác nhau có thể dẫn đến kết quả là doanh
ngghiệp đó có thể bị coi là có “tập trung kinh tế” trên 50% hoặc có thể dưới.
3.2.6. Vướng mắc trong việc định giá doanh nghiệp
Hiện nay, không có bất cũ văn bản quy phạm pháp luật nào quy định về việc định giá
doanh nghiệp. Các thương vụ M&A diễn ra chủ yếu là do các bên tham gia thỏa thuận về giá.
16
Thị trường M&A Việt Nam hiện sử dụng ba phương pháp định giá chính: định giá theo giá trị
tài sản thực, định giá theo dòng tiền chiết khấu và định giá theo giá trị thị trường.
3.2.7. Vướng mắc khi thực hiện M&A trong lĩnh vực ngân hàng
iện nay Thông tư 04/2010/TT-NHNN còn bỏ ngỏ nội dung sáp nhập, hợp nhất, mua lại
bắt buộc tổ chức tín dụng. Vì vậy, còn thiếu cơ chế để Ngân hàng Nhà nước thực hiện vai trò
của mình trong việc buộc các tổ chức tín dụng sáp nhập, hợp nhất và bán cổ phần bắt buộc.
Ngoài ra, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP cần phải được tiến hành sửa đổi, bổ sung
nhằm nâng cao tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các tổ chức tín dụng cho phù hợp
với cam kết WTO và phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
3.2.8. Vướng mắc trong lĩnh vực lao động
Một trong những yếu tố liên quan đến sự thành công của M&A là vấn đề về nhân sự.
thống pháp luật. Phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam, với thông lệ, tập quán quốc
tế, bảo đảm chủ quyền và lợi ích quốc gia.
3.3.2. Những kiến nghị về xây dựng pháp luật
Nhằm đảm bảo tuân thủ các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường của Việt Nam, Việt
Nam cần nội luật hóa các cam kết theo hướng sau:
3.3.2.1. Về các hình thức mua bán, sáp nhập và tổ chức lại doanh nghiệp
*Sử dụng thống nhất các khái niệm về mua bán, sáp nhập và tổ chức lại doanh
nghiệp trong các văn bản pháp luật. Việc này có thể được xử lý ở từng văn bản khi tiến hành
sửa đổi bổ sung văn bản đó, hoặc dùng kỹ thuật một luật sử nhiều luật như đã từng sử dụng
trong quá trình cải cách thủ tục hành chính. Hoặc có thể ban hành một đạo luật riêng về M&A
nhằm đảm bảo việc thực hiện thống nhất đối với các loại hình doanh nghiệp.
* Nên phân loại một cách có hệ thống thành các nhóm (i) giao dịch về vốn (ii) giao
dịch về tài sản, (iii) sáp nhập, hợp nhất (iv) tổ chức lại doanh nghiệp theo hình thức khác.
Đồng thời, quy định rõ việc chuyển giao quyền, lợi ích và nghĩa vụ của các bên trong từng
trường hợp để tạo hành lang pháp lý cho sự thỏa thuận của các bên, đồng thời bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của các đối tượng dễ bị tổn thương như người lao động, cổ đông thiểu số,
các nhà đầu tư không chuyên nghiệp (khác với các nhà đầu tư chuyên nghiệp như tổ chức tài
chính, quỹ đầu tư, v v )
* Có hướng dẫn chi tiết về các phương thức cấu trúc giao dịch trong từng trường hợp
(tại các văn bản pháp luật về doanh nghiệp và về chứng khoán). Các văn bản pháp luật hiện
hành chỉ đưa ra các nguyên tắc chung về mua bán cổ phần, phần vốn góp (giao dịch vốn) mua
bán doanh nghiệp, chuyển nhượng dự án (giao dịch tài sản), sáp nhập, hợp nhất, chia, tách
doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế mỗi hình thức giao dịch đều có những phương pháp cấu
trúc giao dịch khác nhau, với những điểm khác biệt về mối quan hệ giữa các bên tham gia
giao dịch, quy trình thủ tục ra quyết định tham giao giao dịch trong nội bộ từng bên tham gia
giao dịch. Do không có hướng dẫn, quy định rõ ràng, các vấn đề này hiện nay do các bên giao
dịch toàn quyền thỏa thuận, trừ trường hợp điều lệ doanh nghiệp có quy định.
* Có hướng dẫn chi tiết về một số nghiệp vụ như dùng cổ phiếu trả cho cổ phiếu
(hoán đổi cổ phiếu), dùng cổ phiếu trả cho tài sản.
đầu tư nước ngoài cần được xử lý ở một văn bản riêng hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư sửa
đổi.
3.3.2.4. Về pháp luật lao động
Đề nghị bổ sung hướng dẫn chi tiết hơn về các trường hợp được coi là thay đổi cơ cấu,
công nghệ dẫn đến cho người lao động nghỉ việc theo quy định của Điều 17 Bộ luật Lao động,
đặc biệt là các trường hợp thay đổi cơ cấu tổ chức doanh nghiệp, sáp nhập, hợp nhất doanh
19
nghiệp và tiêu chí định tính, định lượng để xác định trong từng trường hợp. Đồng thời, để
nghị bổ sung các yêu cầu về thủ tục mà người sử dụng lao động phải đáp ứng khi cho người
lao động thôi việc trong các trường hợp này, như yêu cầu về thời gian báo trước, lấy ý kiến
ban chấp hành công đoàn cơ sở, thông báo cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động ở địa
phương.
3.3.2.5. Về pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán
Cần thiết phải có văn bản quy phạm pháp luật quy định về hoạt động M&A của các
công ty niêm yết, văn bản này hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Chứng khoán, có thể dưới
hình thức Thông tư của Bộ Tài chính. Nội dung văn bản này cần quy định cụ thể về trình tự,
thủ tục M&A của các công ty niêm yết, công ty niêm yết thực hiện M&A với công niêm yết,
hoán đổi cổ phiếu, tạm ngừng giao dịch, công bố thông tin… nhằm đảm bảo sự minh bạch của
thị trường chứng khoán cũng như bảo vệ cổ đông thiểu số.
3.3.2.6. Về pháp luật ngân hàng
Nhằm đảm bảo quyền kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước trong việc sáp nhập, hợp
nhất, mua lại bắt buộc các tổ chức tín dụng yếu kém, Thông tư 04 cần được sửa đổi, bổ sung
theo hướng quy định thêm trường hợp M&A bắt buộc, có sự giám sát của Ngân hàng nhà
nước, thể hiện được quyền lực của Ngân hàng Nhà nước với vai trò là cơ quan quản lý chuyên
ngành vừa là một bên tham gia vào quá trình M&A bắt buộc đối với các TCTD yếu kém.
Đồng thời, Thông tư 04 cần có quy định bổ sung về việc xác định vốn điều lệ của
TCTD sau M&A, đặc biệt là xác định vốn điều lệ thực có của TCTD sau hợp nhất, sáp nhập
doanh nghiệp theo hướng cấn trừ phần lỗ lũy kế của TCTD vào vốn điều lệ khi tiến hành
M&A nhằm đảm bảo TCTD sau M&A có vốn điều lệ thực có bằng vốn pháp định.
đó vẫn còn đang nằm rải rác ở các bộ luật, nghị định, thông tư hay các cam kết gia nhập WTO
và chỉ dừng lại ở việc xác lập về mặt hình thức của hoạt động M&A, tức là mới chỉ giải quyết
được các vấn đề về việc “thay tên, đổi họ‟‟ cho doanh nghiệp.Vì vậy, việc hoàn thiện hệ thống
pháp luật về M&A của Việt Nam là một vấn đề cấp thiết nhằm đảm bảo tuân thủ các cam kết quốc tế
của Việt Nam, khắc phục những bất cập của pháp luật hiện hành như đã đề xuất ở Chương III.
References
Tiếng Việt
1. Bộ Công thương(2009), Báo cáo Tập trung kinh tế tại Việt Nam: hiện trang và
dự báo, Hà Nội.
2. Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức(2008), Thâu tóm và hợp nhất từ khía cạnh
quản trị công ty: lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam, Bài tham luận tại Hội
thảo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hà Nội.
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư(2009), Một số vấn đề cơ bản về FDI và hình thức đầu
tư M&A thông qua FDI - Cục đầu tư nước ngoài, Hà Nội.
4. Luật Cạnh tranh năm 2004.
5. Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
21
6. Luật Chứng khoán năm 2006.
7. Luật Doanh nghiệp năm 2005.
8. Luật Đầu tư năm 2005.
9. PricewaterhouseCoopers(2009), Nhìn lại hoạt động M&A tại Việt Nam, hoạt
động mua bán vẫn gia tăng theo hướng tích cực cho dù tổng giá trị mua bán năm nay thấp
hơn năm 2007, TP.Hồ Chí Minh.
Tiếng Anh
10. Council Regulation (EC) No 139/2004 of 20 January 2004 on the control of
concentrations between undertakings.
11. Dale A. Oesterle(2001), Mergers and Acquisitions, A Thomson Company,
United State.