Cuộc vận động quốc tế của Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa trong kháng chiến chống thực dân
Pháp (1945-1954)
Nguyễn Văn Trí
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ. Lịch sử Việt Nam; Mã số: 60 22 54
Nghd: PGS.TS Hồ Khang
Năm bảo vệ: 2014
Keywords: Lịch sử Việt Nam; Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Kháng chiến chống thực
dân Pháp; Cuộc vận động quốc tế
Contents:
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), VNDCCH đã nhận được sự
đồng tình, ủng hộ cả về vật chất lẫn tinh thần của bạn bè quốc tế. Sự ủng hộ ấy đã góp phần nâng
cao thế và lực cho VNDCCH, buộc phía Pháp phải phải ký Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến
tranh, tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Sự đồng tình, ủng hộ quốc tế đó xuất phát từ tinh thần yêu tự do, hòa bình của nhân dân
thế giới, từ lợi ích của mỗi nước trong quan hệ với việc giải quyết vấn đề Việt Nam và Đông
Dương; sự đồng tình, ủng hộ từ bên ngoài ấy còn là kết quả của nỗ lực vận động quốc tế mà
VNDCCH thực hiện trong cuộc trường kỳ kháng chiến này. Do đó, nghiên cứu cuộc vận động
quốc tế của VNDCCH trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) góp phần lý giải sự
ủng hộ quốc tế mà nhân dân Việt Nam nhận được, đồng thời giúp làm rõ cách thức mà
VNDCCH giành ủng hộ bên ngoài trong cuộc kháng chiến này. Nghiên cứu vấn đề này cũng
giúp làm sáng tỏ đường lối đối ngoại của VNDCCH trong chín năm kháng chiến gian khổ (1945-
1954); qua đây, chúng ta cũng nhận biết đúng đắn hơn về thái độ của quốc tế đối với VNDCCH
và vai trò của ngoại lực trong cuộc trường kỳ kháng chiến này.
Chính phủ Mỹ và các nước lớn khác trong những năm 1945-1946. Trong thời gian này, chúng ta
cũng được biết thêm về nỗ lực xây dựng liên minh chiến đấu của VNDCCH với Lào và
Campuchia qua công trình The revolutions in Laos: The North Vietnamese and the Pathet Laos
(Phong trào cách mạng ở Lào: Quan hệ giữa lực lượng cộng sản Bắc Việt Nam và Pathet Lào)
của P.F. Langer và J.J Zasloff (1969).
Bước vào thập niên 70 của thế kỉ XX, với công trình Ba mươi lăm năm đấu tranh của
Đảng (Nhà xuất bản Sự thật ấn hành năm 1971), ĐLĐVN bắt đầu công khai sơ bộ nỗ lực gây
thân thiện với Trung Quốc của mình trong những năm 1945-1946. Năm 1979, khi quan hệ Việt
Nam và Trung Quốc căng thẳng, Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra
sách trắng Sự thật về quan hệ Việt-Trung trong 30 năm qua. Trong đó, phía Việt Nam công khai
thừa nhận sự giúp đỡ của Trung Quốc cho mình trong những năm kháng chiến chống thực dân
Pháp (1950-1954). Cũng ở đây, phía Việt Nam tố cáo Trung Quốc tư lợi khi giải quyết vấn đề
Đông Dương ở Hội ngị Giơnevơ năm 1954. Cùng thời gian này, ở Pháp, Phrăngxoa Goayô cho
xuất bản công trình Trung Quốc với việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất;
trong đó, tác giả cung cấp những số liệu về việc Trung Quốc viện trợ cho VNDCCH những năm
1950-1954. Công trình này cũng đi sâu phân tích sự tác động của Trung Quốc khiến VNDCCH
chấp thuận giải pháp chia cắt đất nước tại Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương, 1954. Đáng tiếc,
cũng như công trình của Zasloff, sách trắng của Việt Nam và nghiên cứu của Phrăngxoa Goayô
không cho biết rõ việc vận động Trung Quốc của VNDCCCH trước và trong Hội nghị Giơnevơ
về Đông Dương, 1954.
Sang thập niên 80 của thế kỷ XX, hoạt động vận động quốc tế của VNDCCH trong kháng
chiến chống Pháp tiếp tục được bổ sung, làm rõ hơn. Năm 1981, từ thực tế trải nghiệm của mình
ở Việt Nam năn 1945, Archimedes L. A. Patti, Thiếu tá tình báo quân đội Mỹ, cho công bố công
trình Why Vietnam? (Tại sao Việt Nam?). Trong đó, những cố gắng của Chính phủ VNDCCH,
nhất là của cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc giành ủng hộ của Mỹ và các nước phương
Tây được trình bày chi tiết và cụ thể hơn; ở một công trình khác, năm 1988, Philippe Devillers
cho công bố công trình sưu tập tư liệu về cuộc chiến tranh Việt-Pháp, 1944-1947 mang tên Pari-
Saigon-Hanoi; trong đó, tác giả công bố những thư tín của chủ tịch Hồ Chí Minh gửi phía Pháp
và nỗ lực xây dựng quan hệ thân thiện với phương Tây của VNDCCH nhằm vãn hồi hòa bình
trong những năm 1945-1947. Cũng trong năm 1988, ở Việt Nam, Đào Quang Cát có các công
độc giả cũng được biết rõ hơn về thái độ của Liên Xô cùng sự đồng thuận Xô-Trung trong việc
giải quyết vấn đề Việt Nam tại Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương năm 1954.
Về nỗ lực vận động sự ủng hộ từ Mỹ, Trung Quốc những năm trước 1950, trong thời gian
này nổi bật có các các công trình của W.J. Duiker như: The communist road to power in Vietnam
(Con đường nắm quyền của cộng sản Việt Nam) (1995), US containment and the conflict in
Indochina (Chính sách ngăn chặn của Mỹ và cuộc xung đột ở Đông Dương) (1996), Ho Chi
Minh- A life (Hồ Chí Minh- Một cuộc đời) (2000)…
Về việc vận động sự ủng hộ từ Lào, Campuchia, gần đây, ở Việt Nam có một số công
trình nghiên cứu bổ sung tài liệu lưu trữ, hồi kí về những hoạt động đoàn kết, liên minh chiến
đấu giữa VNDCCH với Lào và Campuchia trong những năm sau 1945 như Quân tình nguyện
Việt Nam ở Campuchia thời kỳ 1945-1954 (tư liệu lịch sử) của Ban Liên lạc cựu chiến binh Quân
tình nguyện Việt Nam ở Campuchia thời kỳ 1945-1954 (2000), Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt
Nam-Lào, Lào-Việt Nam, 1930-2007 do Đảng Nhân dân cách mạng Lào và ĐCS Việt Nam tổ
chức biên soạn (2011)…
Ngoài ra, từ thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay, dựa trên nhiều nguồn tư liệu được công
bố, ở Việt Nam đã có nhiều công trình, chuyên khảo về nỗ lực vận động ngoại giao của
VNDCCH, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong một phần hoặc toàn bộ cuộc kháng chiến chống Pháp
(1945-1954) như: Ngoại giao Việt Nam, 1945-2000 do Nguyễn Đình Bin chủ biên (2005); Hoạt
động đối ngoại của nước VNDCCH thời kỳ 1945-1950, Luận án Tiến sĩ lịch sử của Nguyễn
Trọng Hậu (2001); Hồ Chí Minh với cuộc vận động sự ủng hộ quốc tế trong kháng chiến chống
thực dân Pháp, 1946-1954, Luận văn Thạc sĩ của Trần Thị Mai Dung (2010); Các nước XHCN
ủng hộ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) của Nguyễn Thị Mai Hoa
(2013)…
Như thế, cho đến nay, cuộc vận động quốc tế của VNDCCH trong kháng chiến chống
thực dân Pháp (1945-1954) đã được quan tâm, nghiên cứu ở nhiều mức độ, khía cạnh khác nhau.
Dù vậy, vấn đề này vẫn chưa được nghiên cứu toàn diện, hệ thống trong một chuyên khảo nào;
quá trình phát triển của cuộc vận động quốc tế của VNDCCH những năm từ 1945 đến 1954 cũng
chưa được làm rõ.
Nghiên cứu về cuộc vận động quốc tế trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-
1954), các học giả thường nhấn mạnh thực tế VNDCCH không nhận được sự công nhận và trợ
chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) trên mọi chiều cạnh, từ yêu cầu khách quan, diễn biến
cho đến kết quả.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung khoa học: Nghiên cứu những hoạt động chính, quan trọng, nổi bật của
VNDCCH trong quá trình vận động sự ủng hộ quốc tế đối với cuộc kháng chiến chống
Pháp.
Về thời gian: Mốc bắt đầu nghiên cứu là từ tháng 9/1945- thời điểm cuộc kháng chiến bắt
đầu và mốc kết thúc nghiên cứu là tháng 7/1954 – khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết
thúc.
Về không gian: Không gian nghiên cứu là những địa bàn liên quan đến hoạt động vận
động quốc tế của VNDCCH.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành những mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của mình, luận văn sử dụng
phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Ngoài ra, luận văn còn ứng dụng những phương
pháp thống kê, so sánh.
6. Nguồn tài liệu
Phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ đặt ra ở trên, luận văn sử dụng nhiều nguồn tài liệu
thành văn ở trong và ngoài nước.
- Về nguồn tài liệu trong nước:
+ Các văn kiện của ĐCS Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-
1954 đã được in trong bộ Văn kiện Đảng toàn tập do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành
những năm 2000, 2001; các bài nói và bài viết của chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1945 đến năm
1954 in trong bộ Hồ Chí Minh toàn tập do Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 2011.
+ Các báo cáo, thống kê về viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc cho VNDCCH những năm
1950-1954 khai thác từ Trung Tâm Lưu trữ, Bộ Quốc phòng (K4); các báo cáo về hoạt động giúp
đỡ cách mạng Campuchia những năm từ 1950 đến 1954 khai thác từ Cục Lưu trữ Văn phòng
Trung ương ĐCS Việt Nam.
+ Các điện tín trao đổi giữa VNDCCH với Trung Quốc khai thác từ Phòng Lưu trữ, Bộ
Ngoại giao.
+ Các sách, báo, luận văn và luận án viết về hoạt động đối ngoại của VNDCCH trong
2. Ban Cán sự Tây Nam Cao Miên báo cáo tình hình công tác năm 1953 và nhiệm vụ công tác năm 1954, Cục
Lưu trữ Văn phòng Trung ương ĐCS Việt Nam, Phông Ban Lào -Mên, số 73, mục lục số 1,
đơn vị bảo quản số 93.
3. Ban chỉ đạo Biên soạn lịch sử Chính phủ Việt Nam (2006), Biên niên lịch sử Chính phủ
Việt Nam, 1945-2005, Tập 1, 1945-1954, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
4. Ban chỉ đạo Biên soạn Lịch sử Chính phủ Việt Nam (2006), Lịch sử Chính phủ Việt Nam,
Tập 1, 1945-1955, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5. Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1996), Tổng kết cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp, thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Ban Liên lạc cựu chiến binh Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia thời kì 1945-1954
(2000), Tư liệu lịch sử Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia thời kì 1945-1954, Nxb
Mũi Cà Mau.
7. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương ĐLĐVN (1971), Ba
mươi lăm năm năm đấu tranh của Đảng, Tập II, Nxb Sự Thật, Hà Nội.
8. Báo cáo của Ban Miên-Lào Trung ương về tình hình Miên ba tháng đầu năm 1950, số
014/BLM, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương ĐCS Việt Nam, Phông Ban Lào-Miên, số
73, mục lục số 01, đơn vị bảo quản số 60.
9. Báo cáo về việc làm viện trợ quân sự năm 1953, Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng,
Phông Tổng cục hậu cần, Hồ Sơ 490.
10. Benoit de Tréglodé (2000), Những cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa Việt Nam và Liên Xô
(1947- 1948), Tạp chí Xưa và Nay, (số 73, tháng 3), tr 9-11.
11. Nguyễn Đình Bin (chủ biên) (2005), Ngoại giao Việt Nam, 1945-2000, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
12. Bộ Ngoại Giao (2008), Hiệp định Giơnevơ 50 năm nhìn lại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
13. Bộ Ngoại Giao (1979), Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua, Nxb
Sự Thật, Hà Nội.
14. Bộ Tổng tham mưu, Ban Tổng kết-Biên soạn lịch sử (1991), Lịch sử Bộ Tổng tham mưu
trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954), Hà Nội.
15. Đào Quang Cát (1988), Quan hệ Trung Quốc-Việt Nam trong quá trình cách mạng hai
Hà Nội.
29. ĐCS Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, 1951, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
30. ĐCS Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 13, 1952, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
31. ĐCS Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 14, 1953, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
32. ĐCS Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, Tập 15, 1954, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
2001.
33. Đảng Nhân dân cách mạng Lào, ĐCS Việt Nam (2011), Lịch sử Quan hệ đặc biệt Việt
Nam- Lào, Lào -Việt Nam, 1930-2007, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
34. Điện Biên Phủ-Hợp tuyển công trình khoa học (2005), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
35. Điện của đồng chí Chu Ân Lai, số 1 ngày 10 tháng 7 năm 1954, Phòng Lưu trữ Bộ Ngoại
giao, Tổ Tổng kết, Hồ sơ số 182.
36. Dixee R. Bartholomew-Feis (2007), OSS và Hồ Chí Minh-Đồng minh bất ngờ trong cuộc
chiến chống phát xít Nhật, Lương Lê Giang dịch, Nxb Thế giới, Hà Nội.
37. Geir Lundestad (2009), Đông Tây Nam Bắc-Diễn biến chính trong quan hệ quốc tế từ
1945, Học viện ngoại giao dịch, Nxb Thế Giới, Hà Nội.
38. Nguyễn Kiến Giang (2006), Nhìn lại quá trình du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt
Nam, Tạp chí Talawas,
showFile.php?ré=6945&rb=0401
39. Võ Nguyên Giáp (1995), Chiến đấu trong vòng vây, Hồi ức, Hữu Mai thể hiện, Nxb
Quân đội nhân dân- Nxb Thanh Niên, Hà Nội.
40. Võ Nguyên Giáp (2000), Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử, Hồi ức, Hữu Mai thể hiện,
Nxb QĐND, Hà Nội.
41. Võ Nguyên Giáp (2001), Đường tới Điện Biên Phủ, Hồi ức, Hữu Mai thể hiện, Nxb
Quân đội Nhân dân, Hà Nội.
42. Ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp
(2002), Hồi kí những người trong cuộc, bản dịch tiếng Việt của Trần Hữu Nghĩa và
Dương Danh Dy, Nxb Lịch sử ĐCS Trung Quốc, Bắc Kinh.
58. Lưu Văn Lợi, Nguyễn Hồng Thạch (2002), Pháp tái chiếm Đông Dương và Chiến tranh
lạnh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
59. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, xuất bản lần thứ ba, tập 4, 1945-1946, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
60. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, xuất bản lần thứ ba, tập 5, 1947-1948, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
61. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, xuất bản lần thứ ba, tập 6, 1949-1950, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
62. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, xuất bản lần thứ ba, tập 7, 1951-1952, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
63. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, xuất bản lần thứ ba, Tập 8, 1953-1954, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
64. Những chi tiết đáng chú ý trong chuyến đi của Chủ tịch Việt Nam đến Matxcơva năm
1950, 20 tháng mười 2011, Đài Tiếng nói nước Nga,
65. Vũ Dương Ninh (2007), Việt Nam-Thế giới và Hội nhập (Một số công trình tuyển chọn),
Nxb Giáo Dục, Hà Nội.
66. Philippe Devillers (2003), Paris- Saigon- Ha Noi, Hoàng Hữu Đản dịch, Nxb Tổng hợp
T.P Hồ Chí Minh, T.P Hồ Chí Minh.
67. Đặng Phong (2002), Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, Tập I, 1945-1954, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội.
68. Phrăngxoa Goayô (1981), Trung Quốc với việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương
lần thứ nhất, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội.
69. Lữ Phương (2012), Lịch sử thử nhìn lại, Tạp chí Thời đại mới, (số 25, tháng 7), tr 1-15,
70. Pierre Brocheux (2012), Những suy tưởng về Việt Nam, Tạp chí Thời đại mới, (số 2,
tháng 3), tr 31-47),
71. Dương Trung Quốc (2007), Hơn nửa thế kỷ “Dân cày có ruộng”, Tạp chí Xưa và Nay, (số
297, tháng 12), tr 4-9.
72. Sa Lực, Mân Lực (1992), 9 lần xuất quân lớn của Trung Quốc, Nxb Văn nghệ Tứ Xuyên,
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, 1945-1954, phần thứ ba: Viện trợ vật chất
của Trung Quốc cho Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp, tài liệu lưu tại
thư viện Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, số K 78, Hà Nội.
88. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2000), Giải quyết một số vấn đề kỹ thuật quân sự trong
30 năm kháng chiến (1945-1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
89. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2004), Lịch sử các đoàn 81, 82, 83, 280 Quân tình
nguyện Việt Nam tại Lào, Nxb QĐND, Hà Nội.
90. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2003), Lịch sử chiến thuật QĐNDVN (1945-1975), Tập
1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
91. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1995), Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp,
1945- 1954, Tập II, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
92. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2013), Lịch sử Hậu cần kỹ thuật quân sự Việt Nam
trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
93. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2002), Lịch sử kỹ thuật quân sự Việt Nam trong kháng
chiến chống thực dân Pháp (1945- 1954), Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội.
94. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2002), Lịch sử Quân Tình nguyện Việt Nam trong cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp tại Lào (1945-1954), Nxb QĐND Hà Nội.
95. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2000), Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống
thực dân Pháp (1945-9154), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
96. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2003), Tổng kết chiến dịch trong hai cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp vầ đế quốc Mỹ (1945- 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
97. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1999), Tổng kết chiến thuật trong hai cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
98. Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, Tập X, 1945-1950, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
99. Phạm Xanh (2006), Góp phần tìm hiểu lịch sử quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
II. Tiếng Anh
100. Amitav Acharya (2011), “Asia is not one: Regionalism and Ideas of Asia”, ISEAS working
paper: Politics and Security series (No 1), Institute of Southeast Asian Studies,
Ostermann, Woodrow Wilson Centter Press, Washington, D.C.
111. Christopher E. Goscha (2006), Courting diplomatic disaster? The difficlt integration of
Vieetnam into the Internationalist Communist movement (1945- 1950), Journal of
Vietnamese studies, Vol 1, number 1-2, the Regents of the University of California, pg
59-103.
112. David G. Marr (1997), Vietnam 1945: The quest for power, University of California
press, Berkeley, Los Angelles, London.
113. Department of Public imformation (United Nations) (1950), Yearbook of the United
Nations, 1948-1949, Part One: The United Nations, United Nations Publications, New
York.
114. Department of State (US) (1955), Foreign relations of the United States, Diplomatic
papers, The Conference at Malta and Yalta 1945, United States Government printing
office, Washington.
115. Department of State (US) (1958), Foreign relations of The United States, Diplomatic
papers, 1941, Vol. I, General, The Soviet Union, United States Government printing
office, Washington.
116. Department of State (US) (1960), Foreign relations of the United States, Diplomatic
papers, The conference of Berlin (The Postdam Conference), 1945, Vol. II, United States
Government printing office, Washington.
117. Department of State (US) (1969), Foreign relations of the United States, Diplomatic
papers, 1945, Vol. VI, The British Commonwealth, The Far East, United States
Government printing office, Washington.
118. Department of State (US) (1971), Foreign relations of the United States, 1946, Vol.
VIII, The Far East, United States government printing office, Washington.
119. Department of State (US) (1972), Foreign relations of the United States, 1947, Vol. VI,
The Far East, United States Government Printing office, Washington.
120. Department of State (US) (1974), Foreign relations of the United States, 1948, Vol. VI,
The Far East and Australasia, United States Government printing office, Washington.
121. US Department of State (1975), Foreign relations of the United States, 1949, Vol. VII,
The Far East and Australasia, part 1, United States Government Printing office,
135. King C. Chen (1969), Vietnam and China, 1938-1954, Princeton University press,
Princeton, N.J.
136. Letter from Ho Chi Minh to President Harry S. Truman, (28/2/1946), The U.S. National
Archives and Records Administration, http:/www.archives.gov/historical-dóc/today-
doc/?dod-date=228
137. Marcel Vigneras (1989), United States Army in World war II, special studies, Rearming
the French, Center of Military history, United States Army, Washington, D.C.
138. Mari Olsen (2006), Soviet-Vietnam relations and the role of China, 1949-64, Changing
alliances, Routlelgde, London and New York.
139. Melvyn P. Leffler (1999), The Cold war: What do “We now know?”, The American
historical Review, (Vol. 104, No 2), pg 501-524.
140. Nicholas Tarling (1998), Britain, Southeast Asia and the Onset of the cold war, 1945-
1950, Cambridge University press, New York.
141. P. F. Langer and J. J. Zasloff (1969), Revolutions in Laos: The North Vietnamese and
the Pathet Lao, The Rand Copration, Santa Monica, California.
142. Pierre Cenerrelli (2000), Revisions of Empire: The French media and the Indochina
war, 1946-1954, A Dessertion presnted to the faculty of graduated school of arts and
sciences, Brandeis University, microform, Bell & Howell information and learning
Company, USA.
143. Qiang Zhai (2000), China and the Vietnam wars, 1950-1975, the University of North
Carolina Press, Chepel Hill and London.
144. Report of Pham Ngoc Thach to the Soviet Envoy in Switzerland, A. G. Kulazhenkov,
September 20, 1947, Woodrow Wilson International Center for Scholars,
145. Shu Guang Zhang (2001), Economic Cold war: American’s embargo against China and
the Sino-Soviet Alliance, 1949-1963, Woodrow Wilson Center Press, Washington, D.C,
Stanford University Press, Stanford, California.
146. Situation within the Party, Woodrow Wilson International Center for Scholars,
147. Ton That Tien (1989), The foreign politics of the Communist party of Vietnam, A study