ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, B ổ i DƯỠNG GIẢNG VIÊN LỶ LUẬN CHÍNH
HUỲNH VĂN THỚI
ĐẢNG BỘ TỈNH LONG AN LÃNH ĐẠO
XÂY DỤNG Lực LƯỢNG vũ TRANG
TRONG NHỮNG NĂM 1954 - 1965
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:
: 5.03.16
LUẬN VĂN THẠC s ĩ LỊCH s ử
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN ĐÌNH LÊ
ĐAI H Ọ C Q U Ố C GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM THÕNG TIN THƯ VIÊN
VHÀ NỘI - 2005
UI54-]
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi dưới sự hướng dẫn của PGS. TS. Nquyển Đìnli Lê. Các sô
liệu, tài liệu nêu ra trong luận văn là trung thực, đảm háo tính
2
Xây dựng lực lượng vũ trang trong những năm 1961 1965.............................................................................................
3
2.1.
Tình hình Long An sau Đồng khởi năm 1960......................
3
2.2.
Quá trình Đảng bộ Long An lãnh đạo xây dựng lực lượng
vũ trang trong những năm 1961 - 1965...................................
Chương 3.
3
Nhận xét những thành quả, ý nghĩa và bài học kinh
nghiệm trong công tác lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ
trang tỉnh Long An trong những năm 1954 - 1965.........
3.1.
3-2.
dân Long An, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương chống chủ nghĩa thực
dân kiểu mói diễn ra quyết liệt từ rất sớm. Trong 10 năm đầu chống Mỹ, cứu
nước (1954-1965) quân và dân Long An đã lớn mạnh không ngừng và đã tạo
thế trở thành “Long An trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ” của thời kỳ
sau. Trong cuộc đấu tránh chung của nhân dân toàn tỉnh, vị thế của lực lượng
vũ trang cách mạng Long An vô cùng quan trọng. Do đặc điểm lịch sử, xã hội
và đặc biệt do sự chỉ đạo nhạy bén của Trung ương, của Xứ ủy và trực tiếp của
Tỉnh ủy, nên lực lượng vũ trang cách mạng Long An ra đời sớm. Vào giữa
năm 1956, lực lượng vũ trang tự vệ ở Long An đã nhóm lập. Từ đó đến khi Mỹ
bất đầu thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam, lực lượng vũ
trang cách mạng Long An dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương, đã phát
triển không ngừng,
Sự ra đời và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng Long An trong 10
năm đầu chống Mỹ, cứu nước (1954-1965) không nằm ngoài quy luật xây
dựng lực lượng vũ trang cách mạng do Đảng lãnh đạo. Mặt khác, sự ra đời, tổn
tại và phát triển của nó có những nét riêng và chính sự lãnh đạo sâu sát của
cấp ủy địa phương đã nắm bắt được những nhân tố đó và đã kiện trì xây dựng
lực lượng vũ trang cách mạng địa phương trong những năm tháng cách mạng
miền Nam gặp nhiều khó khăn, gian khổ.
Tìm hiểu sự ra đời và phát triển của lực lượng vũ trang cách mạng Long
An dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương trong thời kỳ đầu chông Mỹ,
2
cứu nước (1954-1965) không chỉ ôn lại lịch sử hào hùng của mảnh đất trung
dũng kiên cường này, mà hom thế nữa, có ý nghĩa thiết thực cho công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ quê hương ngày hôm nay. Bởi vị thê địa lý và
đặc điểm xã hội của địa bàn chiến lược này, luôn đặt ra nhiệm vụ vừa xây
dựng chủ nghĩa xã hội, vừa phải nâng cao cảnh giác, chống mọi âm mưu phá
Cuốn How the war comes to Long An của Jamer R.Petter. New York,
1972), tác giả người Mỹ này đã trình bày quá trình Mỹ đã thực hiện những thủ
đoạn chiến tranh ở Long An như thế nào trong những năm 1960.
Luận văn cử nhân Lịch sử Đảng bộ Long An chỉ đạo xây dựng lực lượng
vũ trang và lực lượng chính trị trong thời kỳ ỉ 954 - I960 của Nguyễn Đình Lê
(trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1976) có trình bày khái quát quá trình ra
đời và phát triển lực lượng vũ trang địa phương trong thời kỳ đấu tranh giữ gìn
lực lượng cách mạng (1954-1965).
Nói chung các công trình nghiên cứu đã công bố cho thấy phương
hướng xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang địa phương, nhưng chưa đi
sâu nghiên cứu cụ thể.
3.
Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn
- Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là:
+ Làm sáng tỏ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Long An đối với việc xây
dựng lực lượng vũ trang trong những năm 1954-1965.
+ Bước đầu nhận xét thành quả, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm trone
công tác lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang.
- Luận văn có những nhiệm vụ sau:
+ Tập hợp, hệ thống hóa tư liệu có liên quan đến đề tài từ những nguồn
khác.
+ Trình bày những chủ trương của Đảng bộ Long An qua mỗi giai đoạn
lịch sử gắn với những biến động lịch sử cụ thể.
4
cách mạng địa phương trong thời kỳ đầu chống Mỹ, cứu nước. Vạch ra được
5
sự ra đòi và phát triển của lực lượng vũ trang địa phương trong nhũng năm
tháng đầu của cuộc kháng chiến thần thánh lần thứ hai của dân tộc là sự kế tục
và phát huy truyền thống tự lực, tự cường của toàn Đảng bộ và nhân dán trong
tỉnh trong cuộc kháng chiến thần thánh lần thứ nhất.
- Ra đời trong hoàn cảnh vô cùng đặc biệt, song lực lượng vũ trang
Long An nói riêng và lực lượng vũ trang cách mạng Nam Bộ nói chung trong
những năm đầu chống Mỹ, cứu nước không có gì khác hơn là một bộ phận đặc
biệt của đội quân cách mạng - quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng lãnh
đạo. Vì thế, khi lực lượng vũ trang cách mạng miền Bắc vào chi viện chiến
trường miền Nam - trong đó có chiến trường Long An trung dũng kiên cường,
thì sức mạnh tại chỗ của lực lượng vũ trang cách mạng địa phương được nâng
lên gấp bội và mặt khác, các đơn vị chủ lực từ Bắc vào, ngay từ đầu đã phát
huy được vai trò của mình chính bởi đã có sẵn lực lượng vũ trang cách mạng
địa phương.
- Nêu những nhân tố, điều kiện căn bản để xây dựng lực 'lượng vũ trang
địa phương, thế quốc phòng toàn dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, quê hương hiện tại ở địa bàn chiến lược này.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
Chương 1: Xây dựng lực lượng vũ trang trong những năm 1954 - 1960
Chương 2: Xây dựng lực lượng vũ trang trong những nãm 1961 - 1965.
Chương 3: Nhận xét thành quả, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm trong
côríg tấc lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh Long An trong những năm
1954- 1965.
7
nguồn lương thực cho Sài Gòn và Trung Trung Bộ, cũng như bảo vệ phía Nam
Sài Gòn. Với vị thế đó, Long An là một cửa ngõ quan trọng vào Sài Gòn, đồng
thời là địa bàn chiến lược nối liền các tỉnh miền Đông và miền Tây của đồng
bằng Nam Bộ. Vì vậy, đối với địch cũng như đối với ta, Long An có vị trí
chiến lược cực kỳ quan trọng. Nói về vị trí chiến trường Long An, JefreyRocce - chuyên gia nghiên cứu quân sự của Mỹ, tác giả cuốn “Chiến tranh xảy
ra tại Long An” đã viết: “Theo khía cạnh chiến lược, ai khống chế được tỉnh
Long An, người đó ở vị trí thượng phong, hoặc để tấn công thủ đô (Sài Gòn)
hoặc làm cho Sài Gòn đói, hoặc cả hai” [30, tr.20].
Là một tỉnh ở đồng bằng Nam Bộ nên Long An có một .hệ thống sông
ngòi chằng chịt: 7 con sông lớn và một mạng lưới kênh rạch dọc ngang tỏa chi
chít từ suốt các vùng tương đối khô ráo ở Đức Hoà:, Đức Huệ, dọc biên giới
về tận các vùng trũng thấp lầy lội Cần Giuộc, Bến Lức, Cần Đước.
Đất Long An phù hợp vói các giống: lúa, mía, lạc, dứa, thuốc lá, dừa.
So với các tỉnh ở đồng bằng Nam Bộ, Long An có năng suất lúa khá cao, còn
mía ở Long An nổi tiếng ở miền Nam, vì mía ở đây giống tốt, đất phù hợp với
canh tác mía.
Về mùa lúa, trong những năm 1954 - 1960 Long An có thể cung cấp
cho Sài Gòn 15 vạn tấn. Nhà máy đường Hiệp Hòa ở Long An sản xuất 3.000
lít rượu ngon và tiêu thụ 1.500 tấn mía mỗi ngày. Dân số Long An trong
những nãm 1959 có trên dưới 450.000 người, trong đó có khoảng 1.500 công
nhân, còn đa số nhân dân Long An làm nghề nông (chiếm 85% dán sô trong
tỉnh). Trong tổng dân số lúc bấy giờ ở Long An, có hơn 1.500 người ngoại
quốc, gồm ngưòi của các nước: Trung Quốc, Ân Độ, Pháp, Cămpuchia.
Ở Long An có rẩt nhiều người theo đạo Phật, một số khác đi theo đạo
Hòa Hảo, Cao Đài và một số ít bà con theo đạo Thiên Chúa Giáo (Công giáo).
8
9
An đã có vị trí chiến lược quan trọng. Hơn thế nữa, Long An lại giáp ranh với
các chiến lược khác: cửa biển độc đạo vào Sài Gòn; biên giới chiến khu Đồng
Tháp, Tây Ninh, Củ Chi; giáp tuyến biên giói Campuchia, nên ở đây hình
thành một vùng chiến lược quan trọng.
Chính vì tất cả những lý do trên, nên ngay sau khi thế Pháp, Mỹ - Diệm
đã áp dụng ở đây những âm mưu đen tối, những thủ đoạn đàn áp, vơ vét trắng
trợn, có tính toán cân nhắc tinh vi... hòng để biến Long An thành một kho dự
trữ lương thực, một mảnh giáp chở che toàn bộ khu vực phía Tây Nam sào
huyệt của chúng.
1.1.2.
Những âm mưu, thủ đoạn của M ỹ - Diệm ở Long An trong
những năm 1954 -1960
Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Diệm tập trung lực lượng gạt
mọi thế lực thân Pháp. Từ giữa năm 1955, Diệm mở nhiều cuộc hành quân càn
quét để “tảo thanh” những lực lượng chống Diệm. Trong nhiều cuộc hành
quân càn quét vùng Nam Bộ với quy mô lớn (3 hoặc 4 sư đoàn) Diệm lấy
Long An làm địa bàn xuất phát các cuộc hành quân. Bởi vì, Long An là tinh
gối đầu của Đồng Tháp, và hơn nữa, ở Long An lực lượng vũ trang giáo phái
Cao Đài từ Tây Ninh xuống chiếm đóng dọc tuyến sông Vàm c ỏ Đông, Vàm
Cỏ Tây, lực lượng Hòa Hảo kéo vào vùng Đồng Tháp Mười chiếm đóng dọc
kênh: Dương Văn Dương, Nguyễn Văn Tiếp. Trong cuộc hành quân rừng Sát
(21/9/1955 - 24/10/1955) và cuộc hành quân Đồng Tháp (01/01/1955), những
cuộc hành quân được Diệm tuyên truyền phô trương ầm ĩ, những cuộc hành
Tân A và Chợ Lớn. Y là tên tay sai trung thành đắc lực của Diệm. Y đã tiến
hành ở Long An nhiều kế hoạch ly gián, dụ dỗ, theo dõi cán bộ ta theo phương
pháp tình báo tinh vi. Y đã cho tay sai thực hiện kế hoạch “bàn tay sắt” và
“bàn tay nhung” khá thâm độc để đánh phá cách mạng trong tỉnh. Chúng thực
hiện chủ trương “dương đông kích tây”, “thả chài bắt cá” ở một sô' nơi, nhằm
gây chia rẽ, nghi kỵ giữa những người đồng chí vói nhau, giữa nhân dân với
nhau. Những âm mưu thủ đoạn đó, chúng không phải không gây được ít nhiều
sự nghi ngờ giữa những người đã từng kề vai sát cánh bên nhau... Trong năm
11
1955 - 1956, Mỹ Diệm đã bắt hàng ngàn đồng bào ở tỉnh Tân An, Chợ Lớn.
Chúng trói tay chân, đan rọ nhốt đồng chí ta rồi ban đêm đem thả xuống sông
ở quận Cần Giuộc, chúng chặt đầu bên chợ ở Mộc Hóa.
Song song với thủ đoạn quân sự, Diệm tập trung sức củng cố bộ máy
ngụy quyền xuống tận quận, xã, nhất là sau đợt bầu cử “Quốc hội” khóa I
(1956). Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Diệm sát nhập tỉnh Tân An và tỉnh Chợ
Lớn thành tỉnh Long An, gồm có 7 quận: Gò Đen, Cần Đước, Cần Giuộc. Thủ
Thừa, Tân Trụ, Châu Thành và Đức Huệ, với tổng số 96 xã và 828 thôn ấp. ở
Long An, Diệm đặt chế độ quân trị khá sớm (quân sự ho a bộ máy cai trị).
Ngày 14/3/1957, hệ thống chính quyền địch từ tỉnh xuống quận đã nằm trong
tay bọn sĩ quan thân tín của Diệm [47].
Bọn sĩ quan quân đội làm tỉnh trưởng thay thế cho chế độ dân sự. Hệ
thống chính quyền của Diệm ở Long An mang tính phục thù giai cấp rõ rệt,
được thể hiện trong báo cáo của viên tỉnh trưởng Long An về “biện pháp để
nắm cơ sở nông thôn” [48]. Y cho rằng, tiêu chuẩn để chọn trưởng ấp là “cựu
quân nhân càng tốt”. Như vậy, Diệm chọn bọn đã từng làm tay sai cho Pháp
trước đây được lấy làm tiêu chuẩn số một để lấp vào bộ máy đàn áp phát xít
của Mỹ Diệm. Chính quyền miền Nam sau tháng 7/1954 là một hệ thống tay
máy xây dựng chính quyền mà còn biết chú ý xây dựng cho chúng những cơ
sở xã hội để làm chỗ dựa cho chính quyền tay sai của Mỹ - Diệm. Chúng dùng
nhiều thủ đoạn để lừa gạt đồng bào ta, nhất là những người nhẹ dạ, những
người theo đạo Công giáo ở miền Bắc di cư vài miền Nam như: Chúa đã vào
Nam, Chính phủ Việt Minh sẽ cấm đạo và diệt đạo, Mỹ sẽ ném bom xuống
miền Bắc... nhằm gây rối tình hình miền Bắc sau ngày giải phóng, đồng thời
tạo ra cơ sở chính trị cho Mỹ - Diệm ở miền Nam Việt Nam. Ở Long An, đầu
năm 1955, Ngô Đình Diệm đưa 20 ngàn dân di cư từ miến Bắc vào Thạnh Trị,
Thái Trị, Gãy Còn Đen, Nhơn Hòa Lập (Mộc Hóa) với 20 ngàn dân di cư lập 3
khu Công giáo ở Lộc Giang, Hiệp Hòa, Hòa Khánh (Đức Hòa); đồng thời
chúng còn lập “khu dinh điền chống cộng” [42, tr.47]; lập “hiệp hội nông
dân”, “phong trào quốc gia”, “nghiệp đoàn công nhân”, “hội phụ nữ”, “phong
13
trào tranh thủ tự do”... ở Long An. Tất cả các tổ chức trên chúng lập ra với
mục đích rất rõ ràng là để “tranh thủ nhân tâm trước Việt cộng” và “không để
lại cho Cộng sản một người dân nào”.
Long An có Nhà máy đường Hiệp Hòa lớn nhất miền Nam. Nhà máy
này vốn trước kia của Pháp. Pháp cút, Diệm được Pháp cho đầu tư vốn, cho
nền từ 1954 trở đi nó là liên doanh của Pháp và Diệm. Vì thế, Ngô Đình Diệm,
Ngô Đình Nhu và Trần Lệ Xuân rất quan tâm đến nguồn lợi kinh tế lớn lao
này của chúng ở Long An. Trong nhà máy đường Hiệp Hòa kể trên, Ngô Đình
Nhu cho lập “Nghiệp đoàn công nhân Nhà máy đường Hiệp Hòa”, một tổ
chức “công đoàn vàng” để chống phá nghiệp đoàn công nhân do công nhân
nhà máy cử ra. Ngoài những nghiệp đoàn công nhân do “Đảng cần lao nhân
vị” của Diệm lập, thì mọi tổ chức nghiệp đoàn công nhân khác (kể cả nghiệp
đoàn có từ thòi Pháp hay mói lập), đều bị Diệm - Nhu làm biến tướng, hoặc
làm cho tê liệt phải giải tán. Do vậy, đến giữa năm 1959, trong số một nghiệp
vệ” lên thay lực lượng bảo an và thay lực lượng “dân vệ” hoạt động ở các thôn
ấp, là lực lượng “thanh niên bảo vệ hương thôn”. Lực lượng thanh niên bảo vệ
hương thôn này đến cuối năm 1959 đã lập được 62 trung đội, trong đó có
3.000 “cán bộ sơ cấp” và hơn 100 “cán bộ trung cấp” làm nòng cốt cho hơn 5
vạn “đoàn viên”. Chúng đã huấn luyện đội “thanh niên bảo vệ hương thôn” từ
thấp lên cao. Từ học “chính trị” đến tập quân sự. Từ tập quân sự vài ngày
trong một quý, đến tập .vài chục ngày trong một tháng. Trong kế hoạch "huy
tập lực lượng” của tên tỉnh trưởng Long An, chúng dự định sẽ huy tập lực
lượng được một con số khoảng 6 vạn người trong tỉnh “có khả năng chống
cộng sản”. Thực chất của “thanh niên bảo vệ hương thôn” đã biến thành một
tổ chức bán quân sự trá hình của Diệm ở địa phương. Tính đến tháng 11/1969.
chỉ riêng lực lượng quân sự của địa phương (không kể các sắc lính thiện chiến
chủ lực của Diệm như lính dù, lính thủy đóng ở Long An) chúng đã có một
tỉnh đoàn bảo an dân vệ. Một trung đội thám báo trực thuộc tỉnh, 6 trung đội
thám báo của 3 huyện sát biên giới, 7 đại đội địa phương, 1 đại đội biệt kích
thuộc tỉnh, 14 trung đội biệt kích lưu động, 1 đại đội tăng cường biên eiới.
15
Nhìn vào các sắc lính địch trong tỉnh, ta thấy tỷ lệ bọn biệt kích thám báo khá
đông, chính bọn cố vấn Mỹ đã dày công huấn luyện bọn này. Năm 1957, bọn
cố vấn Mỹ đến quan sát tình hình, 1958 - 1959 cố vấn Mỹ đến trực tiếp huấn
luyện và phân phối các mặt hàng viện trợ Mỹ. Cuối 1959 - 1960 Mỹ lập thêm
đội “biệt kích” và chính cố vấn Mỹ trực tiếp trả lương cho đơn vị này không
qua Bộ Chỉ huy quân sự của Diệm ở Long An. Mỹ - Diệm đào tạo một mạng
lưới mật thám dày đặc .trong tỉnh và chúng có rất nhiều biện pháp đê bảo vệ
bọn này tránh lực lượng cách mạng phát hiện, diệt tề điệp. Chúng có mạt rất
đông ở Nhà máy đường Hiệp Hòa, chúng có mặt hầu khắp mọi nơi và mọi lúc.
Chúng thường xuyên giữ tin tức thu lượm về cho Ty An ninh ngụy Long An.
Song, con số 49 địa chủ ở Long An vẫn chiếm 12.000 mẫu đất vào cuối năm
1959 đã nói lên chính sách bịp bợm của Mỹ - Diệm đối với nhân dân ta. Diệm
lừa bịp về “cải cách điền địa” nhimg chúng trắng trợn cướp thật sự ruộng đất
của bà con nông dân trong chính sách “đấu giá công điền”, chính sách đấu giá
công điển là chính sách nhằm cướp lại ruộng đất cách mạng cấp cho bà con
nông dân nghèo trong kháng chiến. Bà con trong tỉnh, ai không có tiền đi “đấu
giá” thì phải mất đất. Song, nếu ai có ít vốn liếng đi “đấu giá công điền” cũng
chưa chắc đã có ruộng, vì giá đấu của người khác cao hơn. Đấu giá công điền
của Diệm, do đó trở thành một chính sách vừa cướp đất của nhân dán, vừa
nhằm chia rẽ bà con nông dân ngay trên mảnh đất cách mạng đã cấp cho họ.
Song, tuyệt đại đa dô' nông dân Long An không mắc mưu trên của Diệm,
không đi đấu giá mà cùng nhau đi đấu tranh chống chính sách nham hiểm đó.
ở Long An, có thể nói rằng, hễ cái gì có thể vơ vét được là Mỹ- Diệm không
từ, năm 1958 thấy có thể vơ vét được sô' tiền lớn của bà con, chúng cho tay
chân tổ chức “đấu giá thủy lợi” trưng công đem bán hệ thống kênh rạch của
đồng bào ở địa phương. Hệ thống kênh rạch ở Long An là một công trình, một
quá trình lao động cần cù của nhân dân địa phương trải qua bao thế hệ mới
xây dựng được. Từ hàng trăm năm về trước, nhân dân Long An vét kênh, đào
mương để phục vụ sản xuất và chiến đấu. Đến giữa năm 1958, Diệm cho tay
17
sai “trưng công” số kênh rạch trên để bà con ai muốn đưa nước vào đồng,
muốn đi lại, muốn đánh cá phải mua kênh rạch mới được sử dụng. Như vậy,
tội ác của Mỹ - Diệm ở Long An là tội ác đối với những người đang sống hiện
tại và xúc phạm đến thành quả lao động của ngưòi đã mất... một tội ác có tính
lịch sử! Mỹ - Diệm kiếm tiền của đồng bào Long An trên ruộng đất, kiếm tiền
cả trong hội họp. Tiép tục chính sách “tố cộng, diệt cộng” trước đây, sang năm
1957 - 1959, bọn chúng ráo riết bắt nhân dân trong tỉnh đi “học tập tố cộng”,
phương. Với Luật 10/59, Mỹ - Diệm đã lên máy chém khắp các nơi trong tinh.
Với Luật 10/59 việc giết người của chúng ở địa phương, về pháp lý mà nói đã
được pháp luật cho phép và khuyến khích; đồng thời vói việc ban hành Luật
10/59, Mỹ - Diệm đã công khai trực tiếp tuyên chiến vói toàn thể nhân dân
miền Nam, trong đó có nhân dân Long An. Tháng 10/1959, Toà án quân sự
đặc biệt của ngụy mở liên tục ở Châu Thành, Đức Hòa, Đức Huệ, chúng xử
chém hàng chục người trong một tháng ở Tân Trụ, Thủ Thừa... chúng giết
người vừa bị bắt ở Cần Giuộc, Cần Đước, chúng giết người bị bắt từ lâu đang
bị chúng giam giữ ở nhà tù Tân An, Bến Lức... Nét nổi bật thứ hai về tội ác và
sự kìm kẹp của địch là việc chúng tiến hành dồn dân, lập “khu trù mật” ở vùng
Đức Huệ. Việc xây dựng khu trù mật ở Đức Huệ - một địa phương có vị trí
quan trọng đối với cách mạng trong tỉnh, việc chúng dồn đồng bào yêu nước ở
các quân khác về tập trung ở đây, là một âm mưu thâm độc nhằm chống phá
cách mạng có trọng điểm, lại vừa có diện tích rộng. Đồng thời với những tội
ác mói, âm mưu nham hiểm của chúng vừa kể trên, Diệm đã chuyển địa bàn.
chuyển sự chỉ huy quân sự ở Long An, giao Long An cho Bộ Tư lệnh quân
khu Thủ đô ngụy - dưới quyền của tên Trung tướng Thái Quang Hoàng, chỉ
huy và sau đó chúng lập khu tam giác và bảo vệ Sài Gòn mà Long An là một
đỉnh quan trọng trong 3 đỉnh tam giác đó. Kết quả của những chính sách ớ
trên của địch áp dụng ở Long An có thể cho phép ta nói rằng: nếu nhu' từ
1954-1960 Diệm đã nỗ lực biến miền Nam thành một căn cứ quân sự khổng lồ
của Mỹ, thì đương nhiên Long An cũng trở thành một bộ phận trong căn cứ đó
và hơn thế nữa Long An đã trở thành một khác quan trọng trong hành lane
phòng thủ Sài Gòn của Mỹ - Diệm. Mặt khác, kết quả những âm mưu thủ
đoạn, tội ác trên của chúng đã gây xáo trộn sâu sắc trong đòi sống tình cảm,
tập quán của nhân dân trong tỉnh. Tội ác của Mỹ - Diệm đối với đồn 2 bào
ngày một tãng lên vói ngày tháng thì lòng căm thù và sức mạnh quật khởi của
19
Nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ cách mạng miềri Nam của Bộ
Chính trị tháng 6-1956 khẳng định: Tính chất cuộc cách mạng của ta ở
miền Nam, là dân tộc và dân chủ. nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là
20
phản đế và phản phong; cuộc đấu tranh này nhất định sẽ lâú dài, gian khổ
và phức tạp nên phải chọn hình thức và phương pháp cách mạng thích hợp.
Hình thức đấu tranh của ta hiện nay là đấu tranh chính trị không phải là đấu
tranh vũ trang. Nói như thế không có nghĩa là tuyệt đối không dùng hình
thức tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định, hoặc không tận dụng những
lực lượng vũ trang giáo phái chống Diệm. Chủ trương tổ chức tự vệ trong
quẩn chúng, nhằm bảo vệ các cuộc đấu tranh và giải thoát cán bộ khi cần
thiết, phải củng cố lực lượng vũ trang và bán vũ trang hiện có và xây dựng
căn cứ làm chỗ dựa, đồng thòi xây dựng cơ sở quần chúng vững mạnh, làm
điều kiện căn bản để duy trì và phát triển lực lượng vũ trang, với nghị quyết
này, Bộ Chính trị đã vạch ra những vấn đề chỉ đạo chiến lược mới đối với
cách mạng miền Nam, trong đó quan trọng nhất là vấn để tự vệ vũ trang để
bảo vệ phong trào đấu tranh của quần chúng, bảo vệ cơ sở và bảo vệ cán bộ
của Đảng.
- Ở Tân An, Chợ Lớn lúc đầu khá đông, tất cả cán bộ đảng viên của
mọi cơ quan, đơn vị về xã sinh hoạt chung trong một chi bộ nên bị địch
đánh gây nhiều tổn thất. Những đảng viên bị lộ, một số phải chuyển vùng,
một số tập trung về các vùng căn cứ cũ ở Đức Hòa, Đồng Tháp Mười và
những vùng bưng biền sát biên giới để tạm lánh. Số cán bộ, đảng viên của
tỉnh Tân An, Chợ Lớn bị bật khỏi cơ sở cũ cũng tập trung về vùng trên, đặc
biệt là vùng Đức Hòa. Lúc đầu anh em tổ chức lại thành tiểu đội, trung đội
để tiện sinh hoạt, tránh né sự càn quét của địch, dần dần được tranơ bị vũ
khí để chiến đấu, bảo tồn lực lượng, bảo vệ căn cứ, bảo vệ vùng giải phóng.
tân binh, đào tạo cán bộ cấp tiểu đội, trung đội, cán bộ quân y. Nhiệm vụ
của lực lượng vũ trang là: bám trụ địa bàn, vũ trang tuyên truyền xây dựng
cơ sở chính trị, xây dựng lực lượng tự vệ, vận động quần chúng góp quỹ
nuôi quân, tổ chức nội tuyến trong lòng địch làm công tác binh vận, trấn áp
tề điệp, địa chủ gian ác, mạnh dạn hoạt động sâu vào vùng đông dân địch
còn kìm kẹp chặt.
22
Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, các đơn vị vũ trang rời căn cứ phân
tán về hoạt động ở vùng đông dân cư theo địa bàn được phân (Tiểu đoàn
506 phụ trách vùng Đức Hòa, Đức Huệ, Bến Lức, Thủ Thừa. Tiểu đoàn 508
phụ trách vùng Cần Đước, Cần Giuộc, Tân Trụ, Rừng Sác). Mỗi trung đội
phụ trách một huyện, một tiểu đội phụ trách hai đến ba xã, mỗi tố phụ trách
một xã.
Có lực lượng vũ trang về đứng chân, nhân dân rất phấn khởi tin
tưởng. Hầu hết các cán bộ chiến sĩ đều là đảng viên có nhiều kinh nghiệm
làm công tác vận động quần chúng. Vì vậy, chỉ trong một thời gian rất ngắn
cơ sở quần chúng phát triển từ xã này đến xã khác và vào sâu thị xã, thị
trấn. Nhiệm vụ lúc này: Diệt ác ôn, giữ gìn lực lượng chính trị, bảo vệ
Đảng.
Với cách bố trí và phân tán lực lượng vũ trang trên thì lực lượng vũ
trang tập trung chỉ là một trung đội nhưng khi tiến công địch sẽ có nhiều
trung đội, đại đội hoặc cả tiểu đoàn. Quán triệt phương châm diệt ác ôn
phải đạt hai yêu cầu: khí thế quần chúng phải lên, bộ máy kìm kẹp của địch
phải lỏng. Lực lượng vũ trang đã trấn áp địch bằng nhiều hình thức nhu'
biểu dương lực lượng, cảnh cáo, bắt bọn tề ngụy nhận tội và sửa chữa. Hoạt
động vũ trang tuyên truyền có tác dụng hỗ trợ cho nông dân giành và giữ
ruộng đất, vận động nông dân vừa đấu tranh vừa trấn áp bọn địa chủ ngóc