LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riêng nghiên cứu sinh. Các số liệu, kết quả trình
bày trong luận án là trung thực, có nguồn gốc xuất
xứ rõ ràng, không trùng lặp với các công trình khoa
học đã được công bố.
Tác giả luận án
Hoàng Văn Vân
1
2
MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1.
Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
1.2.
Khái quát kết quả các công trình khoa học đã được công bố
và những vấn đề đặt ra luận án tập trung giải quyết
Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
Kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo bảo
tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng (1996
5
12
12
28
32
32
49
58
73
73
82
90
115
115
139
3
2015)
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC
CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
5
6
7
8
9
10
11
Chủ nghĩa xã hội
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Di tích lịch sử
Di tích lịch sử văn hóa
Di tích lịch sử cách mạng
Di sản văn hóa
Đảng Cộng sản Việt Nam
Kinh tế xã hội
Ủy ban nhân dân
CNXH
CNH, HĐH
DTLS
DTLSVH
DTLSCM
DSVH
ĐCSVN
KT XH
UBND
5
5
6
Nghệ. Trước năm 1996, trên địa bàn tỉnh Nghệ An có 28 DTLSCM cấp quốc
gia. Các DTLSCM đã được Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An bước đầu
quan tâm bảo tồn và phát huy giá trị. Hoạt động trùng tu, tôn tạo di tích diễn
ra nhiều nơi, do nhiều lực lượng tiến hành. Một số DTLSCM đã được đầu
tư chống xuống cấp, phục hồi, tôn tạo ở các mức độ và trình độ khác nhau.
Tiêu biểu có các di tích Tràng Kè, di tích nghĩa trang liệt sỹ 12/9/1930... Hoạt
động tri ân, tưởng niệm, giáo dục truyền thống, nghiên cứu, học tập, tham
quan ngoại khóa... được tổ chức có nề nếp. Các DTLSCM đã và đang trở
thành nguồn lực để phát triển; là nhân tố quan trọng trong giáo dục truyền
thống cách mạng, hình thành và hoàn thiện nhân cách con người, góp phần
xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Nghệ An.
Tuy nhiên, nhiều DTLSCM đã và đang xuống cấp nghiêm trọng do tác
động của thời tiết, khí hậu, các biến cố lịch sử và sự xâm hại của con
người; hay trong quá trình tu bổ, tôn tạo lại xảy ra hư hỏng, thất lạc, mất
mát và sai lệch so với di tích gốc. Việc phát huy giá trị gặp nhiều khó khăn,
hiệu quả thấp, một số di tích vắng khách tham quan, thiếu người chăm sóc.
Mức độ xâm hại, lấn chiếm di tích ngày càng nghiêm trọng. Sự phát triển
mạnh của kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt thuận lợi mang lại, vẫn
còn có những tác động tiêu cực đến việc bảo tồn DTLSCM như: mâu thuẫn
giữa nhu cầu khai thác nguyên vật liệu, xây dựng các công trình kinh tế,
công trình dân dụng, nhà ở… với yêu cầu bảo tồn nguyên vẹn di tích gốc.
Giá trị quan trọng của các DTLSCM trên địa bàn cả nước nói chung
và Nghệ An nói riêng còn là chứng tích, là vũ khí sắc bén trong cuộc đấu
tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận hiện nay đối với các thế lực chống phá
cách mạng Việt Nam. Các thế lực phản cách mạng vẫn tìm mọi cách xuyên
Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát
huy giá trị các DTLSCM từ năm 1996 đến năm 2015; đúc rút kinh nghiệm
để tham khảo, vận dụng vào hiện tại.
7
8
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trình bày, luận giải những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng
bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM (1996 2015).
Hệ thống hóa và phân tích làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ
tỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM từ năm 1996 đến năm
2015.
Nhận xét, đúc rút những kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An
lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị DTLSCM giai đoạn 1996 2015.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát huy giá
trị các DTLSCM.
* Phạm vi nghiên cứu:
Di tích lịch sử cách mạng là những di tích thuộc loại hình di tích lịch
sử hoặc di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật, nhưng giá trị nổi bật của
chúng được xác định bởi (các di tích đó) hoặc là: Công trình xây dựng, địa
điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia và của địa
phương dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hoặc là công
trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân
tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của
quốc gia hoặc địa phương trong các thời kỳ lịch sử cách mạng, kháng chiến.
nghiêm trọng.
1, Mốc mở đầu để nghiên cứu là năm 1996, năm Đảng bộ tỉnh Nghệ
An tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIV (nhiệm
kỳ 1996 2000), Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần
thứ XIV đánh dấu sự quan tâm nhiều hơn của Đảng bộ đến nhiệm vụ bảo
tồn và phát huy giá trị các DTLSVH nói chung và DTLSCM nói riêng.
2, Phân kỳ lịch sử 2 giai đoạn nghiên cứu là 1996 2005 và 2006
2015; vì đến thời điểm 2005, Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã có chủ trương và
sự chỉ đạo khắc phục sự xuống cấp của một số DTLSCM quan trọng, quan
9
10
tâm đầu tư bảo tồn và phát huy giá trị một số DTLSCM trọng điểm phục
vụ cho năm du lịch Nghệ An 2005. Từ năm 2006, Đảng bộ tỉnh Nghệ An có
sự điều chỉnh về chủ trương và chỉ đạo về bảo tồn và phát huy giá trị các
DTLSCM gắn liền với Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ
XVI (Năm 2006).
3, Mốc thời gian kết thúc để nghiên cứu luận án là năm 2015; Đây là
thời điểm kết thúc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An
lần thứ XVII (năm 2015), Theo đánh giá của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ
tỉnh Nghệ An lần thứ XVIII, nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị các
DTLSCM cấp quốc gia trọng điểm trên địa bàn tỉnh đạt được nhiều thành
tựu quan trọng, các di tích tiêu biểu được đầu tư bảo tồn, tôn tạo bằng
việc thành lập và thực hiện dự án. Hoạt động phát huy giá trị DTLSCM
trong giáo dục truyền thống cách mạng, phát triển văn hóa, gắn bảo tồn di
tích với phát triển du lịch đạt được những kết quả nhất định.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
năm 1996 đến năm 2015.
Đưa ra nhận xét về quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo bảo tồn và
phát huy giá trị các DTLSCM (1996 2015) trên hai bình diện ưu điểm và hạn chế;
làm rõ nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó.
Đúc rút những kinh nghiệm có thể tham khảo, vận dụng vào lãnh đạo
bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
* Ý nghĩa lý luận:
Luận án góp phần tổng kết lý luận, thực tiễn quá trình Đảng bộ tỉnh
Nghệ An lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM trên địa bàn tỉnh
Nghệ An.
* Ý nghĩa thực tiễn:
Những kinh nghiệm rút ra trong luận án có giá trị tham khảo, vận dụng
trong lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM của đảng bộ địa
phương.
11
12
Luận án góp phần bổ sung vào lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An trên
lĩnh vực văn hóa; là nguồn tư liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng
dạy Lịch sử ĐCSVN và Lịch sử đảng bộ địa phương.
7. Kết cấu của luận án
Luận án bao gồm: Mở đầu, 4 chương (10 tiết), Kết luận, Danh mục
các công trình của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án, Danh
mục tài liệu tham khảo và Phụ lục.
12
13
14
Tuy nhiên, mới chỉ giới thiệu sơ bộ về địa điểm và hiện trạng một số công
trình chính của các di tích.
Tác giả Hoàng Thanh Hải (1999), Sử dụng di tích lịch sử trong dạy
học lịch sử dân tộc ở các trường trung học cơ sở [57]. Trong công trình này
tác giả tập trung luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc sử
dụng các DTLS trong dạy học lịch sử dân tộc ở các trường trung học cơ sở;
mối quan hệ giữa các DTLS với nội dung, chương trình lịch sử dân tộc ở
các trường trung học cơ sở. Đề xuất những hình thức và phương pháp sử
dụng các DTLS trong dạy học lịch sử dân tộc ở các trường trung học cơ sở.
Tác giả Từ Mạnh Lương (2003), nghiên cứu về Một số chính sách và
giải pháp kinh tế xã hội chủ yếu nhằm bảo tồn, tôn tạo và nâng cao hiệu
quả khai thác di tích lịch sử văn hóa của dân tộc giai đoạn phát triển mới của
đất nước [87]. Tác giả trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn về các
chính sách, giải pháp KT XH trong bảo tồn, tôn tạo và nâng cao hiệu quả khai
thác các DTLSVH. Nêu lên thực trạng về một số chính sách và giải pháp KT
XH chủ yếu để bảo tồn, tôn tạo, nâng cao hiệu quả khai thác các DTLSVH ở
Việt Nam. Đưa ra một số chính sách và giải pháp KT XH chủ yếu nhằm nâng
cao hiệu quả bảo tồn, tôn tạo và khai thác DTLSVH trong giai đoạn phát triển
mới của đất nước.
Tác giả Đinh Trung Kiên (2003), “Di tích lịch sử và tư liệu lịch sử
với việc phát triển du lịch Việt Nam” [79]. Tác giả chỉ rõ: DTLS và tư liệu
lịch sử là nguồn tài nguyên du lịch sẵn có và hấp dẫn trong phát triển du
lịch. Đưa ra một số biện pháp khai thác hiệu quả DTLS và tư liệu lịch sử
cho phát triển kinh tế du lịch Việt Nam. Cùng nghiên cứu về vai trò của di
tích trong phát triển du lịch, tác giả Nguyễn Văn Đức (2013) với đề tài: Tổ
Quý Khoáng Nghệ An; núi Tam Thanh và núi Nàng Tô Thị Lạng Sơn... Chỉ
rõ nguyên nhân của những vi phạm trên. Qua đó, tác giả đưa ra 12 giải pháp
nhằm hạn chế tối đa tình trạng vi phạm các di tích, danh thắng; nâng cao
hiệu quả quản lý và bảo vệ DTLSVH, danh lam thắng cảnh ở nước ta trong
15
16
thời gian tới. Các tác giả Quốc Hiệp, Thu Hằng (2013) nghiên cứu “Về tình
hình vi phạm và xử lý vi phạm trong hoạt động quản lý, tu bổ, tôn tạo di tích
thời gian qua” [61]. Các tác giả chỉ rõ: “Việc quản lý hoạt động bảo tồn di
tích tại một số địa phương chưa chặt chẽ, một số nơi để xảy ra hiện tượng
tự ý tu bổ hoặc sơn thếp di tích, di vật; không tuân thủ các quy định của
pháp luật về đầu tư xây dựng và tu bổ di tích; đưa đồ thờ tự không phù hợp
vào di tích…, làm ảnh hưởng đến việc giữ gìn yếu tố gốc và tính chất văn
hóa tâm linh của di tích” [61, tr.42]. Công trình đã làm rõ một số vi phạm
thường xảy ra trong bảo tồn di tích như: xâm phạm khu vực khoanh vùng bảo
vệ và giải tỏa trong khu vực di tích; sai phạm trong tu bổ, quản lý các hoạt
động văn hoá, lễ hội tại các di tích. Chỉ ra nguyên nhân của những vi phạm
trên. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu khắc phục và xử lý vi phạm trong
hoạt động quản lý, tu bổ, tôn tạo di tích.
Tác giả Nguyễn Thịnh (2012), Di sản văn hóa Việt Nam, bản sắc và
những vấn đề về quản lý, bảo tồn [116]. Nguyễn Đình Thanh, Lê Thị Minh Lý
(2008), Di sản văn hóa bảo tồn và phát triển [111]. Các tác giả tập trung luận
giải khái niệm về DSVH và bản sắc riêng có của nó; nêu lên chức năng và phân
loại các DSVH. Có sự tham khảo một số kinh nghiệm bảo tồn DSVH ở nước
ngoài và đề xuất phương hướng, giải pháp trong quản lý và bảo tồn các DSVH
ở Việt Nam.
đời [152, tr.9798].
Tác giả nêu lên những kinh nghiệm thực hiện Bảo tàng hóa các
DSVH của: Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Pháp, Ý, Ba Lan... Từ đó đ ề
xuất một số biện pháp nhằm góp phần bảo tồn và phát huy giá trị các di tích:
đẩy mạnh hoạt động nghiệp vụ của các di tích; vận dụng lý thuyết cơ bản của
Bảo tàng học vào hoạt động chuyên môn tại các di tích hoạt động như một bảo
tàng.
Tác giả Trần Bá Đồng (2015), “Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo bảo tồn
và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa từ năm 1998 đến năm 2013” [50].
Công trình đã nêu rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh bảo
17
18
tồn và phát huy giá trị các DTLSVH từ năm 1998 đến năm 2013; nhận xét và rút
ra một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo bảo tồn và
phát huy giá trị các DTLSVH (1998 2013). Tác giả đã trình bày khá rõ nét về
bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSVH của Hà Tĩnh địa phương có hơn 300
di tích. Những kinh nghiệm rút ra là cơ sở, tiền đề có thể vận dụng trong thực
hiện nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị DTLSVH ở các địa phương trong
thời gian tới.
Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Hùng (2015) “Vai trò của cộng đồng
trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa” [72]. Tác giả chỉ rõ trong
mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, cộng đồng các dân tộc Việt Nam
đã sáng tạo và giữ gìn được một kho tàng DSVH nhiều về số lượng, phong
phú về loại hình và đa dạng trong cách biểu đạt. Khối lượng DSVH đó
được các thế hệ người Việt sáng tạo, bảo tồn và trao truyền cho đến ngày
nay. Có được thành quả đó là nhờ cha ông ta đã phát huy được vai trò của
một cách linh hoạt và rộng rãi nguồn thông tin, tư liệu và giá trị của di tích
Tân Trào ở nhiều bài học lịch sử, ở nhiều hình thức tổ chức dạy học với
mục đích nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở các trường phổ thông”
[110, tr.239]. Nghiên cứu của tác giả Hoàng Thanh Hải (1999), về Sử dụng di
tích lịch sử trong dạy học lịch sử dân tộc ở các trường trung học cơ sở [57].
Công trình đi sâu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về sử dụng DTLS
trong dạy học lịch sử; ý nghĩa và vai trò của DTLS đối với dạy học lịch sử ở
các trường trung học cơ sở. Theo tác giả, DTLSCM có 10 loại hình sau: 1 Các
di tích về phong trào yêu nước từ trước khi có Đảng, các di tích về Phan Bội
Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học; 2 Các di tích về sự ra đời các tổ
chức tiền thân của Đảng; 3 Các di tích về thân thế và sự nghiệp của chủ tịch
Hồ Chí Minh; 4 Di tích phản ánh về sự kiện, biến cố lịch sử: Xô viết Nghệ
Tĩnh, giai đoạn đấu tranh 1936 1939, 1939 1945 dưới sự lãnh đạo của Đảng;
5 Các di tích tiêu biểu của 2 cuộc kháng chiến; 6 Hệ thống di tích về căn cứ
19
20
địa cách mạng: Việt Bắc, Tân Trào, Lộc Ninh, chiến khu D, Đồng Tháp Mười;
7 Di tích ghi dấu ấn tội ác của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ như: Côn Đảo,
Hỏa Lò, Lao Bảo, Sơn Mỹ; 8 Hệ thống di tích tưởng niệm, ghi ơn các lãnh
tụ; 9 Đường giao thông, bến cảng, bến sông như: đường Trường Sơn, đường
Hồ Chí Minh trên biển, sông Bến Hải; 10 Các di tích phản ánh sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Tác giả luận giải mối quan hệ giữa DTLS với nội
dung, chương trình dạy học môn lịch sử dân tộc ở các trường trung học cơ sở,
nêu lên những nguyên tắc sử dụng DTLS trong dạy học Lịch sử ở các trường
trung học cơ sở; trên cơ sở đó, đề xuất một số hình thức và phương pháp sử
dụng các DTLS trong dạy học lịch sử ở các trường trung học cơ sở.
DTLSCM trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Các DTLSCM trên địa bàn tỉnh thể
hiện sự đóng góp của Đảng bộ và nhân dân Thừa Thiên Huế trong lịch sử đấu
tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, công trình mới chỉ giới
thiệu sơ bộ về địa điểm cũng như sự kiện lịch sử cách mạng gắn với việc hình
thành di tích, chưa đi sâu luận giải đến hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị
DTLSCM.
Trần Đức Nguyên (2010) “Phát huy giá trị của các di tích lịch sử cách
mạng kháng chiến trên địa bàn thủ đô Hà Nội” [91]. Theo tác giả: Di tích
cách mạng kháng chiến là một bộ phận cấu thành hệ thống các DTLSVH,
tuy nhiên, nó có những điểm khác với các di tích tôn giáo tín ngưỡng như
đình, đền, chùa, miếu ở chỗ: đó là những địa điểm cụ thể, công trình kiến
trúc có sẵn (nhà ở, đường phố…), những công trình được con người tạo
nên phù hợp với mục đích sử dụng (địa đạo, hầm bí mật…) gắn với những
sự kiện cụ thể, nhân vật lịch sử mà trở thành di tích như: Khu di tích Phủ
Chủ tịch, Nhà 48 Hàng Ngang, Nhà lưu niệm Vạn Phúc, Hầm chỉ huy
Thành ủy ở Võng Thị, Hồ Hữu Tiệp (nơi máy bay B52 Mỹ bị bắn rơi)...
Các di tích này vừa khó bảo tồn vừa khó phát huy tác dụng nếu không được
quan tâm đặc biệt. Tác giả đã thống kê về các DTLSCM và nêu lên giá trị
21
22
lịch sử, văn hóa, lưu niệm, giáo dục truyền thống của các di tích; đánh giá
thực trạng và đề xuất những giải pháp nhằm phát huy hơn nữa giá trị các
DTLSCM trên địa bàn thủ đô Hà Nội.
Tác giá Nguyễn Quốc Hùng (2012), “Di tích cách mạng bằng chứng
của sự đổi thay” [71]. Tác giả đề cập đến quan niệm về DTLSCM trong kho
tàng DSVH Việt Nam. Theo đó “Trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam, có
DTLSCM, những “địa chỉ đỏ” ngay chính trên quê hương mình... Cuốn sách
giới thiệu về các DTLSCM như: An toàn khu Định Hóa, Ngã ba Đồng Lộc,
Nhà tù Côn Đảo, Thành cổ Quảng Trị, Truông Bồn... Qua đó khẳng định giá
trị văn hóa, lịch sử; truyền thống cách mạng của các di tích, là nơi góp phần
giáo dục truyền thống đối với toàn thể nhân dân đặc biệt là thế hệ trẻ Việt
Nam.
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ĐắkNông (2013), Lịch sử di tích cách
mạng nhà ngục ĐăkMil (1942 1943) [3]. Công trình tập trung trình bày về
âm mưu thành lập nhà ngục ĐăkMil của thực dân pháp, tinh thần đấu tranh
bất khuất của các chiến sỹ cách mạng tại nhà ngục này. Trên cơ sở đó, cần
tiếp tục phát huy giá trị di tích nhà ngục ĐăkMil với công cuộc bảo vệ Tổ
quốc hiện nay. Đưa ra những biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị di tích
nhà ngục ĐăkMil trong thời gian tới như: tổ chức công tác giáo dục, giới
thiệu di tích đến các nhà trường, thầy, cô giáo, các em học sinh, phụ huynh;
tổ chức trưng bày, giới thiệu hiện vật, phù hợp với tâm lý, tình cảm của
các đối tượng tham quan; khai thác di tích cần làm nổi bật lên những giá trị
đặc sắc của di tích; thực hiện có hiệu quả hoạt động phối hợp tuyên
truyền, quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng; áp dụng những
thành tựu khoa học công nghệ vào bảo tồn và phát huy giá trị của các di
tích; bổ sung các yếu tố cần thiết để phát huy giá trị của các di tích như:
đường giao thông, xây dựng tượng đài, trồng cây xanh...
Các tác giả Lưu Đức Thọ, Nguyễn Thị Triều (2013), “Bảo tồn và phát
huy Di tích lịch sử cách mạng ở tỉnh Quảng Trị” [118]. Cuộc kháng chiến
23
24
chống Pháp và Mỹ đi qua đã để lại cho Quảng Trị nhiều DTLSCM có quy mô