Luận văn tiến sĩ Lịch sử: Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng từ năm 1996 đến năm 2015 - Pdf 58

                                                  LỜI CAM ĐOAN
              Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu  
của riêng nghiên cứu sinh. Các số liệu, kết quả trình  
bày trong luận án là trung thực, có nguồn gốc xuất  
xứ  rõ ràng, không trùng lặp với các công trình khoa  
học đã được công bố.
                                                                                      Tác giả luận án

                       Hoàng Văn Vân

1


2


MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
Chương 1 TỔNG  QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN 
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1.
Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
1.2.
Khái quát kết quả các công trình khoa học đã được công bố 
và những vấn đề đặt ra luận án tập trung giải quyết
Chương 2 CHỦ   TRƯƠNG   VÀ   SỰ   CHỈ   ĐẠO   CỦA   ĐẢNG   BỘ 

Kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo bảo  
tồn và phát huy giá trị  các di tích lịch sử  cách mạng (1996 ­ 

5
12
12
28

32
32
49
58

73
73
82
90
115
115
139

3


2015)
KẾT LUẬN
DANH   MỤC   CÁC   CÔNG   TRÌNH   CỦA   TÁC   GIẢ   ĐÃ   ĐƯỢC 
CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

5
6
7
8
9
10
11

Chủ nghĩa xã hội
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Di tích lịch sử
Di tích lịch sử văn hóa
Di tích lịch sử cách mạng
Di sản văn hóa
Đảng Cộng sản Việt Nam
Kinh tế ­ xã hội
Ủy ban nhân dân

CNXH
CNH, HĐH
DTLS
DTLSVH
DTLSCM
DSVH
ĐCSVN
KT ­ XH
UBND

5


5


6

Nghệ. Trước năm 1996, trên địa bàn tỉnh Nghệ An có 28 DTLSCM cấp quốc 
gia. Các DTLSCM đã được Đảng bộ  và nhân dân tỉnh Nghệ  An bước đầu 
quan tâm bảo tồn và phát huy giá trị. Hoạt động trùng tu, tôn tạo di tích diễn 
ra nhiều nơi, do nhiều lực lượng tiến hành. Một số DTLSCM đã được đầu  
tư chống xuống cấp, phục hồi, tôn tạo ở các mức độ và trình độ khác nhau. 
Tiêu biểu có các di tích Tràng Kè, di tích nghĩa trang liệt sỹ 12/9/1930... Hoạt  
động tri ân, tưởng niệm, giáo dục truyền thống, nghiên cứu, học tập, tham  
quan ngoại khóa... được tổ  chức có nề  nếp.   Các DTLSCM đã và đang trở 
thành nguồn lực để phát triển; là nhân tố quan trọng trong giáo dục truyền 
thống cách mạng, hình thành và hoàn thiện nhân cách con người, góp phần 
xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Nghệ An.
Tuy nhiên, nhiều DTLSCM đã và đang xuống cấp nghiêm trọng do tác 
động của thời tiết, khí hậu,  các biến cố  lịch sử  và sự  xâm hại của con  
người; hay trong quá trình tu bổ, tôn tạo lại xảy ra hư hỏng, thất lạc, mất  
mát và sai lệch so với di tích gốc. Việc phát huy giá trị gặp nhiều khó khăn,  
hiệu quả thấp, một số di tích vắng khách tham quan, thiếu người chăm sóc. 
Mức độ  xâm hại, lấn chiếm di tích ngày càng nghiêm trọng. Sự  phát triển  
mạnh của kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt thuận lợi mang lại, vẫn  
còn có những tác động tiêu cực đến việc bảo tồn DTLSCM như: mâu thuẫn  
giữa nhu cầu khai thác nguyên vật liệu, xây dựng các công trình kinh tế, 
công trình dân dụng, nhà ở… với yêu cầu bảo tồn nguyên vẹn di tích gốc. 
Giá trị  quan trọng của các DTLSCM trên địa bàn cả  nước nói chung  
và Nghệ  An nói riêng còn là chứng tích, là vũ khí sắc bén trong cuộc đấu 
tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận hiện nay đối với các thế lực chống phá 
cách mạng Việt Nam. Các thế lực phản cách mạng vẫn tìm mọi cách xuyên  

Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An  về  bảo tồn và phát 
huy giá trị  các DTLSCM từ  năm 1996 đến năm 2015; đúc rút kinh nghiệm  
để tham khảo, vận dụng vào hiện tại.

7


8

* Nhiệm vụ nghiên cứu:
­ Trình bày, luận giải những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng 
bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM (1996 ­ 2015).
­ Hệ thống hóa và phân tích làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ 
tỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM  từ năm 1996 đến năm  
2015.
­ Nhận xét, đúc rút những kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An 
lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị DTLSCM giai đoạn 1996 ­ 2015.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: 
Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát huy giá 
trị các DTLSCM.
* Phạm vi nghiên cứu:
Di tích lịch sử cách mạng là những di tích thuộc loại hình di tích lịch  
sử  hoặc di tích lịch sử  ­ kiến trúc nghệ  thuật, nhưng giá trị  nổi bật của  
chúng được xác định bởi (các di tích đó) hoặc là: Công trình xây dựng, địa  
điểm gắn với  sự  kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia và của địa  
phương  dưới sự  lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hoặc là công  
trình xây dựng, địa điểm gắn với  thân thế  và sự  nghiệp của anh hùng dân 
tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của  
quốc gia hoặc địa phương trong các thời kỳ lịch sử cách mạng, kháng chiến. 

nghiêm trọng. 
1, Mốc mở đầu để nghiên cứu là năm 1996, năm Đảng bộ tỉnh Nghệ 
An tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIV (nhiệm  
kỳ 1996 ­ 2000), Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ  tỉnh Nghệ  An lần  
thứ XIV đánh dấu sự quan tâm nhiều hơn của Đảng bộ đến nhiệm vụ bảo  
tồn và phát huy giá trị các DTLSVH nói chung và DTLSCM nói riêng.
2, Phân kỳ  lịch sử  2 giai đoạn nghiên cứu là 1996 ­ 2005 và 2006 ­  
2015; vì đến thời điểm 2005, Đảng bộ  tỉnh Nghệ  An đã có chủ  trương và 
sự chỉ đạo khắc phục sự xuống cấp của một số DTLSCM quan trọng, quan  

9


10

tâm đầu tư  bảo tồn và phát huy giá trị  một số  DTLSCM trọng điểm phục 
vụ cho năm du lịch Nghệ An 2005. Từ năm 2006, Đảng bộ tỉnh Nghệ An có  
sự  điều chỉnh về chủ trương và chỉ đạo về bảo tồn và phát huy giá trị  các 
DTLSCM gắn liền với Đại hội đại biểu Đảng bộ  tỉnh Nghệ  An lần thứ 
XVI (Năm 2006). 
3, Mốc thời gian kết thúc để nghiên cứu luận án là năm 2015; Đây là 
thời điểm kết thúc thực hiện Nghị  quyết Đại hội Đảng bộ  tỉnh Nghệ  An 
lần thứ XVII (năm 2015), Theo đánh giá của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ 
tỉnh Nghệ  An lần thứ  XVIII, nhiệm vụ  bảo tồn và phát huy giá trị  các  
DTLSCM cấp quốc gia trọng điểm trên địa bàn tỉnh đạt được nhiều thành  
tựu quan trọng, các di tích tiêu biểu được đầu tư  bảo tồn, tôn tạo bằng 
việc thành lập và thực hiện dự  án. Hoạt động phát huy giá trị  DTLSCM 
trong giáo dục truyền thống cách mạng, phát triển văn hóa, gắn bảo tồn di  
tích với phát triển du lịch đạt được những kết quả nhất định. 
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

năm 1996 đến năm 2015.
Đưa ra nhận xét về quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo bảo tồn và 
phát huy giá trị các DTLSCM (1996 ­ 2015) trên hai bình diện ưu điểm và hạn chế;  
làm rõ nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó.
Đúc rút những kinh nghiệm có thể  tham khảo, vận dụng vào lãnh đạo 
bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
* Ý nghĩa lý luận:
Luận án góp phần tổng kết lý luận, thực tiễn quá trình Đảng bộ  tỉnh 
Nghệ  An lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị  các DTLSCM trên địa bàn tỉnh  
Nghệ An. 
* Ý nghĩa thực tiễn:
­ Những kinh nghiệm rút ra trong luận án có giá trị tham khảo, vận dụng 
trong lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị  các DTLSCM của đảng bộ  địa 
phương.

11


12

­ Luận án góp phần bổ sung vào lịch sử  Đảng bộ  tỉnh Nghệ  An trên 
lĩnh vực văn hóa; là nguồn tư  liệu tham khảo phục vụ  nghiên cứu, giảng 
dạy Lịch sử ĐCSVN và Lịch sử đảng bộ địa phương.
7. Kết cấu của luận án
Luận án bao gồm: Mở đầu, 4 chương (10 tiết), Kết luận, Danh mục  
các công trình của tác giả  đã công bố  liên quan đến đề  tài luận án, Danh 
mục tài liệu tham khảo và Phụ lục.

12

13


14

Tuy nhiên, mới chỉ giới thiệu sơ bộ về địa điểm và hiện trạng một số công  
trình chính của các di tích. 
Tác giả  Hoàng Thanh Hải (1999), Sử  dụng di tích lịch sử  trong dạy  
học lịch sử dân tộc ở các trường trung học cơ sở  [57]. Trong công trình này 
tác giả  tập trung luận giải những vấn đề  lý luận và thực tiễn về  việc sử 
dụng các DTLS trong dạy học lịch sử dân tộc ở các trường trung học cơ sở;  
mối quan hệ  giữa các DTLS với nội dung, chương trình lịch sử  dân tộc ở 
các trường trung học cơ  sở. Đề  xuất những hình thức và phương pháp sử 
dụng các DTLS trong dạy học lịch sử dân tộc ở các trường trung học cơ sở.
Tác giả Từ Mạnh Lương (2003), nghiên cứu về  Một số chính sách và  
giải pháp kinh tế ­ xã hội chủ  yếu nhằm bảo tồn, tôn tạo và nâng cao hiệu  
quả khai thác di tích lịch sử văn hóa của dân tộc giai đoạn phát triển mới của  
đất nước  [87]. Tác giả  trình bày những vấn đề  lý luận và thực tiễn về  các 
chính sách, giải pháp KT ­ XH trong bảo tồn, tôn tạo và nâng cao hiệu quả khai 
thác các DTLSVH. Nêu lên thực trạng về một số chính sách và giải pháp KT ­  
XH chủ yếu để bảo tồn, tôn tạo, nâng cao hiệu quả khai thác các DTLSVH ở 
Việt Nam. Đưa ra một số chính sách và giải pháp KT ­ XH chủ yếu nhằm nâng  
cao hiệu quả bảo tồn, tôn tạo và khai thác DTLSVH trong giai đoạn phát triển 
mới của đất nước.
Tác giả  Đinh Trung Kiên (2003), “Di tích lịch sử  và tư  liệu lịch sử 
với việc phát triển du lịch Việt Nam” [79]. Tác giả chỉ rõ: DTLS và tư liệu  
lịch sử  là nguồn tài nguyên du lịch sẵn có và hấp dẫn trong phát triển du  
lịch. Đưa ra một số  biện pháp khai thác hiệu quả  DTLS và tư  liệu lịch sử 
cho phát triển kinh tế du lịch Việt Nam. Cùng nghiên cứu về vai trò của di  
tích trong phát triển du lịch, tác giả Nguyễn Văn Đức (2013) với đề tài: Tổ 

Quý Khoáng ­ Nghệ An; núi Tam Thanh và núi Nàng Tô Thị ­ Lạng Sơn... Chỉ 
rõ nguyên nhân của những vi phạm trên. Qua đó, tác giả đưa ra 12 giải pháp 
nhằm hạn chế  tối đa tình trạng vi phạm các di tích, danh thắng; nâng cao 
hiệu quả quản lý và bảo vệ DTLSVH, danh lam thắng cảnh ở nước ta trong  

15


16

thời gian tới. Các tác giả Quốc Hiệp, Thu Hằng (2013) nghiên cứu “Về tình 
hình vi phạm và xử lý vi phạm trong hoạt động quản lý, tu bổ, tôn tạo di tích  
thời gian qua” [61]. Các tác giả chỉ rõ: “Việc quản lý hoạt động bảo tồn di 
tích tại một số địa phương chưa chặt chẽ, một số nơi để xảy ra hiện tượng  
tự  ý tu bổ  hoặc sơn thếp di tích, di vật; không tuân thủ  các quy định của  
pháp luật về đầu tư xây dựng và tu bổ di tích; đưa đồ thờ tự không phù hợp 
vào di tích…, làm ảnh hưởng đến việc giữ  gìn yếu tố gốc và tính chất văn  
hóa tâm linh của di tích” [61, tr.42]. Công trình đã làm rõ một số  vi phạm 
thường xảy ra trong bảo tồn di tích như: xâm phạm khu vực khoanh vùng bảo  
vệ và giải tỏa trong khu vực di tích; sai phạm trong tu bổ, quản lý các hoạt 
động văn hoá, lễ hội tại các di tích. Chỉ  ra nguyên nhân của những vi phạm 
trên. Đề  xuất một số  giải pháp chủ  yếu khắc phục và xử  lý vi phạm trong 
hoạt động quản lý, tu bổ, tôn tạo di tích.
Tác giả Nguyễn Thịnh (2012), Di sản văn hóa Việt Nam, bản sắc và  
những vấn đề về quản lý, bảo tồn [116]. Nguyễn Đình Thanh, Lê Thị Minh Lý 
(2008), Di sản văn hóa bảo tồn và phát triển [111]. Các tác giả tập trung luận 
giải khái niệm về DSVH và bản sắc riêng có của nó; nêu lên chức năng và phân 
loại các DSVH. Có sự tham khảo một số kinh nghiệm bảo tồn DSVH ở nước 
ngoài và đề xuất phương hướng, giải pháp trong quản lý và bảo tồn các DSVH 
ở Việt Nam.

đời [152, tr.97­98]. 
Tác   giả   nêu   lên   những   kinh nghiệm thực hiện Bảo tàng hóa các 
DSVH của:  Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Pháp, Ý, Ba Lan... Từ  đó đ ề 
xuất một số biện pháp nhằm góp phần bảo tồn và phát huy giá trị các di tích: 
đẩy mạnh hoạt động nghiệp vụ của các di tích; vận dụng lý thuyết cơ bản của 
Bảo tàng học vào hoạt động chuyên môn tại các di tích hoạt động như một bảo  
tàng. 
Tác giả Trần Bá Đồng (2015), “Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo bảo tồn  
và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa từ năm 1998 đến năm 2013” [50]. 
Công trình đã nêu rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh bảo 

17


18

tồn và phát huy giá trị các DTLSVH từ năm 1998 đến năm 2013; nhận xét và rút  
ra một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo bảo tồn và 
phát huy giá trị các DTLSVH (1998 ­ 2013). Tác giả đã trình bày khá rõ nét về 
bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSVH của Hà Tĩnh ­ địa phương có hơn 300  
di tích. Những kinh nghiệm rút ra là cơ sở, tiền đề có thể vận dụng trong thực  
hiện nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị  DTLSVH  ở  các địa phương trong 
thời gian tới.
Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Hùng (2015) “Vai trò của cộng đồng 
trong bảo tồn và phát huy giá trị  di sản văn hóa” [72]. Tác giả  chỉ  rõ trong 
mấy ngàn năm dựng nước và giữ  nước, cộng đồng các dân tộc Việt Nam  
đã sáng tạo và giữ gìn được một kho tàng DSVH nhiều về số lượng, phong  
phú về  loại hình và đa dạng trong cách biểu đạt. Khối lượng DSVH đó 
được các thế hệ người Việt sáng tạo, bảo tồn và trao truyền cho đến ngày 
nay. Có được thành quả  đó là nhờ  cha ông ta đã phát huy được vai trò của 

một cách linh hoạt và rộng rãi nguồn thông tin, tư liệu và giá trị của di tích 
Tân Trào  ở  nhiều bài học lịch sử,  ở  nhiều hình thức tổ  chức dạy học với 
mục đích nâng cao chất lượng dạy học lịch sử   ở  các trường phổ  thông”  
[110, tr.239]. Nghiên cứu của tác giả Hoàng Thanh Hải (1999), về Sử dụng di  
tích lịch sử trong dạy học lịch sử dân tộc ở các trường trung học cơ sở [57]. 
Công trình đi sâu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về sử dụng DTLS 
trong dạy học lịch sử; ý nghĩa và vai trò của DTLS đối với dạy học lịch sử ở 
các trường trung học cơ sở. Theo tác giả, DTLSCM có 10 loại hình sau: 1 ­ Các  
di tích về phong trào yêu nước từ trước khi có Đảng, các di tích về Phan Bội 
Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học; 2 ­ Các di tích về sự  ra đời các tổ 
chức tiền thân của Đảng; 3 ­ Các di tích về thân thế và sự nghiệp của chủ tịch  
Hồ Chí Minh; 4 ­ Di tích phản ánh về sự kiện, biến cố lịch sử: Xô viết Nghệ 
Tĩnh, giai đoạn đấu tranh 1936 ­ 1939, 1939 ­ 1945 dưới sự lãnh đạo của Đảng;  
5 ­ Các di tích tiêu biểu của 2 cuộc kháng chiến; 6 ­ Hệ thống di tích về căn cứ 

19


20

địa cách mạng: Việt Bắc, Tân Trào, Lộc Ninh, chiến khu D, Đồng Tháp Mười;  
7 ­ Di tích ghi dấu ấn tội ác của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ như: Côn Đảo, 
Hỏa Lò, Lao Bảo, Sơn Mỹ; 8 ­ Hệ thống di tích tưởng niệm, ghi ơn các lãnh 
tụ; 9 ­ Đường giao thông, bến cảng, bến sông như: đường Trường Sơn, đường 
Hồ Chí Minh trên biển, sông Bến Hải; 10 ­ Các di tích phản ánh sự nghiệp xây 
dựng chủ  nghĩa xã hội. Tác giả  luận giải mối quan hệ  giữa DTLS với nội  
dung, chương trình dạy học môn lịch sử dân tộc ở các trường trung học cơ sở, 
nêu lên những nguyên tắc sử dụng DTLS trong dạy học Lịch sử ở các trường 
trung học cơ sở; trên cơ sở đó, đề xuất một số hình thức và phương pháp sử 
dụng các DTLS trong dạy học lịch sử ở các trường trung học cơ sở.

DTLSCM trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Các DTLSCM trên địa bàn tỉnh thể 
hiện sự đóng góp của Đảng bộ và nhân dân Thừa Thiên Huế trong lịch sử đấu 
tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, công trình mới chỉ giới  
thiệu sơ bộ về địa điểm cũng như sự kiện lịch sử cách mạng gắn với việc hình 
thành di tích, chưa đi sâu luận giải đến hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị 
DTLSCM.
Trần Đức Nguyên (2010) “Phát huy giá trị của các di tích lịch sử cách 
mạng ­ kháng chiến trên địa bàn thủ đô Hà Nội”  [91]. Theo tác giả: Di tích 
cách mạng ­ kháng chiến là một bộ phận cấu thành hệ thống các DTLSVH, 
tuy nhiên, nó có những điểm khác với các di tích tôn giáo tín ngưỡng như 
đình, đền, chùa, miếu ở chỗ: đó là những địa điểm cụ  thể, công trình kiến  
trúc có sẵn (nhà  ở, đường phố…), những công trình được con người tạo 
nên phù hợp với mục đích sử dụng (địa đạo, hầm bí mật…) gắn với những 
sự  kiện cụ  thể, nhân vật lịch sử  mà trở  thành di tích như: Khu di tích Phủ 
Chủ  tịch,  Nhà  48 Hàng  Ngang,  Nhà lưu  niệm Vạn  Phúc,  Hầm chỉ   huy 
Thành  ủy  ở  Võng Thị, Hồ  Hữu Tiệp (nơi máy bay B52 Mỹ  bị  bắn rơi)...  
Các di tích này vừa khó bảo tồn vừa khó phát huy tác dụng nếu không được 
quan tâm đặc biệt. Tác giả  đã thống kê về  các DTLSCM và nêu lên giá trị 

21


22

lịch sử, văn hóa, lưu niệm, giáo dục truyền thống của các di tích; đánh giá  
thực trạng và đề  xuất những giải pháp nhằm phát huy hơn nữa giá trị  các  
DTLSCM trên địa bàn thủ đô Hà Nội. 
Tác giá Nguyễn Quốc Hùng (2012), “Di tích cách mạng ­ bằng chứng 
của sự đổi thay” [71]. Tác giả đề cập đến quan niệm về DTLSCM trong kho 
tàng DSVH Việt Nam. Theo đó “Trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam, có  

DTLSCM, những “địa chỉ  đỏ” ngay chính trên quê hương mình... Cuốn sách 
giới thiệu về  các DTLSCM như: An toàn khu Định Hóa, Ngã ba Đồng Lộc, 
Nhà tù Côn Đảo, Thành cổ Quảng Trị, Truông Bồn... Qua đó khẳng định giá 
trị văn hóa, lịch sử; truyền thống cách mạng của các di tích, là nơi góp phần  
giáo dục truyền thống đối với toàn thể nhân dân đặc biệt là thế hệ trẻ Việt 
Nam.
Ban Chấp hành Đảng bộ  tỉnh ĐắkNông (2013),  Lịch sử  di tích cách  
mạng nhà ngục ĐăkMil (1942 ­ 1943)  [3]. Công trình tập trung trình bày về 
âm mưu thành lập nhà ngục ĐăkMil của thực dân pháp, tinh thần đấu tranh  
bất khuất của các chiến sỹ cách mạng tại nhà ngục này. Trên cơ sở đó, cần 
tiếp tục phát huy giá trị di tích nhà ngục ĐăkMil với công cuộc bảo vệ Tổ 
quốc hiện nay. Đưa ra những biện pháp bảo tồn và phát huy giá trị  di tích  
nhà ngục ĐăkMil trong thời gian tới như: tổ  chức công tác giáo dục, giới 
thiệu di tích đến các nhà trường, thầy, cô giáo, các em học sinh, phụ huynh; 
tổ  chức trưng bày, giới thiệu hiện vật, phù hợp với tâm lý, tình cảm của 
các đối tượng tham quan; khai thác di tích cần làm nổi bật lên những giá trị 
đặc sắc  của  di  tích;   thực  hiện  có  hiệu  quả  hoạt  động  phối  hợp  tuyên 
truyền, quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng; áp dụng những  
thành tựu khoa học công nghệ  vào bảo tồn và phát huy giá trị  của các di 
tích; bổ  sung các yếu tố  cần thiết để  phát huy giá trị  của các di tích như: 
đường giao thông, xây dựng tượng đài, trồng cây xanh...
Các tác giả  Lưu Đức Thọ, Nguyễn Thị Triều (2013), “Bảo tồn và phát 
huy Di tích lịch sử  cách mạng  ở  tỉnh Quảng Trị”  [118]. Cuộc kháng chiến 

23


24

chống Pháp và Mỹ đi qua đã để lại cho Quảng Trị nhiều DTLSCM có quy mô 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status