Tóm tắt Luận văn tiến sĩ Lịch sử: Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 1997 đến năm 2015 - Pdf 58

HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH

NGUYN VN C

ĐảNG Bộ TỉNH THáI NGUYÊN
LãNH ĐạO PHáT TRIểN KINH Tế TƯ NHÂN
Từ NĂM 1997 ĐếN NĂM 2015
Chuyờn ngnh : Lch s ng Cng sn Vit Nam
Mó s
: 62 22 03 15

tóm tắt luận án tiến sĩ

hà nội 2018


Công trình đƣợc hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS,TS. Hoàng Thị Kim Thanh
2. TS. Đặng Kim Oanh

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:

Luận án đƣợc bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện,
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Vào hồi

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Luận án trình bày các nhân tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ
tỉnh Thái Nguyên về phát triển KTTN.
Hệ thống hoá các quan điểm, chủ trương của Đảng, Đảng bộ tỉnh
Thái Nguyên về phát triển KTTN từ năm 1997 đến năm 2015.
Luận án làm rõ quá trình chỉ đạo phát triển KTTN của Đảng bộ tỉnh
Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2015.
Đánh giá ưu điểm, hạn chế trong quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
lãnh đạo phát triển KTTN, từ đó phân tích nguyên nhân của những ưu
điểm, hạn chế đó.
Đúc rút một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo góp phần nâng cao
sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối với thành phần KTTN
trong thời gian tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về phát
triển KTTN từ năm 1997 đến năm 2015.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Luận án giới hạn phạm vi thời gian nghiên cứu từ năm
1997 đến năm 2015, qua 04 nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên:


4
nhiệm kỳ XV (1997 - 20000), nhiệm kỳ XVI (2001 - 2005), nhiệm kỳ
XVII (2006 - 2010), nhiệm kỳ XVIII (2011 - 2015). Năm 1997 là năm tái
lập tỉnh Thái Nguyên. Năm 2015 là năm kết thúc nhiệm kỳ Đảng bộ tỉnh lần
thứ XVIII và diễn ra Đại hội lần thứ XIX của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên.
Về không gian: Luận án nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên từ
năm 1997 đến năm 2015 bao gồm 9 đơn vị hành chính: thành phố Thái
Nguyên, thành phố Sông Công, thị xã Phổ Yên, huyện Định Hóa, Võ

4.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc,
đồng thời, kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành như
thống kê, đối chiếu, so sánh, phân tích, tổng hợp và khảo sát thực tế hoạt
động của KTTN ở Thái Nguyên trong đó:
Phương pháp lịch sử được sử dụng để trình bày quá trình lãnh đạo phát
triển KTTN của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên theo một trình tự có tính lịch sử.
Phương pháp lôgíc được dùng để xâu chuỗi các sự kiện lịch sử nhằm
làm rõ mối liên hệ giữa các chủ trương, biện pháp với quá trình chỉ đạo
thực hiện, những kết quả đạt được. Từ đó, khái quát được những ưu điểm,
hạn chế và một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ tỉnh Thái
Nguyên lãnh đạo phát triển KTTN từ năm 1997 đến năm 2015.
Các phương pháp khác như: phân tích, so sánh, tổng hợp, khảo sát
thực tế nhằm làm sáng tỏ hơn những vấn đề mà luận án đặt ra.
5. Những đóng góp mới của luận án
5.1. Đóng góp về khoa học
Luận án hệ thống hóa các quan điểm chủ trương của Đảng và Đảng
bộ tỉnh Thái Nguyên về phát triển KTTN. Qua đó, góp phần làm rõ nội
dung, phương thức, quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát
triển KTTN từ năm 1997 đến năm 2015.
Luận án cung cấp nguồn tư liệu về công tác lãnh đạo phát triển
KTTN ở địa phương, góp phần làm phong phú lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái
Nguyên trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhấp quốc tế.
5.2. Đóng góp về thực tiễn
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng
dạy và học tập tại các cơ sở đào tạo ở Thái Nguyên và khu vực miền núi
Bắc Bộ.


6

7
của Đảng và Nhà nước Việt Nam về kinh tế tư nhân (1986 - 2005), của
Phạm Thị Lương Diệu.
Những công trình khoa học trên đã phân tích, đánh giá quá trình
hình thành chủ trương, đường lối của Đảng về KTTN trong nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN. Kết quả nghiên cứu từ các đề tài giúp
cho tác giả luận án có thể tham khảo phục dựng lại một cách khách
quan quá trình Đảng bộ tỉnh Thái nguyên lãnh đạo phát triển KTTN từ
năm 1997 đến năm 2015. Từ đó, rút ra những kinh nghiệm chủ yếu từ
thực tiễn đưa KTTN của tỉnh ngày càng phát triển hơn trong giai đoạn
tiếp theo.
1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về kinh tế tư nhân ở các
địa phương trong cả nước
Cuốn sách: Phát triển kinh tế tư nhân ở Hà Nội, của Nguyễn Minh
Phong; Đề tài: Kinh tế tư nhân ở thành phố Đà Nẵng - thực trạng và giải
pháp, của Trần Văn Năm; Đề tài: Phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn
tỉnh Phú Thọ, của Hà Quốc Việt; Luận án tiến sĩ: Quá trình phát triển
kinh tế tư nhân ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ năm 1991 đến năm 2010, của
Nguyễn Huy Phương; Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo thực hiện
chính sách kinh tế nhiều thành phần từ 1986 đến 2001, của Đặng Thị Dư;
Đề tài: Đảng bộ tỉ nh Quảng Ng ãi lãnh đạo phát triển thành phần kinh tế
tư nhân từ năm 1989 đến 2005, của Trần Thị Bí ch Liên ; Đảng bộ tỉnh
Nghệ An lãnh đạo phát triển kinh tế tư nhân từ năm 2000 đến năm 2010,
của Hoàng Nam Hưng.
Công trình: Lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh
nghiệp tư nhân ở tỉnh Thừa Thiên - Huế, của Phạm Thị Thương; Đề tài:
Phát triển kinh tế tư nhân ở Thái Bình giai đoạn 2001 - 2010 và giải
pháp đến năm 2020, của Nguyễn Thị Luyến; Công trình: Vai trò động lực
của kinh tế tư nhân trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở Nghệ An hiện
nay, của Trần Thị Bình; Đề tài: phát triển kinh tế tư nhân ở các tỉnh miền

trình nghiên cứu về thành phần kinh tế này. Các công trình nghiên cứu
trên đã cho thấy sự năng động của thành phần KTTN ở nước ta. Dưới góc


9
độ nghiên cứu, các tác giả đều khẳng định KTTN là loại hình kinh tế dựa
trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Trong đó các chủ thể của nó tự
chủ tiến hành sản xuất kinh doanh vì lợi ích trực tiếp của cá nhân hay tập
thể cá nhân hoạt động dưới những hình thức kinh tế khác nhau, dù có
thuê hay không thuê lao động. KTTN bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và
kinh tế tư bản tư nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thế và
các loại hình doanh nghiệp của tư nhân. Việc phát triển KTTN là vấn đề
chiến lược trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng
XHCN ở nước ta. Bộ phận này, được Đảng và Nhà nước coi trọng và chỉ
đạo phát triển, góp phần tạo động lực quan trọng phát triển kinh tế - xã
hội thực hiện CNH, HĐH đất nước.
Thứ hai, KTTN là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân,
đóng góp tích cực vào tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều công ăn
việc làm, đóng góp ngày càng nhiều vào ngân sách nhà nước, thúc đẩy
xuất khẩu và các thành phần kinh tế khác phát triển, bồi dưỡng và thu hút
nhân tài. Tuy nhiên, KTTN cũng còn nhiều hạn chế, vướng mắc như: quy
mô còn nhỏ bé, vốn ít, cơ sở vật chất - kỹ thuật lạc hậu, năng lực quản lý
chưa cao, hiệu quả kinh tế không ổn định, việc tuân thủ pháp luật còn
chưa tốt, khả năng hội nhập kinh tế quốc tế còn nhiều hạn chế.
Thứ ba, các công trình nghiên cứu trên cũng chỉ ra những kinh
nghiệm trong quá trình lãnh đạo phát triển KTTN. Từ đó, đề xuất những
giải pháp nhằm phát huy hơn nữa những tiềm năng, thế mạnh của
KTTN, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển và hạn chế những mặc tiêu
cực của KTTN.
Thứ tư, các công trình trên, đã cung cấp một nguồn tư liệu phong

tra, giám sát và biểu dương khen thưởng.
Nhận xét về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (chỉ rõ ưu
điểm, hạn chế, phân tích nguyên nhân) đối với thành phần KTTN từ 1997
đến năm 2015. Trên cơ sở đó, đúc kết những kinh nghiệm, góp phần nâng
cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối với KTTN
trong thời gian tiếp theo.


11
Chƣơng 2
CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO
CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN VỀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TƢ NHÂN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005
2.1. Những nhân tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh về
phát triển kinh tế tƣ nhân
2.1.1. Khái niệm kinh tế tư nhân
KTTN là thành phần kinh tế phát triển dựa trên sở hữu tư nhân về
toàn bộ các yếu tố sản xuất được đưa vào sản xuất kinh doanh . Những
người là KTTN hoàn toàn tự chủ , tự chị u trách nhiệm về toàn bộ hoạt
động sản xuất kinh doanh , dịch vụ , cụ thể là : tự chủ về vốn , tự chủ về
quản lý , tự chủ về phân phối sản phẩm , tự chủ lựa chọn hì nh thức tổ
chức, quy mô, phương hướng sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trước pháp luật của Nhà nước.
2.1.2. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Thái Nguyên
Đặc điểm tự nhiên
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, thuộc vùng trung du - miền núi
Đông Bắc. Phía bắc giáp tỉnh Bắc Kạn, phía đông giáp các tỉnh Lạng sơn,
Bắc Giang, phía nam giáp thủ đô Hà Nội, phía tây giáp các tỉnh Vĩnh
Phúc, Tuyên Quang. Với vị trí địa lý này, Thái Nguyên trở thành điểm
tiếp giáp, cầu nối giữa vùng đồng bằng sông Hồng với các tỉnh vùng núi

sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuấ t và đóng
góp vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Tuy nhiên, KTTN của Thái Nguyên
trước năm 1997 còn tồn tại những hạn chế như: số lượng doanh nghiệp
ngoài nhà nước còn hạn chế; nguồn vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh
còn ít; trình độ công nghê, trang thiết bị, máy móc còn lạc hậu; một số
các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh chưa chấp nghiêm những
quy định của pháp luật.
2.1.4. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế tư nhân
Đại hội lần thứ VIII của Đảng (6/1996) chủ trương thực hiện nhất
quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần. Kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác xã


13
dần dần trở thành nền tảng. Tạo điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi để
các nhà kinh doanh tư nhân yên tâm đầu tư làm ăn lâu dài.
Đại hội lần thứ IX của Đảng (4/2001) xác định, kinh tế cá thể, tiểu
chủ cả ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài. Nhà nước
tạo điều kiện và giúp đỡ để phát triển; khuyến khích các hình thức tổ
chức hợp tác tự nguyện, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát triển
lớn hơn. Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong
những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm. Tạo
môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản
tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả
đầu tư ra nước ngoài.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa IX đã ra
Nghị quyết 14-NQ/TW ngày 18/3/2002 về Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính
sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân đã chỉ rõ:
KTTN là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát
triển KTTN là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều

số tình hình về phát triển kinh tế tư nhân và đảng viên làm kinh tế tư
nhân tại địa phương. Ngày 30/8/2004 Tỉnh ủy Thái Nguyên tổng kết kết
quả 2 năm rưỡi thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) Về tiếp tục
đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh
tế tư nhân. Trên cơ sở đánh giá quá trình thực hiện chủ trương của Đảng
bộ tỉnh về phát triển KTTN, báo cáo cũng đề ra một số giải pháp nhằm
thực hiện thắng lợi nghị quyết.
2.3. Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
2.3.1. Chỉ đạo xây dựng cơ chế, tạo môi trường thuận lợi để phát
triển kinh tế tư nhân
Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Thái Nguyên, cuối năm 1997 Sở Kế hoạch
và Đầu tư đã trình UBND tỉnh Đề án quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế xã hội tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020. Ngày 14/4/1998 Sở Kế hoạch
và Đầu tư đã thông qua Báo cáo tình hình doanh nghiệp ngoài quốc
doanh năm 1997 trên cơ sở đánh giá tình hình báo cáo đã đưa ra một số
giải pháp nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển
hơn trong giai đoạn tiếp theo. Năm 2001, Tỉnh ủy đã tỉnh thông qua
chương trình "Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tỉnh Thái


15
Nguyên giai đoạn 2001 - 2005". Năm 2002 thành lập Trung tâm xúc tiến
thương mại trực thuộc Sở Thương mại - Du lịch. Năm 2003 thành lập
Trung tâm tư vấn xúc tiến đầu tư trực thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư.
2.3.2. Chỉ đạo xây dựng nguồn nhân lực, phát triển các tổ chức
đoàn thể và giải quyết các khó khăn của doanh nghiệp
Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã tập trung chỉ đạo xây dựng nguồn
nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phần KTTN. Thái
Nguyên là trung tâm giáo dục, đào tạo lớn thứ ba cả nước nên có nhiều
điều kiện thuận lợi để thu hút nguồn nhân lực và đào tạo người lao động

Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
3.1.1. Những nhân tố mới tác động đến kinh tế tư nhân
3.1.1.1. Những biến động về kinh tế - xã hội
Tình hình thế giới có nhiều biến động cả về kinh tế, chính trị. Cuộc
cách mạng khoa học công nghệ tác động sâu rộng đến sản xuất và đời
sống của mỗi quốc gia, khu vực trên thế giới.
Sự phát triển của KTTN ở Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2005
đã chứng minh kinh tế tư nhân trở thành bộ phận cấu thành quan trọng
của nền kinh tế, là động lực để phát huy những tiềm năng thế mạnh của
tỉnh. Vì vậy, phát triển KTTN là nhiệm vụ chiến lược lâu dài trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trọng tâm
CNH, HĐH của tỉnh.
3.1.1.2. Chủ trương mới của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân
Đại hội Đảng lần thứ X (4/2006) xác định: KTTN có vai trò quan
trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế . Tạo điều kiện thuận
lợi cho các loại hì nh KTTN đầu tư phát triển theo quy đị nh của pháp luật,
không hạn chế về quy mô , ngành nghề , lĩnh vực , đị a bàn . Xóa bỏ mọi
hình thức phân biệt đối xử với KTTN. Đại hội cũng chủ trương cho phép
đảng viên làm KTTN trên cơ sở chấp hành nghiêm chỉnh chính sách,
pháp luật của Nhà nước.
Đại hội lần thứ XI của Đảng (1/2011) chủ trương: Hoàn thiện cơ chế,
chính sách để phát triển mạnh KTTN trở thành một trong những động lực
của nền kinh tế. Phát triển mạnh các loại hình KTTN ở hầu hết các
ngành, lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật. Tạo


17
điều kiện hình thành một số tập đoàn KTTN và tư nhân góp vốn vào các
tập đoàn kinh tế nhà nước.
3.1.2. Chủ trương mới của Đảng bộ

Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về tiếp tục hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
3.2. Quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên chỉ đạo đẩy mạnh phát
triển kinh tế tƣ nhân
3.2.1. Chỉ đạo ban hành cơ chế, chính sách và xây dựng kết cấu hạ
tầng để phát triển kinh tế tư nhân
Từ năm 2006 đến năm 2015 Tỉnh ủy Thái Nguyên đã chỉ đạo các sở,
ban, ngành, địa phương, nghiên cứu ban hành các cơ chế và chính sách
thúc đẩy KTTN phát triển. Ngày 30/10/2006 Tỉnh ủy thông qua chương
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy
sản giai đoạn 2006 - 2010. Ngày 15/11/2012 UBND tỉnh ra quyết định
ban hành quy định về chính sách khuyến khích và hỗ trợ đầu tư trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên. Ngày 18/3/2013 UBND tỉnh ra quyết định thành
lập Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Thái Nguyên. Cũng trong năm 2013,
phòng Doanh nghiệp, kinh tế tập thể và KTTN trực thuộc sở Kế hoạch và
Đầu tư được thành lập.
Từ năm 2006 đến năm 2015 Tỉnh ủy chủ trương đầu tư xây dựng hạ
tầng cở sở khu công nghiệp Sông Công, Núi Pháo (Đại Từ), mở rộng và
nâng cấp quốc lộ 3 và quốc lộ 37. Triển khai xây dựng dự án đường cao
tốc Thái Nguyên - Hà Nội, cao tốc Thái Nguyên - Chợ Mới. Năm 2009
khu công nghiệp Điềm Thụy được thành lập, năm 2012 khu công nghiệp
Bình Yên được đầu tư xây dựng.
3.2.2. Chỉ đạo công tác xây dựng, phát triển tổ chức đảng và đoàn
thể trong các doanh nghiệp
Từ năm 2006 đến năm 2015 công tác xây dựng đảng và đoàn thể
trong các doanh nghiệp luôn được Tỉnh ủy Thái Nguyên đẩy mạnh phát
triển. Đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, có tầm quan trọng đặc
biệt nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đảm bảo cho các doanh
nghiệp thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của


thể; lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh; nguồn lao động trong các
doanh nghiệp cũng như các hộ kinh tế cá thể, tiểu chủ.


20
Chƣơng 4
NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
4.1. Một số nhận xét
4.1.1. Ưu điểm
Một là, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã nhận thức đúng đắn và vận
dụng linh hoạt chủ trương của Đảng về phát triển KTTN vào thực tiễn địa
phương, tạo sự nhất trí, đồng thuận trong hệ thống chính trị và quần
chúng nhân dân.
Hai là, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo tạo môi trường thuận lợi
để KTTN phát triển, tạo sự ổn định, phát triển lâu dài và bền vững.
Ba là, lãnh đạo phát triển KTTN góp phần giải quyết việc làm cho
người lao động, cải thiện đời sống nhân dân, thúc đẩy kinh tế - xã hội của
tỉnh phát triển.
Bốn là, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển KTTN góp
phần thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tạo sự
liên kết, trao đổi giữa các địa phương trong địa bàn tỉnh.
Năm là, lãnh đạo phát triển KTTN góp phần thúc đẩy các làng nghề
thủ công truyền thống phát triển.
4.1.2. Hạn chế
Một là, công tác chỉ đạo điều hành, triển khai thực hiện chủ trương
của Đảng bộ, công tác quản lý của các cơ quan chính quyền đối với thành
phần kinh tế tư nhân chưa được thường xuyên và chặt chẽ.
Hai là, công tác lãnh đạo, chỉ đạo hỗ trợ nguồn vốn vay đối với các
doanh nghiệp và cá nhân đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh còn nhiều
hạn chế, bất cập.

HĐH, nâng cao năng lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế

.

Những thành tựu đạt được của quá trình đổi mới từ năm 1986 đến nay, đã
chứng tỏ sự tồn tại và phát triển của KTTN là một tất yếu bắt nguồn từ
quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của
lực lượng sản xuất. Đây là bộ phận kinh tế có vai trò quan trọng trong
việc nâng cao năng lực nội sinh của đất nước, phát triển kinh tế và hội
nhập ngày càng sâu, rộng với xu thế phát triển chung của thế giới.


22
Thái Nguyên là tỉnh trung du, miền núi Bắc Bộ, có điều kiện thuận
lợi phát triển KTTN như: vị trí địa lý, tài nguyên khoáng sản, giao thông
thuận lợi, mặt bằng dân trí cao. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi
quá trình phát triển KTTN tỉnh Thái Nguyên cũng gặp nhiều khó khăn
như: cơ sở vật chất còn hạn chế, nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp
còn ít, quy mô các doanh nghiệp còn nhỏ. Những yếu tố trên đã tác động
mạnh mẽ đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, cần phải phát huy những
tiềm năng thế mạnh, khắc phục những hạn chế khó khăn và vận dụng linh
hoạt các chủ trương của Đảng vào điều kiện thực tiễn của địa phương.
Xuất phát từ thực tiễn của địa phương, từ năm 1997 đến năm 2015
Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã quán triệt sâu sắc và vận dụng linh hoạt
chủ trương của Đảng về phát triển KTTN, đề ra những mục tiêu, giải
pháp cụ thể để phát triển KTTN trên địa bàn tỉnh. Những chủ trương của
Đảng bộ tỉnh tập trung chủ yếu vào các vấn đề như: tạo hành lang, cơ
chế, chính sách thuận lợi để thúc đẩy KTTN phát triển; xây dựng, củng
cố, phát triển tổ chức cơ sở đảng và các đảng viên trong các doanh
nghiệp; tạo môi trường đầu tư thuận lợi để thu hút các nguồn lực phát

thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển. Hằng năm, kỷ niệm ngày
Doanh nhân Việt Nam 13/10, Tỉnh ủy, UBND tỉnh cùng các Sở, Ban,
Ngành đều có những buổi gặp mặt các doanh nhân, doanh nghiệp để lắng
nghe những tâm tư, nguyện vọng của họ và vinh danh những cá nhân,
doanh nghiệp tiêu biểu. Đây chính là động lực quan trọng để các doanh
nhân yên tâm sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất và đóng góp
nhiều hơn nữa vào sự phát triển chung của tỉnh.
Thông qua việc nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh
đạo phát triển KTTN từ năm 1997 đến năm 2015, nổi bật lên là một số
những ưu điểm sau: Đảng bộ tỉnh đã quán triệt và vận dụng linh hoạt chủ
trương của Đảng về phát triển KTTN vào thực tiễn của địa phương; xác
định được những phương hướng và giải pháp cụ thể để phát triển KTTN;
tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao thu nhập và
chất lượng đời sống của nhân dân; tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong
cơ cấu kinh tế và sự liên kết, trao đổi giữa các địa phương trong tỉnh. Từ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status