HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
PHM HNG KIấN
ĐảNG Bộ TỉNH BìNH DƯƠNG LãNH ĐạO
XÂY DựNG ĐộI NGũ CáN Bộ CHủ CHốT CấP CƠ Sở
Từ NĂM 1997 ĐếN NĂM 2015
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: LCH S NG CNG SN VIT NAM
H NI - 2018
HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
PHM HNG KIấN
ĐảNG Bộ TỉNH BìNH DƯƠNG LãNH ĐạO
XÂY DựNG ĐộI NGũ CáN Bộ CHủ CHốT CấP CƠ Sở
Từ NĂM 1997 ĐếN NĂM 2015
LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: LCH S NG CNG SN VIT NAM
Mó s: 62 22 03 15
NGI HNG DN KHOA HC:
1. PGS, TS. Trn Th Thu Hng
2. PGS, TS. Phm c Kiờn
H NI - 2018
Chƣơng 2: ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH DƢƠNG QUÁN TRIỆT CHỦ TRƢƠNG
6
25
28
CỦA TRUNG ƢƠNG ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ (1997-2005)
2.1. Yêu cầu khách quan đối với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp cơ sở của Đảng bộ tỉnh Bình Dương giai đoạn đầu
tỉnh mới tái lập
2.2. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bình Dương về xây
dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2005
Chƣơng 3: ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH DƢƠNG LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH XÂY
28
43
64
DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ TỪ NĂM
2005 ĐẾN NĂM 2015
3.1. Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bình Dương về
đẩy mạnh xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
3.2. Đảng bộ tỉnh Bình Dương chỉ đạo đẩy mạnh xây dựng đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp cơ sở (2005-2015)
Chƣơng 4: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
Lũy kế thu hút vốn FDI của tỉnh Bình Dương (1997-2015)
36
2.2
Cơ cấu kinh tế của tỉnh Bình Dương (1997-2015)
36
2.3
Số xã, phường, thị trấn của tỉnh Bình Dương (1997-2015)
38
2.4
Tình hình phát triển dân số tỉnh Bình Dương (1997-2015)
39
2.5
Trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị,
41
biểu đồ
117
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong hệ thống chính trị Việt Nam thì xã, phường, thị trấn là đơn vị
hành chính cấp cơ sở có vị trí, vai trò quan trọng. Điều này đã được Hội
nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX khẳng định:
"các cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh
sống; có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực
hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước" và là nơi "phát
huy quyền làm chủ của dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã
hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư" [29, tr. 166]. Để thực hiện tốt
vai trò đó, trước hết cần có đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở có tâm huyết, có
năng lực và sáng tạo, như Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, "muôn việc thành
công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém", "cán bộ tốt, việc gì cũng
xuôi", "đó là một chân lý nhất định" [65, tr. 280; 264]. Do vậy, một trong
những nhiệm vụ trọng yếu của công tác cán bộ ở đảng bộ các tỉnh, thành
phố chính là công tác xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở xã, phường, thị trấn.
Quán triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ thể hóa chủ
trương của Đảng về công tác cán bộ, ngay sau khi tái lập năm 1997, Đảng
bộ tỉnh Bình Dương đã chú trọng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là
cán bộ chủ chốt ở cơ sở xã, phường, thị trấn và coi đó là nhiệm vụ quan
trọng trong chiến lược phát triển của tỉnh. Vì vậy, công tác xây dựng đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Bình Dương trong 18 năm (1997-2015) đã đạt
được nhiều kết quả đáng ghi nhận.
Chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở của tỉnh Bình Dương
ngày càng cao, từng bước đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế xã hội, góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đưa Bình
Dương từ tỉnh nông nghiệp sớm thành tỉnh công nghiệp. Với những thành
Hệ thống hóa chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bình
Dương về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến
năm 2015.
3
Nhận xét một cách khách quan ưu điểm và hạn chế, nguyên nhân của
ưu điểm, hạn chế trong quá trình Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo xây
dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2015.
Đúc kết một số kinh nghiệm từ quá trình hoạch định chủ trương và
chỉ đạo thực hiện xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của Đảng bộ
tỉnh Bình Dương có giá trị tổng kết thực tiễn và có thể vận dụng trong giai
đoạn hiện nay.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh
Bình Dương về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm
1997 đến năm 2015.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung nghiên cứu: Đội ngũ cán bộ ở xã, phường, thị trấn (cấp
cơ sở) là khái niệm rộng, gồm 11 chức vụ [13, tr. 1-2]: Bí thư, Phó Bí thư
Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân;
Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam; Chủ tịch Hội Cựu chiến
binh Việt Nam; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cấp xã.
Luận án chỉ tập trung nghiên cứu 4 chức danh chủ chốt cấp cơ sở, gồm: Bí
thư Đảng ủy; Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Luận án tập trung làm rõ, chủ trương
và quá trình Đảng bộ tỉnh Bình Dương chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp cơ sở ở những nội dung chủ yếu trong công tác cán bộ: Xây dựng
thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ
sở của Đảng bộ tỉnh Bình Dương từ năm 1997 đến năm 2015.
4.3. Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu được sử dụng trong luận án: Văn kiện của Đảng, Nhà
nước, Chính phủ về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ; văn kiện và
văn bản của Tỉnh ủy, của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình
Dương, văn bản của các sở, ban, ngành có liên quan; các đề án, báo cáo hằng
5
năm, báo cáo tổng kết chương trình, tổng kết giai đoạn có liên quan đến công
tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở của các sở, ban, ngành và các địa phương
trong tỉnh Bình Dương.
Luận án kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học, sách
chuyên khảo, báo, tạp chí; các đề tài, luận văn, luận án đề cập đến công tác
xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong và ngoài nước.
5. Những đóng góp của luận án
Góp phần hệ thống chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bình
Dương trong lãnh đạo công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở từ
năm 1997 đến năm 2015.
Nhận xét quá trình Đảng tỉnh Bình Dương lãnh đạo thực hiện công
tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở từ năm 1997 đến năm 2015.
Luận án góp phần tổng kết thực tiễn công tác xây dựng đội ngũ cán
bộ chủ chốt ở cơ sở của Đảng bộ tỉnh Bình Dương giai đoạn 1997- 20l5.
Các kinh nghiệm luận án đưa ra có thể vận dụng vào công tác xây
dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Bình Dương trong thời kỳ
tiếp theo.
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và
giảng dạy liên quan đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
ở Bình Dương nói riêng, các tỉnh có điểm tương đồng nói chung.
của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chính đội ngũ cán bộ là nhân tố quyết
định đối với sự phát triển của mỗi quốc gia và lý giải, hệ thống hóa các căn cứ
khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán
bộ lãnh đạo các cấp, trên cơ sở đó, đưa ra những kiến nghị về phương hướng,
7
giải pháp nhằm củng cố, phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo về số lượng, chất
lượng và cơ cấu phù hợp với yêu cầu hiện nay ở Việt Nam.
Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của nông thôn Việt Nam, Hoàng
Chí Bảo, có công trình nghiên cứu về "Hệ thống chính trị cơ sở nông thôn nước
ta hiện nay" [9]. Nội dung cuốn sách đã khái quát về những biến đổi của nông
thôn và vai trò nông thôn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; tập trung nghiên
cứu sâu về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn hiện
nay, nhận rõ thực trạng về tổ chức và hoạt động của chính quyền cơ sở ở nông
thôn nước ta và những vấn đề đặt ra. Cuốn sách dành phần nhỏ đề cập đến
chất lượng đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ sở, theo tác giả "chất
lượng đội ngũ cán bộ chính quyền có chuyển biến, nâng cao" [9, tr. 344], bên
cạnh đó, vẫn còn nhiều mặt hạn chế như "số lượng cán bộ chính quyền cơ sở
khá đông; tuổi đời còn cao, trình độ còn thấp; số cán bộ nữ còn quá ít, một bộ
phận cán bộ có chức, có quyền suy giảm về đạo đức" [9, tr. 345-350]. Từ đó,
tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới và nâng cao chất
lượng hệ thống chính trị cơ sở ở nông thôn. Trong đó, có "nhóm giải pháp về
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và chính sách cán bộ cơ sở" [9, tr. 455]. Tuy nhiên,
công trình nghiên cứu ở tầm khái quát chung và địa bàn là nông thôn trên
phạm vi cả nước.
Cuốn sách "Kiện toàn và đổi mới tổ chức bộ máy của Đảng đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ mới" của Nguyễn Hữu Tri [130]. Tác giả khẳng định, Đảng
Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại
biểu trung thành lợi ích của giai cấp, nhân dân lao động và cả dân tộc. Mục
cán bộ phường như: Xây dựng tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo phường;
chủ động tạo nguồn và xây dựng quy hoạch cán bộ lãnh đạo; nâng cao chất
lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ; tăng cường luân chuyển cán bộ
phường để đào tạo, rèn luyện cán bộ; quản lý đội ngũ cán bộ lãnh đạo và cán
bộ dự nguồn; đổi mới việc lựa chọn, bố trí cán bộ lãnh đạo; bổ sung, hoàn thiện
chính sách, chế độ đối với cán bộ phường; phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức
đảng và các đoàn thể trong xây dựng đội ngũ cán bộ; đề cao trách nhiệm và
tăng cường sự chỉ đạo của cấp ủy; trẻ hóa đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường.
9
Các tác giả kết luận, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo phường trong
tình hình mới là công việc lớn, liên quan đến nhiều vấn đề. Vì vậy, cần kết
hợp nhuần nhuyễn tất cả những giải pháp đưa ra, từng bước tạo một nền tảng
chung bền vững, có như vậy những nội dung nghiên cứu trên lý thuyết và việc
triển khai áp dụng ra thực tiễn mới khả thi; từng bước xây dựng được đội ngũ
cán bộ lãnh đạo phường những năm tiếp theo đủ về số lượng, đảm bảo về chất
lượng, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra.
Đề cập đến các khâu của công tác cán bộ, cuốn sách "Đánh giá quy
hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước"của Trần Đình Hoan [47] đã làm rõ cơ sở lý luận, những
yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với công tác đánh
giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ; nêu ra cơ sở khoa học của công tác đánh
giá cán bộ, công tác quy hoạch cán bộ và công tác luân chuyển cán bộ lãnh
đạo, quản lý. Tác giả khẳng định: "Đánh giá cán bộ ảnh hưởng, tác động đến
toàn bộ các khâu quy hoạch, bố trí, đào tạo, luân chuyển cán bộ" [47, tr. 75],
trên cơ sở đó, đề ra 6 quan điểm đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu quả công
tác đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ. Đó là: Tăng cường rèn luyện
cán bộ; đổi mới đồng bộ các khâu của công tác cán bộ; phát huy tính chủ
động, sáng tạo của từng địa phương, đơn vị; đề cao trách nhiệm của cấp ủy;
tác giả đã chỉ ra 3 nguyên nhân khách quan, 5 nguyên nhân chủ quan và
khẳng định, bệnh quan liêu trong công tác cán bộ do nguyên nhân chủ quan là
chủ yếu. Đồng thời, các tác giả đưa ra mục tiêu, quan điểm, phương hướng và
6 giải pháp, kiến nghị để phòng, chống bệnh quan liêu trong công tác cán bộ ở
Việt Nam hiện nay.
Nội dung cuốn sách "Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức nhà nước" của Trần Đình Thắng [84] đã khái quát công tác
xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức của Đảng trước và trong thời
kỳ đổi mới, làm rõ sự lãnh đạo của Đảng trong cải tiến nền công vụ, xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cuốn sách dành phần đề cập đến chủ
trương của Đảng và cụ thể hóa của Nhà nước trong tổ chức thực hiện công
11
tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức ở ba thời kỳ: Trước đổi
mới, thời kỳ đầu đổi mới và thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Từ đó, rút ra một số kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp xây dựng đội
ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước trong những năm tiếp theo.
Cuốn sách "Vai trò của chính quyền cấp xã đối với phát triển xã hội
và quản lý phát triển xã hội ở nước ta" của Nguyễn Minh Phương [70], đã
phân tích và khẳng định phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nông
thôn là nhiệm vụ quan trọng, lâu dài, mang tính tổng hợp cả về kinh tế,
chính trị, xã hội. Để thực hiện được đồng bộ, hiệu quả thì cần phải thực hiện
rất nhiều giải pháp, tác giả cho rằng "yêu cầu cấp thiết phải nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức; tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, bầu
cử, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật, chế độ
chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã" [70, tr. 332; 285-296].
Các công trình khoa học nêu trên, đã cung cấp những quan điểm cơ
bản của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán
rõ thực trạng, quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò
pháp luật trong xây dựng đạo đức cho người cán bộ lãnh đạo chính trị ở Việt
Nam hiện nay.
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học "Đào tạo đội ngũ cán bộ
lãnh đạo của hệ thống chính trị ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào hiện
nay"của Khăm Phăn Vông Pha Chăn [59], đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý
luận và thực trạng về đào tạo cán bộ lãnh đạo của hệ thống chính trị ở nước
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; đánh giá những mặt làm được, những hạn
chế và nguyên nhân, trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất phương hướng và những
giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo
trong hệ thống chính trị ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Bên cạnh đó, còn có một số bài viết tiêu biểu đề cập đến tiêu chuẩn
cán bộ lãnh đạo, quản lý: Bài viết "Mô hình, tiêu chuẩn người lãnh đạo thời
kỳ đẩy mạnh hội nhập quốc tế" của Đỗ Minh Cương [19]; "Bản lĩnh chính trị
của cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị trước yêu cầu mới" của Nguyễn
13
Văn Huyên [52]. Các tác giả đã nêu vấn đề về tiêu chuẩn và năng lực chính trị
của đội ngũ cán bộ chủ chốt trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta hiện nay đòi hỏi đội ngũ cán bộ chủ chốt có khả năng tổ chức lực
lượng, tạo ra sức mạnh vật chất nhằm hiện thực hóa ý chí của Đảng, của dân
tộc, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Trên cơ sở đó,
đề ra những yêu cầu đội ngũ cán bộ phải có năng lực trí tuệ, có ý chí, nghị lực
vượt qua không chỉ sự chống phá của các thế lực thù địch, mà còn phải khắc
phục những hạn chế, trở ngại xã hội, kể cả sức ỳ của sự lạc hậu và cản trở của
bản thân về nhận thức, tư duy, kể cả chủ trương, quan điểm và cơ chế lỗi thời.
Bài "Rèn luyện, phát triển nhân cách người cán bộ lãnh đạo, quản lý
cấp cơ sở hiện nay" của Nguyễn Thị Hạnh [42]. Tác giả khẳng định: Cấp cơ
sở (xã, phường, thị trấn) là cấp thấp nhất, gần dân nhất, trực tiếp tổ chức và
phường, thị trấn trong những năm tiếp theo.
Liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã, có các bài
viết: "Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở"của Nguyễn Thị Lan Phương [68];
"Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lãnh đạo theo vị trí việc làm" của Đào
Thị Ái Thi [88]; "Chú trọng chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo
trong nền kinh tế thị trường" của Phạm Đức Chính [12]; "Bồi dưỡng theo
chức danh góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ mới" của Lê Minh Quân [73]; "Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của Nguyễn Minh
Tuấn [136]; "Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và một số vấn
đề đặt ra trong hội nhập quốc tế" của Nguyễn Minh Phương [69].
Các tác giả đã làm rõ thêm nội dung xác định vị trí việc làm theo Luật
cán bộ công chức 2008, trên cơ sở đó, đề xuất những biện pháp để nâng cao
chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lãnh đạo theo vị trí việc làm.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay còn có những
bất cập trước sự vận động và phát triển của thực tiễn như: Đào tạo bồi dưỡng
chung cho nhiều đối tượng; nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng còn
nặng về lý thuyết, chưa phù hợp và thích ứng với tình hình cán bộ của các
vùng, địa phương, cơ sở; thiếu chương trình bồi dưỡng theo chức danh, sự
15
thay đổi công việc, vị trí chức vụ, nên người cán bộ có sự thiếu hụt kiến thức
và kỹ năng. Do vậy, các tác giả đề xuất bồi dưỡng theo vị trí, theo chức danh
cho đội ngũ cán bộ là góp phần bù đắp những thiếu hụt, bổ sung những tri
thức mới, sát hợp, giúp cán bộ đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Để nâng cao hiệu
quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, các tác giả chỉ rõ: Cần xác định đúng
đối tượng, chủ thể bồi dưỡng; cần lựa chọn nội dung, phương pháp áp dụng
phù hợp, tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật đáp ứng yêu cầu giảng dạy và
học tập.
chế độ đối với cán bộ, công chức cơ sở cần phải: bám sát các đặc điểm, tính chất
của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở; nắm vững chủ trương, quan điểm
của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; xây dựng chính sách, chế độ đãi
ngộ đối với cán bộ, công chức cơ sở phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, khối
lượng công việc mà từng chức danh cán bộ, công chức đảm nhiệm; chính sách
tiền lương, chế độ đãi ngộ đối phải phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước;
việc đổi mới chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức cơ sở phải có tính
kế thừa, góp phần ổn định và phát triển đội ngũ; xây dựng chế độ, chính sách
cần phù hợp với điều kiện đặc thù của từng vùng, miền và địa phương cụ thể.
Những bài viết đề cập đến lý luận chung về xây dựng đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp xã: Bài viết "Quan điểm của Đảng trong xây dựng đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp xã ở Việt Nam hiện nay"của Đỗ Thái Huy [51]; "Cán bộ lãnh
đạo chủ chốt cấp xã ở nông thôn Việt Nam hiện nay"của Mai Đức Ngọc [67].
Nội dung các bài biết đã trình bày khái quát quan điểm của Đảng về xây dựng
đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VII (1991) đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011) của Đảng,
nhận xét những ưu điểm, hạn chế của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp
xã, từ đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò cán bộ
lãnh đạo chủ chốt cấp xã ở Việt Nam hiện nay.
Những công trình khoa học nói trên, gợi ý cho luận án cần phải làm rõ
lý luận về cấp cơ sở, về đội ngũ cán bộ chủ chốt và vị trí, vai trò của đội ngũ
cán bộ chủ chốt trong hệ hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn; gợi
mở đối với luận án cần hệ thống hóa những quan điểm của Đảng Cộng sản
17
Việt Nam về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở xã, phường,
thị trấn để thấy được bước phát triển tư duy của Đảng trong công tác này và
chính sự phát triển tư duy của Đảng đã tác động đến công tác lãnh đạo xây
dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của Đảng bộ tỉnh Bình Dương.
công tác này. Đồng thời, tác giả nêu lên thực trạng xây dựng đội ngũ nữ cán
bộ chủ chốt ở một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, từ đó, đưa ra một số
giải pháp về xây dựng đội ngũ nữ cán bộ trong hệ thống chính trị cấp cơ sở
trong những năm tiếp theo.
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng "Xây đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp xã vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long hiện nay" của
Phạm Công Khâm [60], đã làm rõ thêm cơ sở khoa học, nét đặc thù về vị trí,
vai trò của cấp xã và đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở đồng bằng sông Cửu
Long trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phân tích thực trạng đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã; đưa ra những nhận xét và đề xuất một số giải
pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã vùng đồng bằng sông
Cửu Long trong những năm tiếp theo.
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Triết học "Vấn đề bồi dưỡng thế giới
quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Tây
Nguyên hiện nay" của Nguyễn Viết Quân [72], đã phân tích vai trò của thế
giới quan duy vật biện chứng trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực
tiễn của con người, khẳng định tầm quan trọng của việc bồi dưỡng thế giới
quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Tây
Nguyên. Đồng thời, tác giả cũng đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp cơ sở ở Tây Nguyên đáp ứng yêu cầu của hoạt động lãnh đạo ở cơ sở
thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học "Xây dựng phong cách
chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ở đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn hiện
nay" của Hồ Ngọc Trường [132], đã nghiên cứu những vấn đề về lý luận và
thực tiễn về xây dựng phong cách Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ở đồng bằng
sông Cửu Long, từ đó, đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm
19
20
giả đề xuất 4 giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
ở tỉnh Sóc Trăng. "Nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ chốt
cấp xã trong xây dựng nông thôn mới ở Tây Bắc" của Trần Nhật Duật [21], đã
làm rõ năng lực của cán bộ chủ chốt cấp xã, khái quát thực trạng đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp xã ở 4 tỉnh, Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Yên Bái; nêu lên
những điểm mạnh và những mặt hạn chế; trên cơ sở đó, tác giả đề xuất 6 giải
pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ chốt cấp xã
trong xây dựng nông thôn mới ở các tỉnh Tây Bắc.
Bài viết "Một số giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở tại
thành phố Đà Nẵng" của Nguyễn Thị Tâm [83], đã nêu rõ thực trạng đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp cơ sở thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở thực trạng đội ngũ
cán bộ cấp cơ sở của thành phố Đà Nẵng, tác giả khẳng định, để nâng cao
chất lượng quản lý hành chính ở cấp cơ sở trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
trong giai đoạn tiếp theo, cần tập trung thực hiện một số giải pháp cơ bản:
Chuẩn hóa các chức danh cán bộ chủ chốt cấp cơ sở đáp ứng yêu cầu quản lý
nhà nước; rà soát, đánh giá toàn diện đội ngũ cán bộ chủ chốt các phường, xã
trên địa bàn thành phố; làm tốt công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp cơ sở; đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp cơ sở.
Bài viết "Đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo
quản lý cấp cơ sở ở tỉnh Phú Thọ hiện nay" của Nguyễn Thị Thu Huyền [53],
đã khái quát lý luận đội ngũ cán bộ, thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
và những vấn đề đặt ra đối với công tác đào tạo, từ đó, tác giả đề xuất 7 giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý ở cơ sở góp
phần xây dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh.
Các công trình khoa học trên đã cung cấp những tư liệu có giá trị về
công tác lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở của Đảng bộ ở một số
địa phương trong cả nước. Đó là tài liệu quý để luận án có thể tham khảo,