ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ DUNG HUYỀN
ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN CUỘC VẬN ĐỘNG “TOÀN DÂN
ĐOÀN KẾT ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở
KHU DÂN CƯ” (1995-2005)
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ DUNG HUYỀN
ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN CUỘC VẬN ĐỘNG “TOÀN DÂN
ĐOÀN KẾT ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở
KHU DÂN CƯ” (1995-2005)
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
Chuyên nghành
Mă số
: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
: 60 22 56
HIỆN CUỘC VẬN ĐỘNG: “TOÀN DÂN ĐOÀN KẾT XÂY DỰNG
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở KHU DÂN CƯ" ............................................
3.1. Kết quả thực hiện cuộc vận động “Toàn dân doàn kết xây
dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư ” do đảng bộ Nghệ An
lónh đạo.....................................................................................
3.2. í nghĩa của cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng Đời
sống văn hóa ở khu dân cư ......................................................
3.3. Một số kinh nghiệm trong quỏ trỡnh Đảng bộ Nghệ An lãnh
đạo cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hóa ở KDC” .......................................................................
Kết luận ................................................................................................
Danh mục tài liệu tham khảo .............................................................
Phụ lục ..................................................................................................
3
Trang
1
8
8
11
15
41
43
43
CVĐ
Cuộc vận động
ĐCSVN
Đảng Cộng sản Việt Nam
ĐSVH
Đời sống văn hoỏ
KDC
Khu dõn cư
MTTQ
Mặt trận Tổ quốc
UBND
Uỷ ban nhõn dõn
XHCN
Xó hội chủ nghĩa
4
5
ư nghĩa chính trị - xă hội to lớn nên CVĐ đă được triển khai , tổ chức thực
hiện nhanh chóng, rộng khắp, được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia
một cách nhiệt t́nh , tự giác và do đó đă tạo một bước chuyển biến tích cực
trên mọi lĩnh vực của đời sống xă hội ở địa bàn KDC.
Đối với công tác Mặt trận, CVĐ c ̣n có ư nghĩa đổi mới theo tinh thần nghị
quyết 07 của Bộ Chớnh trị (Khúa VII) và nghị quyết TW 7 (Khóa IX), lấy đại
đoàn kết toàn dân làm sức mạnh, lấy lợi ích cuộc sống của nhân dân làm điểm
tương đồng, lấy tiến bộ văn minh và chất lượng cuộc sống ở KDC làm động lực,
cụ thể hơn là “lấy sức dân chăm lo cuộc sống cho dân”.
Những năm đổi mới cho thấy, nền kinh tế thị trường một mặt kích thích
và phát huy các nguồn lực để phát triển kinh tế - xó hội, mặt khác chính cơ
chế kinh tế đó đó tỏc động tiêu cực không nhỏ đến đời sống văn hóa, đạo đức
và tư tưởng của quần chúng nhân dân, tạo nên trở lực lớn trên con đường phát
triển xă hội. Thực tế đó đũi hỏi toàn Đảng, toàn dân phải đoàn kết, nỗ lực
chăm lo xõy dựng ĐSVH trong mỗi gia đỡnh, mỗi KDC, tạo sức mạnh tổng
hợp để xây dựng thành công nền văn hóa Việt Nam tiờn tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc.
Để chú trọng hơn nữa việc chăm lo, xây dựng đời sống của nhõn dõn ở
mỗi KDC , MTTQ Việt Nam đó phát động CVĐ : “Toàn dân đoàn kết xây
dựng cuộc sống mới ở KDC ” và sau này được đổi là “Toàn dân đoàn kết xây
dựng ĐSVH ở KDC”. CVĐ là một hỡnh thức để tăng cường sự nhất trí về
chính trị của các tầng lớp nhõn dõn trong cỏc KDC, phát triển sự đồng thuận
xó hội, tăng cường và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. CVĐ thực sự là
một cuộc cỏch mạng rộng lớn trong thời kỡ đổi mới đất nước, nó đó khơi dậy
và phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc từ mỗi cá nhân, mỗi gia đỡnh
và mỗi cộng đồng dân cư, tạo nờn sức mạnh nội lực của của đất nước nhằm
thực hiện mục tiờu phỏt triển kinh tế, xó hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh
2. Tỡnh hỡnh nghiờn cứu liên quan đến đề tài.
Xây dựng ĐSVH nói chung, CVĐ “Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH ở
KDC” nói riêng là một chiến lược cách mạng của Đảng ta.Vỡ vậy, nghiờn cứu
về xõy dựng nền văn hóa và CVĐ “Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH ở KDC”
đó được sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà nghiên cứu khoa học, nhiều công
7
trỡnh đó được xuất bản. Có thể khái quát thành các nhóm sau đây:
Một là, các luận án, luận văn: “Xây dựng môi trường văn hóa đơn vị
học viên đào tạo sĩ quan chỉ huy phân đội phũng khụng”, luận văn cao học
của Nguyễn Duy Sỳc, Học viện Chớnh trị quõn sự 2001; “Các quy luật
phát triển văn hóa và ý nghĩa trong xõy dựng mụi trường văn hóa ở Học
viện Chính trị quân sự hiện nay”, khúa luận tốt nghiệp cử nhõn của Nguyễn
Đỡnh Bắc, Học viện Chớnh trị quõn sự, Hà Nội 2005; “Đảng bộ huyện Từ
Liêm(Hà Nội) lónh đạo thực hiện cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây
dựng ĐSVH ở KDC (2000-2005)”, luận văn cử nhân lịch sử của Phựng
Tuấn Hải, Học viện Chớnh trị quõn sự, Hà Nội 2007. Các luận văn đó phần
nào đề cập đến ĐSVH ở cỏc môi trường khác nhau, nêu lên được thực
trạng của ĐSVH và bước đầu tổng kết những thành tựu và hạn chế trong
quá trỡnh thực hiện xõy dựng ĐSVH, môi trường văn hóa.
Hai là, một số chuyên khảo, chuyên luận của các nhà khoa học được
đăng trên các báo, tạp chí đề cập đến vấn đề xây dựng ĐSVH như: “Xây dựng
môi trường văn hóa - một số vấn đề lí luận và thực tiễn ” của Ban Tư tưởng
văn hóa Trung ương - Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội 2004; “Xây
dựng môi trường văn hóa cơ sở” của tỏc giả Văn Đức Thanh, Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001; “Nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa tốt
đẹp, lành mạnh, phong phú trong các đơn vị quân đội” của tác giả Đặng Vũ
Hiệp, Tạp chí quốc phũng toàn dõn, số 7/1993… Cỏc bài viết đó cỏc nờu cỏc
“Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH ở KDC” trong những năm 1995-2005.
- Bước đầu tổng kết những thành tựu và một số kinh nghiệm trong
quá trỡnh lónh đạo thực hiện CVĐ của Đảng bộ Nghệ An trong những
năm 1995-2005.
b) Nhiệm vụ nghiờn cứu:
9
- Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xó hội của tỉnh Nghệ An.
- Nội dung và yờu cầu của CVĐ “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống
mới ở KDC”.
- Phân tích chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Nghệ An trong quá
trỡnh thực hiện CVĐ “Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH ở KDC” trong
những 1995-2005.
- Tổng kết và rỳt ra một số kinh nghiệm thực tiễn trong quá trỡnh tỉnh
ủy Nghệ An lónh đạo toàn dân thực hiện CVĐ.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
a) Đối tượng nghiên cứu:
Đảng bộ Nghệ An lónh đạo toàn dân thực hiện CVĐ “Toàn dân đoàn
kết xây dựng ĐSVH ở KDC”(1995-2005).
b) Phạm vi nghiờn cứu:
- Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Tỉnh Nghệ An trong quá trń h
thực hiện CVĐ “Toàn dân đoàn kết xây dựng ĐSVH ở KDC”.
- Thực hiện CVĐ qua 2 giai đoạn (1995-2000) và (2000-2005) với 2
tên gọi khác nhau.
5. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu.
a) Nguồn tài liệu:
Để thực hiện luận văn, tác giả đó sử dụng cỏc nguồn tư liệu chủ yếu là
các văn kiện Đảng; các báo cáo tổng kết, các phân tích đánh giá của các cơ
dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”.
11
Chƣơng 1
ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN LÃNH ĐẠO CUỘC VẬN ĐỘNG
“TOÀN DÂN ĐOÀN KẾT XÂY DỰNG CUỘC SỐNG MỚI
Ở KHU DÂN CƢ” TRONG NHỮNG NĂM 1995-2000
1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên và xó hội tỉnh Nghệ An.
Nghệ An là tỉnh ở phớa Bắc miền Trung. Sau một thời gian dài được
sáp nhập với Hà Tĩnh thành tỉnh Nghệ Tĩnh, đến năm 1991 Nghệ An được
tái lập.
Hiện nay, Nghệ An có diện tích tự nhiên 16.490 km2, phía Bắc giáp
Tỉnh Thanh Hóa với đường biên dài 196,13 km; Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh
với đường biên dài 92,6 km; phớa Tõy có 419 km đường biên giới với nước
bạn Lào; phía Đông có bờ biển dài 82km.
Nằm ở phía Đông Bắc dóy Trường Sơn, Nghệ An có địa hỡnh khỏ
phức tạp và bị chia cắt bởi cỏc hệ thống đồi núi, sông suối hướng nghiêng từ
Tây- Bắc xuống Đông - Nam. Đỉnh cao nhất là đỉnh Pulaileng (2.711m) ở
huyện Kỳ Sơn . Đồi núi chiếm 83% diện tích đất tự nhiên của toàn Tỉnh . Hệ
thống giao thông mặc dù đó được chú ý đầ̀u tư cải tạo , xây dựng nhưng nhỡn
chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xó hội. Khí hậu ở
Nghệ An khá khắc nghiệt, lắm mưa nhiều nắng, hạn hán, bóo lụt thường
xuyên đe dọa và tàn phá nặng nề. Có thể nói điều kiện địa lý tự nhiờn của tỉnh
Nghệ An khụng cú mấy sự ưu đói như một số tỉnh thành khác.
Dân số Nghệ An hơn 3,1 triệu người. Sau nhiều lần thay đổi và phân
chia một số đơn vị hành chính đến nay Nghệ An có 20 đơn vị hành chính cấp
huyện (1 thành phố, 2 thị xó, 17 huyện trong đó có 11 huyện miền núi) với
478 xó, phường, thị trấn; 5795 khối, xóm, bản. Đồng bào sống ở miền núi hơn
thơ nôm Hồ Xuân Hương, Phan Bội Châu, Nguyễn Sinh Sắc, Đặng Thai Mai,
Đặng Thúc Hứa...
Những truyền thống tốt đẹp đó của nhân dân Nghệ An được lưu truyền,
gỡn giữ, phỏt huy trong điều kiện lịch sử mới. Đó là những giá trị tốt đẹp để
giáo dục các thế hệ trẻ phát huy truyền thống của địa phương góp sức mỡnh
13
vào cụng cuộc phỏt triển kinh tế - xó hội của Tỉnh.
Bên cạnh người dân bản địa sinh sống lâu năm, cũn cú khụng ớt
người dân các địa bàn khác đến cư trú trên địa bàn tỉnh. Cộng đồng người
đó làm tăng thêm tính muôn màu nhiều vẻ, tạo nên một bản sắc văn hóa
Nghệ An đa dạng và phong phú. Nhiều làng nghề được củng cố và phát
triển thêm như: làng đan nứa, trúc Xuân Nha (Hưng Nguyên); làng rèn Nho
Lâm (Diễn Châu); làng nồi đất Trù Sơn (Đô Lương); làng mây tre đan
(Nghi Lộc)… nhiều sản phẩm thủ công nghiệp, nhiều lễ hội truyền thống,
nhiều phong tục tập quán được nhân dân trong cả nước và bạn bè quốc tế
biết đến và tôn vinh.
Trên địa bàn tỉnh Nghệ An có rất nhiều di tích lịch sử - văn hóa. Các di
tích đó gắn liền với các danh nhân và các kỳ tích lịch sử của địa phương.
Nhiều di tích đó cho thấy truyền thống lịch sử của Nghệ An đậm tính nhân
văn và mang tính giáo dục tinh thần cách mạng cao cho các thế hệ trẻ về sau
như: khu di tích Kim Liên gắn với thời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh;
Khu di tích Mai Hắc Đế, Đền Cuông - An Dương Vương; Hang Thẩm Ồm,
Phượng Hoàng - Trung Đô, khu di tich lịch sử Truụng Bồn… Nơi đây là quê
hương của nhiều nhà cách mạng lỗi lạc như: Mai Thúc Loan, Lê Hồng Phong,
Hồ Tùng Mậu, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Sỹ Sách… Đặc biệt, Nghệ An là
quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lónh tụ vĩ đại, người sáng lập
ĐCSVN, sáng lập nước Việt Nam dõn chủ cộng hũa, sỏng lập Mặt trận dõn
tục̣ Thống nhất Việt Nam, người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn
định. CVĐ Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở KDC được hỡnh
thành trờn cơ sở kế thừa, phát huy, mở rộng và nâng cao các phong trào thi
đua yêu nước, các CVĐ đó cú từ trước đến nay của Mặt trận, của các tổ
chức thành viên và của các ngành. CVĐ nhằm tập hợp mọi tầng lớp nhân
dân, thực hiện quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Lấy sức dõn mà xõy
dựng cuộc sống cho dõn”, khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi người, mỗi gia
đỡnh, mỗi cộng đồng dân cư trên cơ sở phát huy truyền thống “đoàn kết
cộng đồng”,“tương thân tương ái”,“tỡnh làng nghĩa xúm”,“lỏ lành đùm lá
rách” giúp nhau xây dựng gia đỡnh ấm no, bỡnh đẳng, tiến bộ, hạnh phúc
15
và KDC giàu mạnh, văn minh.
Sự nghiệp đổi mới đất nước đũi hỏi phải phỏt động một phong trào
thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia và hưởng ứng tích cực.
Để từng bước đem lại kết quả thiết thực, góp phần thực hiện thắng lợi kế
hoạch kinh tế - xó hội, an ninh quốc phũng ở từng địa phương và trong cả
nước; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Đồng thời, đổi mới
công tác vận động quần chúng thi đua yêu nước trong thời kỡ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa vỡ mục tiờu “Dõn giàu, nước mạnh, xó hội
cụng bằng, dõn chủ, văn minh”.
Để đáp ứng những yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, Hội nghị
lần thứ 2 Ủy ban MTTQ Việt Nam (khóa IV) đó quyết định mở CVĐ
“Toàn dân đoàn kết xây dựng cuôc sống mới ở KDC” với những nội dung
chủ yếu sau:
Một là, Đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế, huy động được nhiều
nguồn vốn để phát triển sản xuất, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sát
hợp. Bảo đảm ở mỗi KDC ngày càng có số đông hộ khá giả, không cũn hộ
đói, giảm hẳn hộ nghèo, tăng hộ giàu.
Hai là, Đoàn kết phát huy truyền thống uống nước nhớ nguồn, tương
phũng đúng lịch”[48, tr.422].
Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở KDC”
là CVĐ lớn của thời kỡ đổi mới đất nước hướng tới việc chăm lo, phát triển
đời sống của nhân dân. Trước những yêu cầu vừa cơ bản vừa cấp bách của
công cuộc đổi mới đất nước là giải phóng sức sản xuất, bồi dưỡng và phát huy
nhân tố con người trên cơ sở pháp luật hóa và xó hội húa đời sống kinh tế xó
hội, nhằm thực hiện một bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đồng
thời, xuất phát từ nhu cầu và nguyện vọng chung của các tầng lớp nhân dân
có cuộc sống cộng đồng ổn định, lành mạnh, nhân ái, xó hội cụng bằng, dõn
chủ, văn minh, có đời sống ấm no hạnh phúc.
Xuất phát từ yêu cầu đó, MTTQViệt Nam, với chức năng chủ yếu của
mỡnh là phối hợp thống nhất hành động giữa các thành viên và các cơ quan
của Đảng, nhà nước, phát huy truyền thống sức mạnh đại đoàn kết dân tộc,
17
phấn đấu cho “ý Đảng - lũng dõn” sớm thành hiện thực trờn đất nước ta, từng
bước nâng cao chất lượng cuộc sống của mọi người, mọi gia đỡnh ở từng
KDC trong cả nước.
Để phát huy vai trũ, ý nghĩa và nõng cao hiệu quả CVĐ, Ủy Ban
MTTQViệt Nam xác định một số yêu cầu:
Thứ nhất, Nội dung của CVĐ phải toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế,
văn hóa, xó hội, an ninh, quốc phũng… Do đó, trong quá trỡnh thực hiện, cỏc
nội dung khụng tỏch rời nhau mà đan xen, thúc đẩy lẫn nhau, hướng vào mục
tiêu chung là nâng cao chất lượng cuộc sống của các tầng lớp nhân dân. Toàn
bộ nội dung của CVĐ thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bồi dưỡng sức
dân với huy động sức dân, vỡ lợi ớch của dõn, bằng sức dõn và do dân tự quản.
Ở đây lợi ích của mỗi con người, mỗi gia đỡnh trong cộng đồng dân cư và lợi
ích của đất nước là nhất quán. Mỗi nội dung của CVĐ vừa có tính định hướng
những trọng tâm, vừa có tính định lượng qua những chỉ tiêu hướng dẫn. Vỡ
quả thiết thực, nhận ra những tiến bộ cụ thể liên quan đến lợi ích và trách
nhiệm của mỡnh, đây chính là động lực nuôi dưỡng CVĐ phát triển bền vững.
1.3 Chủ trƣơng và sự chỉ đạo của Đảng bộ Nghệ An thực hiện cuộc
vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cƣ”
trong những năm 1995-2000.
1.3.1 Yêu cầu khách quan của cuộc vận động.
Sau khi tái lập, Nghệ An phải đối phó với nhiều khó khăn, thử thách.
Nền kinh tế chậm phát triển, cơ cấu kinh tế chưa phù hợp, năng lực sản xuất
kinh doanh của các đơn vị cũn yếu, một số đơn vị thua lỗ kéo dài, chậm khắc
phục. Đời sống của cán bộ hưu trí và một bộ phận nhân dân ở nông thôn, nhất
là miền núi gặp nhiều khó khăn. Số hộ đói chiếm tỉ lệ khá cao. Số người
trong độ tuổi lao động không có việc làm chiếm 30%. Là một tỉnh nghèo,
tốc độ tăng trưởng kinh tế của Nghệ An cũn chậm và thấp so với bỡnh
quõn của cả nước. Sản xuất hàng hóa chưa phát triển mạnh; công nghiệp
chuyển biến cũn chậm; hoạt động thương mại, dịch vụ chưa thực sự gắn
19
với sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, chưa tạo tiền đề cho sản xuất
hàng hóa. Kinh tế đối ngoại cũn nhiều bất cập. Việc thu ngõn sỏch chưa
đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên; mức sống người dân cũn thấp đặc biệt
là các vùng nông thôn và miền núi.
Trước tác động của nền kinh tế thị trường cùng xu thế hội nhập quốc
tế và giao lưu mở rộng trên các lĩnh vực đó làm cho sự thõm nhập của văn
hóa phương tây vào xó hội Việt Nam núi chung và Nghệ An núi riờng
, gõy
ảnh hưởng không nhỏ đến việc nhỡn nhận cỏc giỏ tri ̣truyền thống nhất là
nạn như cờ bạc, bói toán, mê tín dị đoan không những không bị ngăn chặn mà
trái lại là dịp để phát sinh. Lễ hội diễn ra cũn dài, rườm rà, nhiều nơi có lễ mà
không có hội hoặc phần hội sơ sài, đơn giản, chưa khai thác và phát huy hết ý
nghĩa giỏo dục trong cỏc phong tục tập quỏn, cỏc ngành nghề truyền thống và
cỏc trũ chơi dân gian. Thậm chí một số nơi hỡnh thức rước kiệu thái quá ảnh
hưởng tới các lễ nghi truyền thống, làm cho một số người mê tín vào sự ứng
nghiệm của thần linh.
Ở cỏc KDC trong tỉnh, công tác vệ sinh môi trường chưa được coi
trọng và tổ chức thường xuyên, chưa tạo thành nề nếp; nhiều cá nhân, hộ gia
đỡnh chưa có ý thức vệ sinh cụng cộng, vứt rỏc xuống sụng, hồ hoặc cỏc bói
đất trống làm mất cảnh quan môi trường và ảnh hưởng đến cuộc sống của
nhân dân trong các KDC. Đặc biệt, do tác động của nền kinh tế thị trường, ở
một số huyện đó xõy dựng nhiều cụng ty, xớ nghiệp hoạt động sản xuất, bên
cạnh những thuận lợi mà nó mang lại như giải quyết việc làm cho lao động
thất nghiệp, tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân, các công ty, xí nghiệp
vỡ lợi nhuận cục bộ hay chưa nhận thức đầy đủ vai trũ của mụi trường sống
đối với sức khỏe cộng đồng đó thiếu quan tõm xõy dựng biện phỏp và đầu tư
thích đáng cho việc xử lí chất thải công nghiệp làm ô nhiễm môi trường gây
bất bỡnh trong nhõn dõn .
Trong tỉnh, có nhiều huyện địa hỡnh dõn cư trũng, thấp, đường sá chật
hẹp, chắp vá, lầy lội, vừa ảnh hưởng đến giao lưu đi lại vừa làm mất cảnh
21
quan môi trường và sức khỏe của người dân.
Tỡnh trạng mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân xảy ra ở nhiều nơi, có một
số vụ kéo dài không giải quyết dứt điểm, gây nghi kỵ, bức xúc trong nhân
dân. Đặc biệt, tỡnh trạng tranh chấp đất đai giữa các hộ gia đỡnh trong KDC
chưa được khắc phục; các cuộc cói vó, chửi bới, ẩu đả cũn xảy ra làm mất
tỡnh làng nghĩa xúm, gõy trở ngại cho đại đoàn kết toàn dân, ảnh hưởng đến
đến các lĩnh vực của đời sống nhân dân như: chăm sóc sức khỏe ban đầu, xóa
đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo từ thiện, thanh toán nạn mù
chữ, phổ cập tiểu học, chương trỡnh dõn số kế hoạch húa gia đỡnh…Đây là
CVĐ lớn, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc nhằm mục đích xó hội húa cỏc lĩnh
vực trong đời sống xó hội , thể hiện trỏch nhiợ̀m cao của Đảng , nhà nước và
các đoàn thể trong việc chăm lo cuộc sống của nhân dân. CVĐ đáp ứng kịp
thời nguyện vọng của nhân dân, vỡ thế đó nhanh chúng đi vào cuộc sống,
được mọi tầng lớp nhân dân trên mọi vùng miền của cả nước đón nhận và
hưởng ứng nhiệt thành.
Sau khi tiếp nhận thông tri về CVĐ, Tỉnh ủy Nghệ An đă ra thông tri
số 33TT/TU về việc chỉ đạo CVĐ “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống
mới ở KDC”. Thông tri nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác tuyên truyền,
giáo dục nhằm giúp nhân dân hiểu rừ mục đích, yêu cầu và các nội dung của
CVĐ: “Thông qua CVĐ để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, từ đó đổi
mới nội dung và phương thức hoạt động của cỏc tổ chức quần
chỳng”[35,tr.392]. Đồng thời chỉ rơ: “thông qua CVĐ, tư tưởng đoàn kết phải
được thể hiện rộng rói, xuyờn suốt và coi đó là mục tiêu, phương thức của
CVĐ. CVĐ là sự thống nhất trong hệ thống chính trị, ở đó phải thể hiện được
vai trũ lónh đạo của Đảng bộ, có sự phối hợp với chính quyền các cấp với
Mặt trận, các đoàn thể để thực hiện tốt các nội dung của CVĐ. Đặc biệt, cần
gắn liền CVĐ với CVĐ xây dựng nếp sống văn hóa, gia đỡnh văn hóa, phát
huy truyền thống tốt đẹp của mỗi vùng quê với truyền thống dân tộc để xây
dựng gia đỡnh, làng bản, khối phố ngày càng giàu đẹp”[35, tr.392].
Thực hiện thông tri của Tỉnh ủy, MTTQTỉnh phối hợp với UBND tổ
23
chức triển khai nhiều cuộc họp với các ban ngành và các huyện để quán triệt
mục đích, yêu cầu, nội dung và phương pháp tiến hành CVĐ. Quá trỡnh triển
khai đó cơ bản thống nhất tư tưởng, xác định đây là CVĐ có quy mô rộng lớn,
khỏe và hưởng thụ văn hóa; xây dựng trách nhiệm công dân, thiết lập quan hệ
xó hội lành mạnh, giàu tỡnh nghĩa với truyền thống của người xứ Nghệ trong
truyền thống tốt đẹp của dân tộc…tạo điều kiện cho tỉnh phát triển toàn diện,
sớm thoát khỏi đói nghèo. Để làm được điều đó, Đại hội đó đề ra các nhiệm
vụ cụ thể:
Trước hết, phải thực hiện tốt các chính sách xó hội nhằm tạo ra một xó
hội cụng bằng, văn minh, ở đó mỗi công dân đều có điều kiện phát triển,
người khó khăn được giúp đỡ, người hưởng chính sách xó hội cú mức sống
cao hơn mức sống trung bỡnh ở địa phương.
Đẩy mạnh phong trào “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”,
chăm sóc thương binh, gia đỡnh liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng, phong trào
hỗ trợ việc làm cho con em các gia đỡnh chớnh sỏch…bằng cỏc hỡnh thức
phong phỳ, đa dạng và thiết thực. Thực hiện tốt pháp lệnh đối với người có
công, chế độ bảo hiểm xó hội; đẩy mạnh các hoạt động nhân đạo, từ thiện;
giúp đỡ người khó khăn, bất hạnh trong cuộc sống bằng sự động viên, giúp đỡ
đóng góp của các tầng lớp nhân dân trong cộng đồng dân cư cũng như các tổ
chức kinh tế - xó hội.
Tiếp tục thực hiện tốt CVĐ xóa đói giảm nghèo, nhất là đối với đồng
bào các dân tộc thiểu số. Xây dựng quỹ xóa đói giảm nghèo do nhân dân đóng
góp. Vận động nhân dân trong các KDC đoàn kết giúp đỡ nhau để cải thiện
đời sống, xóa đói giảm nghèo, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp,
nâng cao thu nhập.
Xõy dựng cuộc sống lành mạnh bằng việc thực hiện đồng bộ các biện
pháp giáo dục, hành chính, kinh tế và pháp luật để phũng chống và đẩy lùi có
25