ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THU HƢỜNG XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ
THỊ TRƢỜNG Ở TỈNH HẢI DƢƠNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
HÀ NỘI, 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi dƣới sự hƣớng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Thanh Bình. Các số liệu và
nguồn tài liệu đƣợc dẫn trích trong luận văn là trung thực, chính xác và có
nguồn gốc xuất sứ rõ ràng. Tôi xin chịu mọi trách nhiệm trƣớc Nhà trƣờng và
pháp luật về lời cam đoan này của tôi.
Hà Nội, ngày 05 tháng 07 năm 2014
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hƣờng
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn trân trọng và biết ơn sâu sắc tới PG.TS.
cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay 24
1.2.3. Vai trò của việc xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp cơ sở ở Việt Nam hiện nay 42
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁCH
MẠNG CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ Ở TỈNH HẢI DƢƠNG
TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG HIỆN NAY 50
2.1. Thực trạng việc xây dựng đạo đức của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ
sở tỉnh Hải Dƣơng hiện nay và nguyên nhân 50
2.1.1. Thực trạng việc xây dựng đạo đức của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ
sở tỉnh Hải Dương hiện nay 50
2.1.2. Nguyên nhân của thực trạng việc xây dựng đạo đức đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp cơ sở tỉnh Hải Dương hiện nay 64
2.2. Yêu cầu của việc xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp cơ sở trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ở tỉnh Hải Dƣơng hiện nay 70
2.3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả việc xây dựng đạo đức
cách mạng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Hải Dƣơng hiện nay 73
2.3.1. Đổi mới nội dung và hình thức giáo dục đạo đức cách mạng đối với đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp cơ sở 74
2.3.2. Phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở cơ sở 79
2.3.3. Nâng cao chất lượng công tác tổ chức, kiểm tra, giám sát của các cấp,
các ngành, các đoàn thể và nhân dân 86
2.3.4. Nâng cao tính tự giác, tự rèn luyện đạo đức cách mạng của đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp cơ sở 90
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
tế quốc tế đòi hỏi đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở phải không ngừng nâng cao
trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng nhƣ trình độ tƣ duy lý luận để thực hiện thắng
lợi đƣờng lối, chủ trƣơng, nghị quyết của Đảng trong thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí
Minh khẳng định, cán bộ là gốc của công việc, muôn việc thành công hay thất bại
đều do cán bộ tốt hay kém. Chính đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là ngƣời giữ
vai trò quan trọng, là cấp trực tiếp đƣa chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng vào cuộc
sống, biến nó thành hiện thực. Có thể nói, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở hàng ngày,
hàng giờ phải đối mặt và giải quyết những vấn đề mới nảy sinh trong hoạt động chỉ
đạo, lãnh đạo, quản lý tại cơ sở.
Để lãnh đạo và quản lý nhà nƣớc, thúc đẩy đất nƣớc phát triển theo mục tiêu
của Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn, ngƣời cán bộ cách mạng phải có cả đức lẫn
tài, trong đó đạo đức là gốc. Nhƣ Hồ Chí Minh đã dạy: “Cũng nhƣ sông thì có
nguồn mới có nƣớc, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc
thì cây héo. Ngƣời cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi
mấy cũng không lãnh đạo đƣợc nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải 2
phóng cho loài ngƣời là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không
có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?” [46, tr.253].
Thực tế cho thấy, sau gần 30 năm thực hiện đƣờng lối đổi mới do Đảng
Cộng sản Việt Nam khởi xƣớng và lãnh đạo, đất nƣớc đang chuyển mình và tiếp tục
đạt đƣợc những thành tựu to lớn. Góp phần vào những thắng lợi ấy, phải kể đến vai
trò và ý nghĩa của việc xây dựng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng của đội
ngũ cán bộ cách mạng nói chung và đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở nói riêng.
Bởi lẽ, họ là những ngƣời cán bộ trực tiếp tiếp xúc, lãnh đạo và phục vụ nhân dân
và trong việc vận dụng, thực hiện những chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách của
Đảng và Nhà nƣớc ở cơ sở. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực thì với ảnh hƣởng của
mặt trái của nền kinh tế thị trƣờng (KTTT) cùng với sự chống phá của các thế lực
thù địch và sự yếu kém trong công tác giáo dục tƣ tƣởng, lý luận, rèn luyện đạo đức
phong cách, lề lối làm việc của công chức theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1998; v.v.
Nội dung nổi bật nhất của những công trình nghiên cứu về đạo đức cách mạng
nói chung chính là trình bày những phẩm chất đạo đức cần có của ngƣời Đảng viên,
cán bộ. Ngoài ra, các tác giả đã trình bày một cách có hệ thống những nguyên tắc
rèn luyện đạo đức cách mạng và tầm quan trọng của đạo đức cách mạng.
Về đạo đức cách mạng của ngƣời cán bộ trong điều KTTT hiện nay, có những
công trình nghiên cứu nhƣ: Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Phúc:“Mấy vấn
đề về đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2003; “Chủ động và tích cực xây dựng đạo đức mới”, (Nxb Sự
thật, Hà Nội, 1983); Nguyễn Ngọc Long: “Sự hình thành đạo đức xã hội chủ nghĩa
trong điều kiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ
nghĩa”, Luận án tiến sĩ triết học, Hà Nội, 1982; Phạm Quốc Thành: “Tư tưởng Hồ
Chí Minh về rèn luyện đạo đức cán bộ đảng viên”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2004; …
Các tác giả của những công trình trên khẳng định, KTTT đang có những tác
động tích cực và tiêu cực tới đời sống đạo đức xã hội Việt Nam nói chung và đạo
đức của ngƣời cán bộ nói riêng. Tác động tích cực của KTTT là làm cho con ngƣời
chủ động, tích cực, ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân không ngừng đƣợc nâng
lên. Những tác động tiêu cực của KTTT đến đời sống đạo đức xã hội Việt Nam nhƣ:
lối sống thực dụng, tệ nạn xã hội gia tăng, v.v. 4
Ngoài những công trình chuyên biệt đề cập đến vấn đề đạo đức và xây dựng
đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ ở Việt Nam cũng đƣợc nhiều tác giả đề cập
trong các tạp chí: Nguyễn Văn Lý “Vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng cho đội
ngũ cán bộ đảng viên ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học số 157, tháng 6 năm
2004. Trong bài viết này tác giả nêu lên sự cần thiết, những biện pháp để nâng cao
đạo đức cho cán bộ các cấp các ngành nhằm đáp ứng đƣợc những yêu cầu của cách
cá nhân và quần chúng nhân dân trong lịch sử.
- Phƣơng pháp luận: Đề tài sử dụng các phƣơng pháp chủ yếu của phép biện
chứng duy vật Mácxít và kết hợp với một số phƣơng pháp nghiên cứu khoa học
khác nhƣ khái quát hóa, trừu tƣợng hóa, …
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Thực tiễn xây dựng đạo đức của đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp cơ sở ở tỉnh Hải Dƣơng trong những năm gần đây.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu thực trạng đạo đức và việc xây dựng
đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Hải Dƣơng hiện
nay. Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở có nhiều chức danh, nhƣng đề tài chỉ tập
trung vào các chức danh: Bí thƣ, Phó Bí thƣ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân(UBND), Phó
Chủ tịch UBND; Chủ tịch Hội đồng nhân dân (HĐND), Phó Chủ tịch HĐND qua
khảo sát thực tế tại tỉnh Hải Dƣơng.
6. Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm rõ thực trạng đạo đức của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
trong điều kiện KTTT ở Hải Dƣơng hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đạo đức cách mạng cho
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của tỉnh Hải Dƣơng hiện nay.
7. Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng, hoạch
định chiến lƣợc, kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng nâng cao đạo đức cách mạng cho đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Hải Dƣơng.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo để giảng dạy các môn khoa học
Mác – Lênin và Đạo đức học.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
của luận văn gồm 2 chƣơng, 5 tiết 6
7
tuyệt đối, tự ý thức hoặc một bản tính ngƣời trừu tƣợng nào đó, … rồi đem áp đặt
vào đời sống hiện thực của con ngƣời.
Trên cơ sở của những tiến bộ trong đời sống vật chất, phƣơng thức sản xuất và
những thành quả của sự phát triển khoa học, đồng thời kế thừa một cách có chọn lọc
những giá trị đạo đức trƣớc đó, quan điểm Mác xít cho rằng: Đạo đức nảy sinh do
nhu cầu của đời sống xã hội, là sản phẩm của lịch sử xã hội, do cơ sở kinh tế - xã
hội sinh ra và quyết định; quan hệ đạo đức là biểu hiện của quan hệ vật chất xã hội
và biến đổi theo đời sống vật chất xã hội.
Đạo đức thƣờng đƣợc xét ở ba góc độ: Nhận thức luận, chức năng, hệ giá trị.
- Dưới góc độ nhận thức luận: Đạo đức là một hiện tượng tinh thần, một hình
thái đặc biệt của ý thức xã hội, là tính thứ hai so với tồn tại xã hội. Tính đặc biệt
của đạo đức ở đây thể hiện trong quá trình hình thành các quy tắc đạo đức, là do sự
thừa nhận của số đông trong xã hội hay sự thừa nhận của một giai cấp nhất định.
- Dưới góc độ chức năng: Chức năng cơ bản nhất của đạo đức là điều chỉnh
hành vi của con người bằng chuẩn mực và quy tắc theo yêu cầu của xã hội. Với
chức năng nhận thức và chức năng giáo dục, đạo đức giúp cho con ngƣời hình thành
những quan điểm, nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực cơ bản để đánh giá hành vi đạo
đức xã hội và những hành vi đạo đức của bản thân.
- Cách tiếp cận từ hai góc độ trên đây còn đƣợc bổ sung bằng cách thứ ba, đó
là xem xét đạo đức với tính cách là một hệ giá trị. Đạo đức là một trong những hình
thái ý thức xã hội, thƣờng đƣợc khẳng định hay phủ định một lợi ích, một quan
niệm đƣơng thời xác định. Vì vậy đạo đức là một hệ giá trị. Nhƣ vậy, nội hàm của
khái niệm đạo đức không chỉ hạn định ở đặc trƣng là một hình thái ý thức xã hội, là
phƣơng thức cơ bản điều chỉnh hành vi con ngƣời mà đạo đức còn là một hệ giá trị
bao gồm những giá trị chung và những giá trị riêng.
Theo cuốn “Từ điển tiếng Việt” thì: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, quy tắc
đƣợc dƣ luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con ngƣời đối với
nhau và đối với xã hội” [58, tr.2311].
điều chỉnh này có thể thuận chiều, có thể ngƣợc chiều.
Chính trị điều chỉnh hành vi giữa các giai cấp các dân tộc, các quốc gia bằng
các biện pháp đặc trƣng nhƣ: Ngoại giao, hành chính, kinh tế, bạo lực. 9
Nhƣ vậy, chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức bằng dƣ luận xã hội và
lƣơng tâm đòi hỏi từ tối thiểu tới tối đa hành vi con ngƣời đã trở thành đặc trƣng
riêng để phân biệt đạo đức với các hình thái ý thức khác, các hiện tƣợng xã hội khác.
- Chức năng nhận thức: Với tƣ cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức có
chức năng nhận thức thông qua sự phản ánh nhận thức xã hội. Đạo đức là phƣơng
thức đặc biệt của sự chiếm lĩnh thế giới con ngƣời; là hiện tƣợng xã hội vừa mang
tính tinh thần vừa mang tính hành động hiện thực.
Sự nhận thức của đạo đức có đặc điểm: Nhận thức của đạo đức vừa là quá
trình hƣớng ngoại và vừa mang tính hƣớng nội. Nhận thức hƣớng ngoại lấy những
chuẩn mực, giá trị đời sống đạo đức của xã hội làm đối tƣợng. Đó là hệ thống giá trị
thiện và ác, trách nhiệm, nghĩa vụ và hạnh phúc … Nhờ nhận thức này mà chủ thể
nhận thức đã chuyển hóa đƣợc những chuẩn mực đạo đức của xã hội nhƣ là cái
chung thành ý thức đạo đức của cá nhân nhƣ là cái riêng.
Nhận thức hƣớng nội (tự nhận thức), lấy bản thân mình – chủ thể đạo đức –
làm đối tƣợng nhận thức. Đây là quá trình tự đánh giá, tự thẩm định, tự đối chiếu
những nhận thức, hành vi, đạo đức của mình với những chuẩn mực giá trị chung của
cộng đồng. Từ đó mà chủ thể hình thành, phát triển thành các quan điểm và nguyên
tắc sống: thụ động hay sáng tạo, hy sinh hay hƣởng thụ, vị tha hay ích kỷ, thiện hay
ác… Tự nhận thức giúp chủ thể ý thức đƣợc trách nhiệm của mình và sẵn sàng hoàn
thành trách nhiệm đó.
Đạo đức là yếu tố cốt lõi của nhân cách con ngƣời, nó có vai trò rất quan trọng
trong đời sống xã hội, nó là phƣơng thức cơ bản để điều chỉnh hành vi con ngƣời,
làm cho cá nhân và xã hội cùng tồn tại và phát triển.
Đạo đức cách mạng
tƣởng Hồ Chí Minh là đạo đức mới, đạo đức cộng sản.
Nhằm nhấn mạnh vai trò nhân tố của đạo đức mới – đạo đức cách mạng – đạo
đức cộng sản chủ nghĩa trong việc góp phần vào thắng lợi của cách mạng xã hội chủ
nghĩa, và để phù hợp với thực tiễn cách mạng XHCN trong giai đoạn hiện nay,
trong luận văn này chủ yếu sử dụng khái niệm “Đạo đức cách mạng” theo quan
điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho
Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng giữ
vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đƣờng lối chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của 11
Đảng và nhân dân lao động lên trên, lên lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng
phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gƣơng mẫu trong mọi
việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê
bình để nâng cao tƣ tƣởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến
bộ” [49, tr.285].
Trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, những phẩm chất chung nhất của đạo đức cách
mạng Việt Nam gồm những điểm sau:
- Trung với nƣớc, hiếu với dân: Đây là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm
nhất và chi phối các phẩm chất khác. Từ khái niệm cũ “trung với vua, hiếu với cha
mẹ” trong đạo đức truyền thống, Hồ Chí Minh đƣa vào đó một nội dung mới, phản
ánh đạo đức ngày nay cao rộng hơn, đó là “trung với nƣớc, hiếu với dân”. Đó là một
cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức.
“Trung” và “hiếu” là hai khái niệm cơ bản, đứng đầu trong “tam cƣơng” và
“ngũ luân” của đạo đức Nho giáo. Với Hồ Chí Minh, “Trung” là trung với nƣớc, là
trung thành với sự nghiệp dựng nƣớc, giữ nƣớc của nhân dân, của Đảng; “Hiếu” là
hiếu với dân, là đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, thƣơng
dân, gần dân, gắn bó với dân, kính trọng và lễ phép với dân, học tập dân, dựa vào
dân, lấy dân làm gốc. Đối với cán bộ, đảng viên, Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu cao
thực hành chữ “Liêm” trƣớc để làm kiểu mẫu cho nhân dân.
Chính “nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn”. Đối với mình: không tự
cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều
hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình. Đối với ngƣời: không nịnh hót ngƣời trên,
không xem khinh ngƣời dƣới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết thật
thà, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc: để việc công lên trên, lên trƣớc việc tƣ,
việc nhà.
Ngƣời cán bộ, đảng viên không chỉ nỗ lực rèn luyện mình theo chính nghĩa
cách mạng mà phải đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, không chân chính;
không chỉ tích cực xây dựng đức “chính” cho ngƣời khác mà phải thực sự phê bình
và tự phê bình một cách thẳng thắn để chiến thắng sự cám dỗ của các thế lực đen
tối. 13
Về chí công vô tƣ, nhƣ Ngƣời nói: “Đem lòng chí công vô tƣ mà đối với
ngƣời, với việc” và “khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trƣớc, khi
hƣởng thụ thì mình nên đi sau”; “phải lo trƣớc thiên hạ, vui sau thiên hạ”.
Chí công vô tƣ là chăm lo việc nƣớc nhƣ chăm lo việc nhà, chăm lo việc tập
thể nhƣ việc gia đình. Nhƣ vậy, chí công vô tƣ không phải là không chăm lo đến lợi
ích riêng, Ngƣời chỉ yêu cầu là trong quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng
phải hài hòa, khi nghĩ đến lợi ích riêng phải tính đến và ƣu tiên đến lợi ích chung.
Chí công vô tƣ là phải chống tham nhũng, chống chủ nghĩa cá nhân. Chủ tịch
Hồ Chí Minh lƣu ý, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là giày xéo lên
lợi ích cá nhân. Vì theo Hồ Chí Minh, mỗi ngƣời đều có tính cách, sở trƣờng riêng,
đời sống riêng, nếu lợi ích cá nhân mà không trái với lợi ích tập thể thì không phải
là xấu.
Cần, kiệm. liêm, chính, chí công vô tƣ là những phẩm chất căn bản của
ngƣời cán bộ, đảng viên.
- Tinh thần quốc tế trong sáng. Đó là tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản mà
thực hiện mục tiêu của Đảng nên một ngƣời cách mạng vừa phải có đức, vừa phải
có tài. Có đức mà không có tài không thể phục vụ tốt nhiệm vụ cách mạng. Cán bộ
đảng viên nếu không đƣợc học tập, nâng cao trình độ lý luận Mác – Lênin, không
hiểu biết về khoa học kỹ thuật, không có trình độ văn hóa … thì không thể nói tới
việc xây dựng thành công CNXH. Ngƣợc lại, ngƣời có tài lại phải có đức, có tài
năng, trí tuệ, sự hiểu biết về khoa học kỹ thuật nhƣng phải có đức để phục vụ đúng
mục đích, cống hiến cho nhân dân, cho Đảng. Có nhƣ vậy mới đem lại đƣợc hiệu
quả. Tài và đức là hai mặt cấu thành nhân cách ngƣời đảng viên nói chung, ngƣời
đảng viên là cán bộ nói riêng, chúng phải thống nhất gắn bó với nhau. Nếu tách rời,
bản thân mỗi thành tố sẽ tự làm suy yếu nó. Nói về sự thống nhất này, Hồ Chí Minh
viết: “Có tài mà không có đức ví nhƣ một anh làm kinh tế rất tài giỏi nhƣng lại đi
đến thụt kết thì chẳng những không đƣợc gì lợi ích cho xã hội, mà còn làm hại cho
xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài, ví nhƣ ông Bụt không làm hại gì, nhƣng
cũng không lợi cho loài ngƣời” [50, tr.126].
Đạo đức cách mạng không ngừng đƣợc củng cố và phát triển cùng với sự
thắng lợi ngày càng to lớn của cách mạng XHCN, của phƣơng thức sản xuất
XHCN, trở thành nền đạo đức chung của loài ngƣời. Tuy nhiên nó cũng không phải
là nền đạo đức tuyệt đối, chân chính, cuối cùng, nhƣng hiện nay nó đang tiêu biểu 15
cho sự lật đổ hiện tại, biểu hiện cho lợi ích của tƣơng lai … là hình thái đạo đức có
một số lƣợng nhiều nhất những nhân tố hứa hẹn một sự tồn tại lâu dài.
Tóm lại, đạo đức cách mạng là đạo đức đáp ứng yêu cầu thực tiễn cách
mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, là sự thống nhất hữu cơ giữa
phẩm chất chính trị và phẩm chất đạo đức tạo nên nền tảng nhân cách của ngƣời cán
bộ, đảng viên; là động lực thúc đẩy ngƣời cán bộ - đảng viên trong quá trình hoạt
động cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới nhằm thực hiện mục tiêu cơ bản của
cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và CNXH; là dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội
dân chủ, công bằng, văn minh.
nhiên cũng nhƣ sức lực của ngƣời lao động. KTTT còn kích thích chủ nghĩa thực
dụng, chủ nghĩa cá nhân cực đoan, lối sống chạy theo đồng tiền bất chấp đạo lý.
Đặc biệt, đối với những nƣớc mới bƣớc vào kinh tế thị trƣờng, sự đụng độ giữa
KTTT và các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc cũng trở thành một vấn đề
nan giải.
Nhƣ vây, KTTT vừa có ảnh hƣởng tích cực, vừa có ảnh hƣởng tiêu cực đối với
đạo đức. Là một phƣơng diện của nhân tính, đạo đức rất nhạy cảm trƣớc tác động
của KTTT, nó trở thành vấn đề cấp bách gây ra mối quan tâm không chỉ trên bình
diện lý luận mà cả trên bình diện thực tiễn. Vì thế, việc lựa chọn nội dung và hình
thức giáo dục thích hợp có ý nghĩa quan trọng trong việc định hƣớng phát triển đất
nƣớc theo con đƣờng xã hội chủ nghĩa.
Đạo đức là một bộ phận của kiến trúc thƣợng tầng, của ý thức xã hội, một mặt
bị quy định bởi cơ sở hạ tầng và tồn tại xã hội; mặt khác nó cũng có tính độc lập
tƣơng đối và tác động tích cực trở lại đối với cơ sở hạ tầng, tồn tại xã hội. Vì vậy
trong điều kiện phát triển KTTT định hƣớng xã hội chủ nghĩa, đạo đức có vai trò rất
to lớn.
Ý nghĩa của quá trình chuyển sang KTTT định hƣớng XHCN ở nƣớc ta là ở
chỗ nó đã góp phần to lớn trong việc giải phóng sức sản xuất của xã hội, tăng năng
suất lao động, tạo tiền đề vật chất để nâng cao đời sống của nhân dân. KTTT kích
thích tính tích cực và tiềm năng sáng tạo của con ngƣời, hình thành một cách phổ
biến các nhân cách độc lập, phát triển tính tự chủ của cá nhân. Thế nhƣng, nền
KTTT dù là thị trƣờng định hƣớng XHCN, bên cạnh việc tạo ra những điều kiện tối 17
ƣu cho sự phát triển, vẫn thể hiện sự tác động tiêu cực nhất định tới tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực đạo đức. Tuy KTTT vừa mới bắt đầu
hình thành, nhƣng trong xã hội Việt Nam hiện nay đã xảy ra những biến động về
mặt đạo đức, lối sống rất đáng lo ngại. Cụ thể nhƣ:
Thứ nhất, sự phát triển KTTT ở nƣớc ta hiện nay đã dẫn đến những biến đổi
thực dụng, chủ nghĩa tự do mới, chủ nghĩa đa nguyên chính trị và các thứ văn hóa
phẩm đồi trụy cũng xâm nhập vào nƣớc ta. Mặt khác, lợi dụng nƣớc ta mở cửa nền
kinh tế, các thế lực phản động quốc tế đang thực hiện chiến lƣợc “diễn biến hòa
bình”, tập trung vào lĩnh vực tƣ tƣởng, văn hóa và đạo đức nhằm xóa bỏ chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam.
Sự biến động mạnh mẽ của các điều kiện kinh tế - xã hội, tất yếu không thể
không có sự chuyển đổi thang giá trị đạo đức. Vấn đề là chuyển đổi theo hƣớng nào,
tiến bộ hay thoái hóa, thăng hoa hay sa đọa. Phải chăng kinh tế phát triển thì trình
độ đạo đức xã hội tự nhiên sẽ đƣợc nâng cao ? Phải chăng quan niệm hiệu quả kinh
tế đồng nghĩa với chủ nghĩa sùng bái đồng tiền? Thực tế ở Việt Nam cho thấy,
thang giá trị đạo đức xã hội đang thay đổi cực kỳ nhanh chóng, phức tạp, có cả tích
cực và tiêu cực, thậm chí có cả đảo lộn, sự biến động diễn ra nhiều chiều chƣa ổn định.
Trong điều kiện mới, các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc đang có
những chuyển biến phức tạp, có đấu tranh giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa thiện
và ác, giữa lối sống lành mạnh, trung thực, thủy chung với lối sống thực dụng, dối
trá, ích kỷ, ăn bám, chạy theo đồng tiền. Đạo đức mới vừa phải đấu tranh với các hệ
thống đạo đức khác, vừa phải đấu tranh để tự đổi mới, tự khẳng định mình trong
điều kiện mới, trên cơ sở kế thừa và đổi mới cho thích ứng với tình hình mới.
Sự du nhập các giá trị phƣơng Tây do mở cửa, hội nhập kinh tế trong quá trình
phát triển KTTT đã khiến một số ngƣời có cách nghĩ và lối sống không thích hợp
với cả hiện trạng kinh tế lẫn truyền thống văn hóa của con ngƣời Việt Nam. Những
tƣ tƣởng vọng ngoại, sùng ngoại ấy đang làm suy giảm các giá trị đạo đức truyền
thống của dân tộc, của gia đình Việt Nam truyền thống.
Với sự phát triển của KTTT, tƣ tƣởng và lối sống chạy theo lợi ích là cái đƣợc
đề cao, đã hình thành và nảy sinh lối sống hám lợi. Với lối sống này, từng cá nhân,
mỗi gia đình hay sự liên kết giữa chúng thành êkíp làm giàu bằng mọi cách, thậm
chí còn bất chấp luật pháp, đạo lý, tình nghĩa. Vì lợi nhuận, mà đã có gia đình trong
đó cha mẹ, con cái, anh chị em cùng làm ăn bất chính hay lừa đảo lẫn nhau, đẩy cả