LUẬN VĂN: Ảnh hưởng tư duy kinh nghiệm đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Cà Mau doc - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Ảnh hưởng tư duy kinh nghiệm đối với
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
ở tỉnh Cà Mau
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước, đặc biệt là thời kỳ đẩy mạnh cộng
nghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở phải không ngừng
nâng cao trình độ tư duy lý luận và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương,
nghị quyết của Đảng trong thực tiễn. Chính đội ngũ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở là người
giữ vai trò quan trọng, là cấp cuối cùng, trực tiếp đưa chủ trương, đường lối của Đảng
vào cuộc sống, biến nó thành hiện thực, đem lại lợi ích thiết thực cho quần chúng nhân
dân tại đơn vị cơ sở. Có thể nói, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở hàng ngày, hàng giờ luôn đối
mặt và phải giải quyết liên tục những vấn đề mới nảy sinh trong hoạt động lãnh đạo, quản
lý tại cơ sở.
Nhận thức được điều này, Đảng ta có rất nhiều nghị quyết, chủ trương tăng cường
sự lãnh đạo cũng như việc nâng cao trình độ các mặt cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở. Tuy

- Tiến sĩ Thiều Quang Đồng: Lôgíc học với việc nâng cao trình độ tư duy lôgíc …
“Triết học với đổi mới và đổi mới nghiên cứu giảng dạy triết học”, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội 2007.
- Tiến sĩ Nguyễn Thị Nga: Vấn đề khắc phục sự lạc hậu của ý thức xã hội ở nước
ta hiện nay, “Triết học với đổi mới và đổi mới nghiên cứu giảng dạy triết học”, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007…
Đến nay, tuy đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tư duy con người,
nhưng việc nghiên cứu tư duy đặc thù của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Đồng
bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Cà Mau nói riêng thì hầu như chưa có công trình
nào đề cập một cách cụ thể. Do vậy, vấn đề nghiên cứu tư duy trong quá trình nhận thức
đối với cán bộ ta vẫn là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu để góp phần cho các cấp
lãnh đạo, quản lý nghiên cứu và tổ chức thực tiễn trong thời gian tới. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Làm rõ bản chất của tư duy kinh nghiệm và những ảnh hưởng của nó trong hoạt
động lãnh đạo, quản lý của cán bộ, từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao trình độ tư
duy lý luận cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở tỉnh Cà Mau.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Phân tích làm rõ bản chất, biểu hiện và những nguyên nhân chủ yếu của tư duy
kinh nghiệm; phân tích đánh giá thực trạng và nguyên nhân ảnh hưởng của nó, qua đó
trình bày một số giải pháp chủ yếu nhằm khắc phục tư duy kinh nghiệm, nâng cao trình
độ tư duy lý luận đối với đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ cấp cơ sở ở Cà Mau nói
riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Mau; chỉ ra tác hại của tư duy thiếu cơ sở khoa học, nâng cao năng lực tư duy biện chứng
trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Cà Mau.
- Tìm ra nguyên nhân và đề ra một số giải pháp chủ yếu mang tính khả thi góp
phần cùng Đảng bộ Cà Mau nâng cao trình độ và năng lực cho cán bộ ngang tầm với yêu
cầu của thời kỳ mới.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm 2 chương, 4 tiết.

Chương 1
TƯ DUY KINH NGHIỆM VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
TƯ DUY CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ TỈNH CÀ MAU

1.1. TƯ DUY KINH NGHIỆM VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA NÓ TRONG
HOẠT ĐỘNG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
1.1.1. Tư duy
Tư duy là đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học. Mỗi ngành khoa học nghiên
cứu tư duy ở góc độ khác nhau. Từ xa xưa, con người đã biết suy luận một cách tự nhiên,
tự phát. Trong quá trình lao động sản xuất và trong hoạt động thực tiễn của mình, nhu cầu
hiểu biết về thế giới khách quan, nhu cầu trao đổi kinh nghiệm, những hiểu biết của mình
với người khác ngày một nâng cao. Chính trong quá trình đó đã dần dần tạo cho con
người cách suy nghĩ. Vì vậy, có thể khẳng định rằng, tư duy là sản phẩm cao nhất của cái
vật chất có tổ chức đặc biệt, đó là bộ não người. Quá trình phản ánh tích cực thế giới
khách quan của tư duy được biểu hiện trong các khái niệm, phán đoán, suy luận, chứng
minh, Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất xã hội của con người và đảm
bảo phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, phát hiện ra những mối liên hệ
bản chất của hiện thực. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, các cơ chế sinh lý
học vật chất của tư duy được nghiên cứu trong sinh lý học hoạt động thần kinh cao cấp.
Tuy nhiên, mặc dù không tách khỏi bộ não của con người nhưng tư duy vẫn không thể
được giải thích một cách hoàn toàn bởi hoạt động của bộ máy sinh lý học. Bởi lẽ, tư duy

tư duy luôn vươn tới cái mới, cái tiến bộ giúp con người nhận thức thế giới khách quan ngày
càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn. Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng: “Một dân tộc muốn đứng vững
trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận” [27, tr.489].
Khi đề cập tư duy, xem nó là vấn cốt lõi của lý luận nhận thức, cũng chính là để
giải quyết, tìm ra phương pháp, cách thức đi đến nhận thức bản chất quy luật của các sự
vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan. Nếu không giải quyết một cách thấu
đáo, có cơ sở khoa học thì việc lý giải nhận thức của con người chỉ dừng lại ở việc

nghiên cứu. Qua nghiên cứu lịch sử triết học cho thấy, các nhà triết học trước Mác dù
đứng trên quan điểm duy vật hay duy tâm, việc nghiên cứu tư duy của họ chỉ giới hạn ở
việc xem xét nghiên cứu tư duy chủ yếu ở mặt nội dung của nó và họ thấy rằng tư duy chỉ
là sự phản ánh thụ động thế giới bên ngoài vào óc con người, họ giới hạn ở việc chỉ ra tác
động của khách thể đối với chủ thể, coi tư duy chỉ là kết quả của sự tác động đó. Tuy
nhiên, họ cũng đã đề cập các dạng nhận thức ở các cấp độ khác nhau giữa nhận thức lý
tính và nhận thức cảm tính và khẳng định được vai trò của cảm giác, kinh nghiệm hoặc là
lý tính, tư duy, nhưng họ chưa giải quyết một cách đúng đắn mối quan hệ biện chứng của
quá trình nhận thức, từ nhận thức cảm tính đến lý tính, chưa thấy được bước chuyển hóa
giữa hai quá trình này, chưa giải quyết một cách đúng đắn về nội dung, hình thức,
phương pháp và vai trò, tác dụng của quá trình nhận thức… Do đó, các nhà triết học
trước Mác chưa xây dựng được phương pháp luận khoa học cho quá trình nhận thức và
hoạt động thực tiễn của con người. C.Mác đã chỉ rõ: “Khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ của
chủ nghĩa duy vật từ trước tới nay kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoi-ơ-bắc là sự vật, hiện
thực, cái cảm giác được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực
quan chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người là thực tiễn” [26, tr.9].
Theo Mác, cả nội dung và hình thức của tư duy đều phụ thuộc vào thực tiễn - lịch sử - xã
hội. Vậy, lịch sử không phải bắt đầu từ tư duy mà là từ thực tiễn hoạt động của con
người trong đó, chính hoạt động lao động sản xuất vật chất là nền tảng cho sự tồn tại,
phát triển xã hội, là hoạt động cơ bản nhất và cũng chính hoạt động sản xuất vật chất là
cơ sở hình thành các loại quan điểm, tư tưởng, các quan hệ và các thiết chế xã hội khác
nhau và cũng là cơ sở cho sự tiến bộ xã hội. Nghĩa là, hoạt động sản xuất vật chất ngày

Lênin cũng đã cảnh báo về khả năng nguy cơ sai lầm khi tuyệt đối hóa bất kỳ mặt nào,
giai đoạn nào của quá trình nhận thức. Bởi vì, nhận thức là một quá trình mang tính lịch
sử - cụ thể, những tri thức mà con người đạt được ở mỗi giai đoạn nhất định là nấc thang,
con đường vô tận mà con người luôn vươn tới để phản ánh. Do đó, nó không phải là cái
gì cứng nhắc mà hết sức sống động biến đổi, phát triển trước sự đa dạng muôn vẽ của
thực tại khách quan.

Ở những trình độ khác nhau, điều kiện lịch sử khác nhau thì tư duy, vốn tri thức
của con người cũng không giống nhau, tuy nhiên nó vẫn có điểm chung là đều phản ánh
hiện thực khách quan. Sự xâm nhập trí tuệ con người vào thế giới khách quan đi từ cảm
tính đến lý tính, từ kinh nghiệm đến lý luận, đó là sự phản ánh hiện thưc ở cấp độ bản
chất, quy luật, cái bên trong, tất yếu của sự vật, hiện tượng. Vì thế, nó gắn liền với tư duy
trừu tượng là khái quát cao của nhận thức, nhưng lý luận không phải là kết quả của sự
trừu tượng thuần túy mà lý luận xét ở góc độ nhất định là kết quả của sự khái quát từ kinh
nghiệm cảm tính.
Nói về quá trình nhận thức của con người, V.I. Lênin đã chỉ rõ: “Từ trực quan sinh
động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” [18, tr.179]. Đây là
quá trình diễn ra rất phức tạp bao gồm nhiều giai đoạn, trình độ, vòng khâu khác nhau,
song đây là con đường biện chứng của nhận thức chân lý.
Tư duy, giai đoạn thứ hai của quá trình nhận thức là sự khái quát những cảm giác,
tri giác và phản ánh hiện thực khách quan thông qua những biểu tượng, khái niệm, phạm
trù, là năng lực của bộ óc người, vì thế, tư duy là trình độ cao của quá trình nhận thức, nó
nảy sinh trên cơ sở nhận thức cảm tính, và nếu dừng lại ở tri giác, cảm giác thì không thể
nhận thức được bản chất, quy luật của sự vật. Vậy về bản chất, tư duy là sự vận động tất
yếu của quá trình nhận thức, là sản phẩm cao nhất của cái vật chất được tổ chức một cách
đặc biệt là bộ não, gắn liền với hoạt động sản xuất xã hội và ngôn ngữ, phản ánh một
cách tích cực sáng tạo thế giới khách quan trong các khái niệm, phạm trù, quy luật là
trình độ cao của quá trình nhận thức.
Quy luật của tư duy là sự phản ánh khái quát các quy luật của thực tại khách quan
một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật của thực tại, đem lại nhận

cách thức của tư duy cũng được nâng lên ở trình độ cao hơn (nhận thức lý tính). Vì thế,
tư duy của con người không phải là bất biến mà nó có quá trình hình thành và phát triển
theo quy luật vốn có của nó. Nghĩa là nó cũng có quá trình hình thành, biến đổi và phát
triển để đạt đến trình độ ngày càng cao hơn. Ph.Ăngghen khẳng định, “tư duy, trí tuệ của
con người phát triển song song với trình độ cải biến quá trình tự nhiên” [1, tr.357].

Như vậy, tư duy xuất hiện, biến đổi và phát triển trong quá trình hoạt động thực
tiễn của con người, là sản phẩm của lịch sử và mục đích của tư duy là hướng tới phục vụ
cho thực tiễn. Do đó, tư duy không những là vấn đề cốt lõi của lý luận nhận thức mà
trong mọi hoạt động của con người đều phải dựa trên cơ sở của tư duy và tùy thuộc vào
trình độ năng lực và kết quả nhận thức của chủ thể.
1.1.2. Tư duy kinh nghiệm
- Khái niệm:
Như đã phân tích các khía cạnh về tư duy, trình độ của tư duy được xem xét ở các
cấp độ khác nhau như tư duy kinh nghiệm và tư duy lý luận. Tư duy kinh nghiệm có
phương pháp và chức năng khác với tư duy lý luận. Đối tượng nghiên cứu của tư duy
kinh nghiệm là những khách thể tồn tại trong không gian và thời gian với sự thống nhất
giữa cái chung và cái riêng, cái đặc thù và cái phổ biến.
Tuy vậy, trong lịch sử triết học, có rất nhiều nhà triết học xem xét tư duy kinh
nghiệm ở nhiều góc độ khác nhau. Quan điểm của những nhà cảm giác, kinh nghiệm chủ
nghĩa cho rằng, kinh nghiệm là nguồn gốc duy nhất của mọi tri thức. Trong khi đó, chủ
nghĩa duy vật thừa nhận rằng, nguồn gốc của kinh nghiệm là ở bên ngoài, tồn tại khách
quan, độc lập với ý thức con người. Tính trực quan của chủ nghĩa duy vật trước Mác đã
thể hiện quan niệm về vấn đề này là kinh nghiệm chỉ được coi như kết quả của sự tiếp thu
thụ động thế giới bên ngoài, nhưng tự bản thân nó, kinh nghiệm cảm tính không đem lại
một tri thức phổ biến và cần thiết, mà chỉ nắm lấy mặt bên ngoài, bề mặt của các sự vật,
hiện tượng trong thế giới khách quan. Kế thừa những thành tựu triết học trước kia, chủ
nghĩa Mác đã khắc phục tính chất trực quan trong việc giải thích kinh nghiệm, thừa nhận
kinh nghiệm là cái có sau so với hiện thực khách quan, chủ nghĩa Mác coi kinh nghiệm
không phải là một nội dung thụ động của ý thức mà là sự tác động thực tiễn của con

chất giữa các sự vật, hiện tượng và chưa giải quyết được một cách khoa học về những kết
luận ấy.
C.Mác cho rằng: “Những người kinh nghiệm chủ nghĩa là những người vẫn còn là
trừu tượng” [25, tr.278]. Từ đó, có thể thấy rằng, những người kinh nghiệm tưởng mình

đã xuất phát từ thực tế khách quan, từ cuộc sống sinh động nhưng cuối cùng lại rơi vào
chủ nghĩa duy tâm trừu tượng, chính vì họ chỉ mới dừng lại ở những kinh nghiệm vụn vặt
về sự vật, hiện tượng riêng lẻ, thiếu sự khái quát sâu sắc nên đã lấy cái cụ thể, cái đơn
nhất, cái phiến diện đem áp dụng cho cái phổ biến, cái toàn thể, cái đa dạng do không đủ
trình độ năng lực nắm bắt được bản chất, quy luật phổ biến, tất yếu của các sự vật, hiện
tượng tồn tại vốn có của hiện thực khách quan. V.I. Lênin viết: “Muốn thực sự hiểu được
sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và quan
hệ giao tiếp của sự vật đó” [20, tr.364].
- So sánh tư duy kinh nghiệm và những trình độ tư duy khác
Tư duy kinh nghiệm là tri thức do con người thu được qua thực tiễn sản xuất, đấu
tranh xã hội, tiếp nhận trực tiếp từ quan sát sự vật, hiện tượng cụ thể, khách quan nhưng
còn rời rạc, bề ngoài, riêng lẻ, cục bộ, chưa sâu sắc, chưa đi sâu nghiên cứu khái quát về
bản chất, tất yếu bên trong vốn có của sự vật, hiện tượng. Triết học duy vật biện chứng
một mặt khẳng định, nhận thức là một quá trình từ trực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Trong quá trình đó, con người tích lũy, rèn
luyện dần dần phát triển từ trình độ tư duy kinh nghiệm hay (tiền khoa học) tiền lý luận
rồi được nâng lên để đạt tới trình độ tư duy khoa học phản ánh chính xác hơn, sâu sắc
hơn bản chất của sự vật, hiện tượng. Vì vậy, trong quá trình nhận thức của con người, nếu
chỉ dừng lại ở trình độ kinh nghiệm thì không thể phục vụ tốt cho đời sống hiện thực sinh
động đang diễn ra hàng ngày. Ph.Ăngghen viết: “Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó
không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu” [27,tr.718]. Do đó, nhận thức
của con người không thể dừng lại ở những kinh nghiệm thu nhận được trực tiếp từ thực
tiễn mà phải nâng lên thành lý luận. Kinh nghiệm và lý luận là hai trình độ khác nhau của
quá trình nhận thức đồng thời lại thống nhất với nhau, thâm nhập và chuyển hóa lẫn
nhau. Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận cũng không đồng nhất với nhận thức

nghiệm chỉ mới dừng lại ở việc mô tả những đặc điểm, những mối liên hệ bên ngoài của
sự vật thì tư duy lý luận đi sâu phản ánh các thuộc tính, các mối liên hệ của tính quy luật,
bản chất của chúng. Với bản chất đó, tri thức lý luận mang tính định hướng, dự báo khoa
học về xu hướng vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng; chỉ đạo, dẫn dắt hoạt động

thực tiễn của con người vững chắc hơn, chủ động hơn, tự giác hơn, tránh được sự mò
mẫm, bế tắc, tự phát trong nhận thức cũng như trong hành động.
Kinh nghiệm với tư cách là một dạng tri thức chưa hoàn thiện, chưa đầy đủ, nó chỉ
phản ánh được những thuộc tính bề ngoài riêng lẻ, giới hạn ở lĩnh vực các sự kiện quan
sát, miêu tả, thí nghiệm, chưa sâu sắc, chưa chính xác, chưa phản ánh được cái bên trong,
tất yếu của thế giới hiện thực. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm là cơ sở, là nguồn tài liệu
trực tiếp, quan trọng cho sự khái quát thành lý luận, dựa vào kinh nghiệm để con người
bổ sung, phát triển lý luận này càng hoàn thiện hơn, chính xác hơn, khoa học hơn. Nếu
không có kinh nghiệm thì khoa học không phát triển được. Kinh nghiệm càng nhiều, càng
phong phú thì càng tạo ra cơ sở ban đầu quan trọng cho sự phát triển lý luận. Vì vậy, kinh
nghiệm có vai trò hết sức quan trọng. Thiếu kinh nghiệm, không xuất phát từ kinh
nghiệm, tách khỏi kinh nghiệm, lý luận sẽ trở thành ảo tưởng, hoang đường, không phục
vụ được gì cho hoạt động thực tiễn của con người, có thể dẫn đến sai lầm nghiệm trọng
trong đường lối, chủ trương, chính sách của một chế độ xã hội. Khẳng định tầm quan
trọng của kinh nghiệm, Hồ Chí Minh cho rằng: “Đem thực tế trong lịch sử, trong kinh
nghiệm trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh kỹ lưỡng, rõ ràng làm thành kết luận.
Rồi đem nó chứng minh trong thực tế” [33, tr.233].
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, không phải mọi lý luận đều được ra đời trực tiếp
bằng kinh nghiệm, mà do tính độc lập tương đối của nó, với sức mạnh nội tại đặc thù của
mình, lý luận có thể đi trước những dữ liệu kinh nghiệm, vượt trước kinh nghiệm. Bởi vì,
ở mọi giai đoạn của lịch sử, cả lý luận và kinh nghiệm đều có những trình độ khác nhau,
tức là có kinh nghiệm tiền khoa học và kinh nghiệm khoa học cũng như có lý luận trước
khoa học và lý luận khoa học. Còn tư duy khoa học (cả kinh nghiệm và lý luận) là bước
phát triển cao nhất của nhận thức. Vì thế, khi đánh giá vai trò của lý luận và kinh nghiệm
trước khoa học trong sự hình thành tri thức cũng như trong sự phát triển của khoa học

Kinh nghiệm bên ngoài là kết quả của sự trải nghiệm (sự hiểu biết do tiếp xúc với thực
tế) của cuộc sống hàng ngày là sự đúc rút từ lao động sản xuất, từ đấu tranh xã hội và
hoạt động nghiên cứu khoa học, còn kinh nghiệm bên trong là kinh nghiệm tư duy là sự
đúc rút về các quy luật và hình thức của tư duy.

Kinh nghiệm và lý luận là hai trình độ khác nhau của nhận thức nhưng chúng lại
tác động bổ sung và chuyển hóa cho nhau thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Kinh nghiệm là điểm xuất phát, là tiền đề, là cơ sở để hình thành nên lý luận. Lý luận,
đến lượt mình, nó định hướng, chỉ đạo, dẫn dắt cho hoạt động thực tiễn. Chính trong hoạt
động thực tiễn trên cơ sở tổng kết thực tiễn cung cấp cho lý luận những kinh nghiệm
phong phú để hình thành lý luận mới. Do đó, kinh nghiệm cũng như lý luận đều là kết
quả của hoạt động nhận thức và đều phản ánh hiện thực khách quan, tuy kinh nghiệm
phản ánh hiện thực còn rời rạc bề ngoài, riêng lẻ, chưa nắm được cái tất yếu những mối
liên hệ bản chất của các sự vật, hiện tượng nhưng nó lại chứa đựng nội dung khách quan
trong quá trình phản ánh. Sự phản ánh đó đúng hay sai, tích cực hay tiêu cực đều phụ
thuộc vào chủ thể nhận thức. Nếu kinh nghiệm không khái quát lên thành lý luận và lý
luận không được kiểm nghiệm hoặc kiểm nghiệm chưa đạt tới một trình độ nhất định thì
sẽ không có một lý luận thật sự khoa học. Kinh nghiệm có tính chất trực quan dễ nhận
biết, có vai trò không thể thiếu trong hoạt động hàng ngày của con người, do đó chúng dễ
bị con người tuyệt đối hóa, cường điệu hóa trong việc giải quyết những vấn đề do cuộc
sống đặt ra. Vì thế, trong hoạt động thực tiễn, con người dễ mắc phải những sai lầm hoặc
không lý giải được những vấn đề phong phú, đa dạng, phức tạp do cuộc sống đặt ra. Do
đó, chỉ có thể lấy những mặt tích cực của lý luận để khắc phục những mặt hạn chế vốn có
của kinh nghiệm và lấy những mặt tích cực của kinh nghiệm để khắc phục khả năng xa
rời thực tiễn của lý luận và cứ như vậy mới làm cho lý luận ngày càng hoàn thiện hơn,
chính xác hơn và kinh nghiệm ngày càng phong phú, đa dạng hơn. Hồ Chí Minh chỉ rõ:
“Thống nhất lý luận với thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không
liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” [31, tr.72]. Thực tiễn ở đây là thực tiễn sản xuất vật
chất, thực tiễn đấu tranh giai cấp, thực tiễn hoạt động chính trị - xã hội, thực tiễn hoạt

nhận thức lý luận. Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Trong kinh nghiệm cái quan trọng chính là trí tuệ
mà người ta dùng để tiếp xúc với hiện thực. Một trí tuệ vĩ đại thực hiện được những kinh
nghiệm vĩ đại, và thấy được cái quan trọng trong sự vận động muôn vẻ của các hiện
tượng” [27, tr.687].

Xét về nguồn gốc và nội dung, phản ánh của kinh nghiệm là phản ánh hiện thực, là
thực tiễn hoạt động sản xuất vật chất, đấu tranh xã hội, giao tiếp,… diễn ra trong đời sống
hằng ngày của con người. Sở dĩ kinh nghiệm có thể đóng vai trò là cơ sở cho tư duy lý
luận là do kinh nghiệm được tích lũy tự nó đã đòi hỏi phải có sự hệ thống hóa và phải tìm
ra mối liên hệ bên trong tất yếu của nó. Thực hiện được điều đó cũng có nghĩa là tư duy
đã chuyển từ giai đoạn kinh nghiệm lên giai đoạn lý luận. Do đó, cũng cần thấy rằng, sự
phản ánh của kinh nghiệm có giới hạn của nó, tức là nó chỉ phản ánh dừng lại ở những
thời điểm nhất định, cụ thể mà thôi, khi gặp những tình huống mới xuất hiện thì nó trở
nên lúng túng, bất cập. Nếu so với nhận thức chủ quan, duy ý chí hay giáo điều thì nhận
thức kinh nghiệm cũng từ một mẹ sinh ra, chúng có quan hệ đan xen, gắn bó, liên kết với
nhau, quyện thành một khối rất chặt chẽ trong tư duy, hành động của quá trình lãnh đạo,
quản lý, tổ chức, xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội. Thực tiễn xây dựng đất nước ta từ
sau 1975 đến nay đã chứng minh rất rõ điều đó.
Bản thân tư duy kinh nghiệm không phải là một sai lầm trong nhận thức mà sự sai
lầm là ở chỗ, coi kinh nghiệm cảm tính là nguốn gốc của mọi tri thức, tuyệt đối hóa vai
trò của kinh nghiệm, hạ thấp hoặc phủ nhận vai trò của lý luận, không thấy giữa kinh
nghiệm và lý luận thống nhất, chuyển hóa lẫn nhau trong hoạt động nhận thức của con
người. Tuy nhiên, khi nghiên cứu tư duy kinh nghiệm là ý đồ muốn loại bỏ “bệnh kinh
nghiệm” giáo điều, máy móc, chủ quan duy ý chí chứ không phủ nhận một cách sạch trơn
tri thức kinh nghiệm. Vì rằng, tri thức kinh nghiệm có vai trò quan trọng đối với hoạt
động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn, nó là cơ sở để khái quát lên thành lý luận.
Nhưng chỉ dùng tri thức kinh nghiệm đơn thuần để xử lý công việc thì không khoa học,
hiệu quả kém. Chúng ta biết rằng, đối với những vấn đề đơn giản, con người có thể dùng
kinh nghiệm để giải quyết được, nhưng tự nhiên, xã hội và cả tư duy không phải lúc nào
cũng như vậy mà thực tế cho thấy, có rất nhiều hiện tượng phức tạp còn ẩn giấu mà từ

trong của sự vật, hiện tượng, mới phản ánh được tổng số giản đơn chứ chưa phản ánh
được mối liên hệ tất yếu của sự vật, hiện tượng. Vì vậy, có thể khẳng định rằng, tư duy
kinh nghiệm chưa thể là một hình thức tư duy hoàn chỉnh, khoa học bởi những hạn chế

và khuyết tật của nó, nên nhất thiết phải được nâng lên thành tư duy khoa học để phục vụ
lợi ích cho con người.
Qua nghiên cứu cũng như kế thừa các công trình khoa học của các nhà khoa học
trong nước và từ thực tiễn cuộc sống, ta thấy, những người chỉ dừng lại ở tri thức kinh
nghiệm sẽ phạm phải những sai lầm, khuyết điểm và đó cũng là chứng bệnh mà chúng ta
thường thấy: “bệnh kinh nghiệm”. Căn bệnh này muốn nói tới những sai lầm thực tiễn
dẫn tới hậu quả xấu trong hoạt động thực tiễn, cũng như trong hoạt động lý luận. Những
người bệnh kinh nghiệm thường tuyệt đối hóa vai trò của tri thức kinh nghiệm, hạ thấp
vai trò của tri thức lý luận, được biểu hiện ở tư tưởng không đúng đắn, hạn hẹp trong sự
kết hợp giữa lý luận với thực tiễn, kinh nghiệm với lý luận. Họ quan niệm rằng, bằng
kinh nghiệm có thể giải quyết mọi vấn đề, hạ thấp vai trò của lý luận, nhân danh, đề cao
thực tiễn để hạ thấp lý luận, lấy sự từng trải của bản thân làm tiêu chí cao nhất cho hành
động. Nhưng chúng ta biết rằng, thực tiễn của họ là thực tiễn của các sự kiện riêng lẻ
trong đời thường, vụn vặt, không phản ánh được mối liên hệ mật thiết giữa tri thức kinh
nghiệm và tri thức lý luận, giữa thực tiễn và lý luận, không đánh giá đúng mức vai trò của
kinh nghiệm cảm tính và thực tiễn, không biết phát triển lý luận bằng những luận điểm
mới rút ra từ kinh nghiệm đã có trước đó. Vì thế, họ xem xét sự vật, hiện tượng một cách
chất phác, giản đơn, thuần túy, từ đó họ rơi vào những mâu thuẫn không thể giải quyết
được, mất phương hướng, bế tắc trước những sự kiện, tình huống mới của cuộc sống đặt
ra cũng như sự phát triển của tri thức khoa học. Và như vậy, họ rất dễ mắc bệnh chủ quan
duy ý chí trong hoạt động thực tiễn dẫn đến bệnh giáo điều, rập khuôn, máy móc mà biểu
hiện của nó là viện dẫn sách vỡ một cách miễn cưỡng, lý luận suông, suy nghĩ thiếu cơ sở
khoa học, lúc “hữu”, lúc “tả”, không kịp thời, thiếu dứt khoát khi những vấn đề mới nảy
sinh, thụ động, xuôi chiều, cực đoan,… V.I. Lênin cho rằng: “Trước những phát minh
mới có tính cách mạng trong khoa học tự nhiên, nhất là trong vật lý học nhưng do vẫn
bám lấy những quan niệm cũ mà các nhà khoa học đã đi đến những kết luận duy tâm và

mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội tại cơ sở, có thể thúc đẩy hoặc cản trở sự phát
triển kinh tế - xã hội ở cơ sở. Trên thực tế, chúng ta đều biết, cuộc sống rất phong phú, đa
dạng, muôn màu, muôn vẻ, nhiều khó khăn, phức tạp. Nếu không kiên trì, nhẫn nại vượt

qua những khó khăn, phức tạp đó để đạt được mục tiêu đã định thì người lãnh đạo, quản
lý sẽ thất vọng, mệt mõi, ngao ngán trước những công việc cũng như ước vọng, mong
muốn ban đầu.
Đối với người lãnh đạo, quản lý ở cơ sở, việc ra quyết định đúng đắn, kịp thời và
khả thi là một yêu cầu có tính chất bắt buộc. Để đạt được yêu cầu đó, đòi hỏi người lãnh
đạo, quản lý phải thực hiện đầy đủ các khâu, các bước, tìm tòi, suy nghĩ, đầu tư nghiên
cứu, bám sát thực tiễn cơ sở để phát hiện ra những vấn đề mới, từ đó có những biện pháp
giải quyết kịp thời những vấn đề mới nảy sinh. Chỉ có bám sát thực tiễn, trên cơ sở thực
tiễn của cơ sở thì các quyết định lãnh đạo, quản lý mới sát hợp, không rơi vào chủ quan,
giáo điều, duy ý chí. Muốn tránh được điều đó thì khả năng nắm bắt và xử lý thông tin
của cán bộ lãnh đạo, quản lý phải hết sức nhạy bén, tỉnh táo để có thể phân tích, tổng
hợp, đánh giá một cách kịp thời, chính xác các vấn đề mà thực tiễn đặt ra; phải am hiểu
tường tận địa bàn mình quản lý; phải gần dân, lắng nghe ý kiến, tâm tư nguyện vọng của
nhân dân; phải nắm được tâm lý của những người sẽ thực hiện quyết định và những
người có liên quan đến kết quả thực hiện quyết định của mình đưa ra. Ra quyết định là
một dạng hoạt động nhận thức của người lãnh đạo, quản lý. Đó là quá trình tư duy tìm ra
những giải pháp, bước đi để nhằm đưa đối tượng quản lý từ trạng thái này sang trạng thái
khác, phù hợp với nhiệm vụ quản lý, là sự phát hiện mâu thuẫn giữa tình huống quản lý
với đòi hỏi nhiệm vụ phải thực hiện, dựa vào các nguồn lực để lựa chọn và tìm ra phương
án tối ưu để giải quyết chúng. Suy cho cùng, hiệu quả của quyết định lãnh đạo, quản lý
phụ thuộc vào nhận thức của người lãnh đạo, vào mức độ luận cứ khoa học của nó.
Trong thực tế ở cơ sở, việc ra quyết định của người lãnh đạo, quản lý thường xuất
phát từ việc phân tích đặc điểm, tình hình một cách sơ sài, lấy những thuận lợi và khó
khăn, cái được của cái có trước, thời kỳ trước để áp dụng cho hiện tại và tương lai, bỏ
qua hoặc coi nhẹ việc phân tích, xác định rõ những đặc điểm, những biến đổi đang diễn
ra của quá trình kinh tế - xã hội, điều đó làm hạn chế chất lượng và tính khả thi của quyết

máy, cán bộ và sử dụng, bố trí cán bộ để thực hiện quyết định, phải có nghệ thuật và kinh
nghiệm truyền đạt quyết định để biến quyết tâm của người ra quyết định thành quyết tâm
của người thực hiện quyết định - biến khả năng thành hiện thực giữa lời nói và việc làm,

Trích đoạn Ảnh hưởng của tư duy kinh nghiệm trong hoạt động lãnh đạo, quản lý Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng trên Một số yêu cầu nâng cao trình độ tư duy cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Cà Mau Nâng cao trình độ nhận thức lý luận cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở hiện nay Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, trình độ học vấn, tinh thần tự học tập, tự rèn luyện của cán bộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status