LUẬN VĂN: Vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay pot - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy
vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái
Nguyên hiện nay

mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong quá trình đổi mới đất nước, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế. Điều đó tạo ra nhiều cơ hội, cho sự phát triển đất
nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó chúng ta cũng gặp không ít những thách thức, khó khăn.
Bởi vì, trong bối cảnh hiện nay trước sự biến đổi phức tạp của tình hình kinh tế, chính trị
trên thế giới, trước chiến lược diễn biến hòa bình của chủ nghĩa đế quốc, các thế lực thù
địch trong và ngoài nước đang tìm mọi cách chống phá chủ nghĩa xã hội trên mọi lĩnh
vực, đặc biệt chúng thường xuyên chống phá chúng ta trên lĩnh vực tư tưởng nhằm làm
cho hệ tư tưởng tư sản chiếm vị trí thống trị trong đời sống tinh thần của cán bộ và nhân

nơi có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống. Khai thác những tiềm năng, thế mạnh của Thái
Nguyên để đưa đồng bào dân tộc thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, từng bước xây dựng cuộc
sống văn minh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần cùng cả nước thực hiện
thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế là
nhiệm vụ vô cùng khó khăn đặt ra trước Đảng và nhân dân ta mà trực tiếp là Đảng bộ và
nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên.
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên có một vai trò rất quan
trọng trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, tư tưởng và an ninh - quốc
phòng của tỉnh Thái Nguyên. Tuy vậy, đứng trước yêu cầu của quá trình đổi mới đất
nước họ đã biểu hiện những hạn chế về trình độ, phẩm chất, năng lực tư duy sáng tạo, tổ
chức thực tiễn…trong đó có sự hạn chế về thế giới quan duy vật biện chứng.
Để đáp ứng yêu cầu đặt ra trong tình hình mới, đội ngũ này phải không ngừng học
tập, rèn luyện về mọi mặt, trong đó cần phải nâng cao trình độ lý luận; thực hiện nguyên
tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm xây dựng niềm tin, lý tưởng xã hội chủ
nghĩa, thực hiện thắng lợi đường lối chính trị của Đảng. Đây chính là lý do tác giả luận
văn chọn đề tài: “Vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Triết học.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Gắn liền với quá trình làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, do yêu cầu thực tiễn công
cuộc đổi mới đất nước đặt ra, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay đã có một số
bài viết, đề tài nghiên cứu ở những góc độ khác khau liên quan đến tình hình nghiên cứu
đề tài:
- Lê Xuân Vũ (1986), “Thế giới quan Mác-Lênin trong đời sống tinh thần của
nhân dân ta”, Tạp chí Cộng sản, 1986, (6).
- Trần Thanh Hà (1993), Vấn đề giáo dục thế giới quan khoa học cho cán bộ đảng
viên người dân tộc Khơ-Me ở đồng bằng sông Cửu long trong giai đoạn cách mạng hiện
nay, Luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
- Trần Thước (1993), Sự hình thành thế giới quan xã hội chủ nghĩa ở tầng lớp trí

biện chứng cho một số đối tượng cụ thể đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước.
Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu “Vấn đề bồi dưỡng
thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái
Nguyên hiện nay”.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Trên cơ sở phân tích thực trạng thế giới quan của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ
sở ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay, luận văn đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm bồi
dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của tỉnh
nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình đổi mới đất nước.
3.2. Nhiệm vụ
- Phân tích làm rõ vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với hoạt động
của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên.
- Đánh giá thực trạng thế giới quan của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh
Thái Nguyên.
- Đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện
chứng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn chỉ nghiên cứu thế giới quan của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở (xã,
phường, thị trấn) ở tỉnh Thái Nguyên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện
chứng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thái Nguyên trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thời gian từ năm 2006 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của triết học
Mác-Lênin như: Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội với ý thức xã hội, mối quan hệ giữa điều

1.1. quá trình hình thành Thế giới quan duy vật biện chứng và vai trò của thế
giới quan duy vật biện chứng đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
1.1.1. Quá trình hình thành thế giới quan duy vật biện chứng
Để tồn tại, loài người phải thích nghi với thế giới xung quanh và tìm cách biến đổi
thế giới đó theo những yêu cầu cuộc sống của mình. Muốn vậy, con người cần phải hiểu
biết về thế giới cũng như về chính bản thân mình. Trong quá trình tìm hiểu đó, con
người gặp hàng loạt vấn đề cần được làm rõ, ví dụ như: Thế giới quanh ta là gì? Nó có
bắt đầu và kết thúc không? Sức mạnh nào chi phối sự tồn tại và biến đổi của nó? Con
người là gì? Quan hệ của nó với thế giới bên ngoài ra sao? Nó có thể biết gì và làm gì
với thế giới đó? Vì sao có người tốt, kẻ xấu? Cuộc sống con người có ý nghĩa
gì?…Những câu hỏi như vậy được đặt ra với mức độ khác nhau đối với con người từ
thời nguyên thuỷ cho đến ngày nay và cả mai sau. Giải đáp những vấn đề cơ bản thiết
thực nói trên, sẽ hình thành ở con người những quan điểm, quan niệm của họ về thế
giới, về vai trò của con người trong thế giới. Đó chính là thế giới quan.
Thế giới quan xuất hiện từ thời nguyên thuỷ nhưng khái niệm thế giới quan có tính
lịch sử, nó xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XVIII do nhà triết học cổ điển Đức là Cantơ
nêu ra. Sau đó khái niệm thế giới quan được sử dụng rộng rãi trong tất cả các tác phẩm
của các nhà triết học Đức nửa đầu thế kỷ XIX. C.Mác và Ph.Ăngghen đã sử dụng khái
niệm thế giới quan trong các tác phẩm của mình. Sau C.Mác và Ph.Ăngghen các nhà triết
học duy vật khác cũng sử dụng khái niệm này. Vào thế kỷ XX khái niệm thế giới quan
được các nhà triết học Liên Xô và các nhà triết học các nước nghiên cứu và định nghĩa
dưới nhiều cấp độ khác nhau. Chẳng hạn, G-Getx cho rằng: “Chúng tôi hiểu thế giới
quan như một hệ thống nhất định những lời giải đáp những vấn đề về cội nguồn của thế

giới về nguồn gốc, về ý nghĩa cuộc sống và đặc trưng của tiến bộ xã hội” [18, tr.42].
Hoặc trong Từ điển triết học (Liên Xô) bản dịch ra tiếng việt có ghi như sau: “Thế giới
quan là toàn bộ những nguyên tắc, quan điểm và niềm tin quy định hướng hoạt động và
quan hệ của từng người, của một tập đoàn xã hội, của một giai cấp hay của xã hội nói
chung đối với thực tại”[62, tr.539]. Trong Từ điển triết học có viết: “Thế giới quan là hệ
thống những quan điểm, khái niệm và quan niệm về toàn bộ thế giới xung quanh con

Trên cơ sở của thế giới quan thần thoại, thế giới quan tôn giáo xuất hiện. Thế giới
quan tôn giáo là sự phản ánh hiện thực khách quan một cách hư ảo, hoang đường. Nó ra
đời khi xã hội loài người có sự phân chia giai cấp, khi trình độ hiểu biết, nhận thức của
con người về hiện thực khách quan còn hết sức thấp kém, khi con người còn bất lực trong
việc giải thích và tìm ra bản chất của các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Vì vậy con người
đã thần thánh hoá các hiện tượng tự nhiên xã hội, đã gán cho chúng một bản chất “siêu tự
nhiên”, một sức mạnh “siêu thế gian”, lấy niềm tin không có cơ sở khoa học thay cho tri
thức. Về thực chất, thế giới quan tôn giáo có quan hệ rất chặt chẽ với thế giới quan duy
tâm. Tuy nhiên, cần thấy một khía cạnh khác của tôn giáo đó là sự thể hiện nguyện vọng
được giải thoát khỏi những đau khổ và vươn tới hạnh phúc của con người. Nền tảng trong
thế giới quan tôn giáo là niềm tin tôn giáo bao hàm cả niềm tin vào khả năng đạt được
một cuộc sống tốt đẹp. Mặt tích cực đó làm cho tôn giáo đã tồn tại trong hầu hết các dân
tộc trên thế giới và ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của xã hội với nhiều mức độ khác
nhau.
Như vậy, về bản chất, thế giới quan thần thoại thống nhất với thế giới quan tôn
giáo. Nhưng nếu thế giới quan thần thoại chưa có hệ thống, hỗn độn thì thế giới quan tôn
giáo có hệ thống nhất định. Có thể nói thế giới quan tôn giáo là sự hệ thống hoá thế giới
quan thần thoại và do đó cao hơn thế giới quan thần thoại. Tính quy luật chung của sự
hình thành thế giới quan tôn giáo là đi từ đa thần tới nhất thần. Do đó thế giới quan thần
thoại và thế giới quan tôn giáo cùng đồng hành cho tới ngày nay.
Tính tích cực của tư duy con người có bước chuyển biến về chất nhờ sự xuất hiện
của tầng lớp lao động trí óc trong xã hội cổ đại. Con người bước đầu có ý thức về mình
như một thực thể tách khỏi tự nhiên. Tư duy con người hướng sự “phản tư” (tiếng Hy

Lạp reflxio nghĩa là suy ngẫm, đánh giá) vào chính hoạt động của bản thân mình; từ đó
một phương thức mới của tư duy để nhận thức thế giới được hình thành - tư duy triết học.
Khác với thần thoại, triết học diễn tả thế giới quan của con người không phải bằng những
biểu tượng thần thoại hoặc niềm tin tôn giáo mà bằng một hệ thống các phạm trù. Các
phạm trù triết học đóng vai trò như những bậc thang trong quá trình nhận thức thế giới.
Nó không chỉ nêu ra các quan niệm của mình về thế giới, mà còn chứng minh các quan

giới, cho nên tất cả các hình thức thế giới quan ở giai đoạn tương đối phát triển của nó
đều có liên quan đến vấn đề cơ bản của triết học: đó là vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý
thức cái nào có trước, cái nào có sau và cái nào quyết định cái nào từ đó có thể phân chia
ra hai loại thế giới quan chủ yếu đối lập nhau là thế giới quan duy vật và thế giới quan
duy tâm.
Lịch sử triết học là lịch sử đấu tranh giữa hai đường lối triết học cơ bản: thế giới
quan duy vật và thế giới quan duy tâm. Thế giới quan duy tâm thường gắn liền với tôn
giáo và không thể đi đôi với khoa học. Thế giới quan duy vật gắn bó hữu cơ với khoa học
tự nhiên và thể hiện tư tưởng của các lực lượng xã hội tiến bộ, đang lên.Thế giới quan
duy vật cổ đại phản ánh thế giới một cách chất phác, mộc mạc nhưng về cơ bản đúng với
những hiện tượng khách quan muôn màu, muôn vẻ. Kế thừa những tinh tuý của thế giới
quan duy vật cổ đại, thế giới quan duy vật cận đại bằng phương pháp phân tích qua thực
nghiệm đã giải phóng khoa học tự nhiên ra khỏi thần học, khẳng định trí tuệ con người
đối với sự phản ánh hiện thực khách quan. Thế giới quan duy vật cận đại là hệ tư tưởng
của giai cấp tư sản cách mạng đang lên đại diện cho phương thức sản xuất tiến bộ lúc bấy
giờ nên nó là vũ khí tư tưởng đấu tranh lật đổ phong kiến. Với việc giai cấp vô sản bước
lên vũ đài lịch sử và sự ra đời của chủ nghĩa Mác, thế giới quan duy vật đã phát triển lên
giai đoạn cao của nó là thế giới quan duy vật biện chứng.
Nhờ sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng khoa học, chủ
nghĩa duy vật triết học của Mác là chủ nghĩa duy vật triệt để, duy vật không chỉ trong tự
nhiên mà cả trong xã hội. Thế giới quan duy vật biện chứng đã giải quyết mối quan hệ
giữa con người với tự nhiên và xã hội một cách đúng đắn nhất.

1.1.2. Cấu trúc của thế giới quan duy vật biện chứng
Thế giới quan duy vật biện chứng được xây dựng trên những tiền đề kinh tế xã hội
và những tư tưởng, văn hoá tiên tiến của nhân loại, của thời đại, mà trực tiếp nhất là được
dựa trên cơ sở phản ánh khái quát, đúng đắn, đầy đủ và sâu sắc về mặt triết học những tư
liệu do khoa học và thực tiễn mang lại. Thế giới quan duy vật biện chứng bao gồm ba
nhân tố cơ bản đó là tri thức khoa học, niềm tin khoa học và lý tưởng cách mạng.
- Tri thức khoa học

mạng của mỗi con người. Nó đòi hỏi hành động của mỗi người phải dựa trên cơ sở tri
thức khoa học và tuân theo những giá trị và chuẩn mực đúng đắn của xã hội. Nếu con
người làm một việc gì đó mà không có niềm tin vào sự đúng đắn của tri thức, của tư
tưởng, thì họ sẽ bị mất đi những xung động của ý chí, nghị lực, lòng nhiệt tình và sự cổ
vũ cần thiết đối với hiệu quả của bất kỳ công việc gì, đặc biệt là công việc có ý nghĩa to
lớn đối với xã hội và giai cấp của mình.
Con người trở thành người với ý nghĩa cao quý của nó chỉ khi nào được khích lệ
bởi một niềm tin chân chính: C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh…là những
con người điển hình đã có một niềm tin khoa học vững chắc vào giai cấp vô sản. Các bậc
vĩ nhân đó không chỉ nắm vững chân lý mà còn là tấm gương sáng ngời về lối sống theo
niềm tin khoa học.
Niềm tin khoa học giúp cho con người tăng thêm nghị lực, củng cố ý chí, quyết
tâm, giúp con người vượt qua mọi khó khăn, thử thách, những phút giây hiểm nghèo,
thậm chí sẵn sàng hy sinh bản thân mình vì những mục tiêu mà mình cho là cao cả.
Do vậy, niềm tin được xác lập trên cơ sở một tri thức khoa học sẽ có tác dụng thúc
đẩy xã hội phát triển.
- Lý tưởng cách mạng
Lý tưởng là hình thức đặc biệt của thế giới khách quan, là ý thức về cái đang tồn
tại và triển vọng phát triển của nó; là niềm tin nhìn vào thế giới như cái cần phải có theo
khát vọng của cá nhân, của một tập đoàn người hoặc là của một giai cấp hay của cả một
cộng đồng người rộng lớn.

Trong cuộc sống của mình, con người không thể sống mà không có lý tưởng. Lý
tưởng là trạng thái hoàn hảo nhất mà người ta mong muốn đạt tới. Lý tưởng thôi thúc con
người hành động để thoả mãn các nhu cầu lợi ích. Những quan niệm của con người về
tương lai, về lý tưởng sẽ hình thành một hình thức tâm lý với tư cách là niềm hy vọng cao
cả tạo nên một sự khát khao hiến dâng cả bản thân mình cho tương lai.
Lý tưởng mang tính lịch sử, nó có thể tiến bộ hay lạc hậu tuỳ thuộc vào hình thái
của các quan hệ xã hội. Trong xã hội có giai cấp, lý tưởng cũng mang tính giai cấp và
mang tính đảng nhất định. Lý tưởng của giai cấp vô sản khác với lý tưởng của giai cấp tư

tự nhiên, xã hội và con người cùng những định hướng giá trị của con người trong quan hệ
với hiện thực dựa trên việc giải quyết một cách duy vật biện chứng vấn đề cơ bản của
triết học. Sự ra đời của thế giới quan duy vật biện chứng đã đánh dấu một bước ngoặt
quan trọng trong sự phát triển của thế giới quan triết học nói riêng, thế giới quan nói
chung. Vì vậy, thế giới quan duy vật biện chứng có những khác biệt căn bản với các thế
giới quan khác đã hình thành trong lịch sử.
Trước hết, thế giới quan duy vật biện chứng là thế giới quan khoa học. Thế giới
quan duy vật biện chứng được hình thành trên cơ sở phản ánh khái quát về mặt triết học
những thành tựu khoa học và thực tiễn. Toàn bộ các tri thức của nhân loại, đặc biệt là các
tư tưởng triết học phương Tây từ thời cổ đại đã được C.Mác, Ph.Ăngghen, Lênin kế thừa
có phê phán. Các ông đã tìm ra những hạt nhân hợp lý không chỉ của chủ nghĩa duy vật
mà cả trong chủ nghĩa duy tâm, đặc biệt là chủ nghĩa duy tâm của Hêghen. Những tư
tưởng về kinh tế - chính trị, về chủ nghĩa xã hội không tưởng xuất hiện từ các thế kỷ
trước đều được C.Mác và Ph.Ăngghen kế thừa có chọn lọc. Chính điều đó đã làm cho
chủ nghĩa duy vật biện chứng như là sự kết tinh những tư tưởng tiến bộ của loài người.
Thế giới quan duy vật biện chứng là thế giới quan mang tính cách mạng. Tính
cách mạng thể hiện ở chỗ, thế giới quan duy vật biện chứng nó là cơ sở khoa học để phê
phán chủ nghĩa duy tâm dưới mọi hình thức của nó, nó đối lập với chủ nghĩa duy vật tầm
thường và cả chủ nghĩa duy vật siêu hình. Nó không thừa nhận bất cứ một cái gì là tuyệt
đích, cuối cùng. Nó khẳng định sự phát triển là một nguyên lý phổ biến của thế giới
khách quan. Nó chống lại mọi sự bảo thủ, trì trệ, ngưng đọng từ tư duy cho đến hành

động. Vì vậy, nó tạo ra tinh thần cách mạng cho con người, tạo ra ý thức cải biến thế giới
khách quan để phục vụ cuộc sống của con người. Thế giới quan duy vật biện chứng là vũ
khí tư tưởng sắc bén nhất cho các ngành khoa học chống lại các tư tưởng phản khoa học.
Đó là “một thế giới quan hoàn chỉnh, không thoả hiệp với bất cứ sự mê tín nào, một thế
lực phản động nào, một hành vi nào bảo vệ sự áp bức của tư sản”[32, tr.50].
Tính cách mạng của thế giới quan duy vật biện chứng còn thể hiện ở chỗ nó phục
vụ nhu cầu cải tạo thế giới tư bản chủ nghĩa thành thế giới mới cộng sản chủ nghĩa mà
giai cấp vô sản là người đi đầu trong cuộc cải tạo đó. C.Mác đã viết: “các nhà triết học đã

có tác dụng làm nòng cốt trong các tổ chức thuộc một hệ thống tổ chức đặc biệt là trong
hệ thống chính trị.
Theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) cơ cấu tổ chức bộ máy của hệ
thống chính trị nước ta được phân chia thành bốn cấp: Trung ương; tỉnh, thành phố,
huyện, quận và cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn). Trên một ý nghĩa nhất định, cấp cơ sở là
tế bào của xã hội, sự phát triển của toàn xã hội là do sự phát triển của các đơn vị cơ sở
hợp thành. Khi cơ sở còn yếu kém thì chưa thể nói đến sự vững mạnh của xã hội được.
Ngược lại sự phát triển của xã hội cũng sẽ là điều kiện đảm bảo cho các cơ sở còn yếu
kém phấn đấu vươn lên. Mối quan hệ giữa cấp cơ sở và toàn xã hội là mối quan hệ giữa
cái bộ phận và cái toàn thể.
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở được xác định bao gồm cấp uỷ viên mà trước
hết là bí thư, phó bí thư Đảng uỷ, chủ tịch, phó chủ tịch Hội đồng nhân dân, chủ tịch, phó
chủ tịch Uỷ ban nhân dân, uỷ viên thường trực và những trưởng đầu ngành ở cơ sở là
người quyết định mọi công việc ở cơ sở và là người chịu trách nhiệm trước Đảng và nhân
dân về sự thành công hay thất bại của sự nghiệp đổi mới ở cơ sở.
Trong quan niệm của người Việt Nam, danh xưng “cán bộ” càng có ý nghĩa cao
đẹp. Đó là một lớp người tiên phong, sẵn sàng chịu đựng mọi gian khó, hy sinh cho cách
mạng, phấn đấu vì lợi ích của nhân dân và dân tộc; là những người lãnh đạo và tổ chức
các phong trào cách mạng đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Như vậy,
trong mọi trường hợp, cán bộ chính là lực lượng chủ chốt trong đội ngũ những người sử
dụng lực lượng thực tiễn để hiện thực hoá các tư tưởng, tổ chức thực hiện ý tưởng trong

cuộc sống. Trong lĩnh vực hoạt động chính trị, cán bộ là những người “đứng mũi chịu
sào” trong việc hoạch định thực thi các chính sách, quyết định không chỉ riêng lĩnh vực
hoạt động chuyên ngành, mà hơn thế nữa, họ là những người đầu tiên chịu trách nhiệm về
sự phát triển của xã hội.
Cấp cơ sở là nơi nhân dân cư trú, sinh sống gắn bó chặt chẽ trong các quan hệ kinh
tế, dòng tộc và văn hoá. Cấp cơ sở có vị trí rất quan trọng, là cấp gần dân nhất, là cầu nối
giữa Đảng, nhà nước với nhân dân, là nơi trực tiếp tổ chức thực thi pháp luật, chính sách
của nhà nước, đưa đường lối chủ trương của Đảng vào thực tiễn đời sống xã hội. Đồng

tại cơ sở. Đồng thời, đội ngũ này còn tạo nên những thành tựu, cung cấp những bài học
kinh nghiệm có giá trị, góp phần quan trọng cho sự phát triển chung của đất nước. Trên
thực tế hiện nay, một số xã, phường, thị trấn đang diễn ra tình trạng có một số chủ
trương, nghị quyết, chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước đã thực hiện không đến
nơi đến chốn, thậm chí có lúc vi phạm nghiêm trọng gây hậu quả xấu. Nguyên nhân
chính ở những nơi đó là do thiếu những cán bộ có năng lực tổ chức thực hiện đường lối,
chủ trương chính sách của Đảng một cách năng động, sáng tạo và phù hợp với địa
phương mình.
Cấp cơ sở là địa bàn sinh sống của đại bộ phận dân cư; nơi diễn ra mọi hoạt động
kinh tế xã hội của nhân dân; nơi trực tiếp và chủ yếu thể hiện sự lãnh đạo của Đảng, thực
hiện sự quản lý của Nhà nước đối với nhân dân. Cho nên, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ
sở là cấp cuối cùng gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc với bà con, là chỗ dựa của Đảng và
Nhà nước, là nhịp cầu quan trọng nối Đảng với dân, đưa tư tưởng của Đảng đến với dân
và phản ánh tình hình, nguyện vọng của nhân dân cho Đảng. Nhân dân tin Đảng, theo
Đảng hay không, phần lớn và trực tiếp thông qua cán bộ cơ sở mà trước hết là cán bộ chủ
chốt. Thông qua đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ý Đảng - lòng dân được thống nhất,
làm cho Đảng và Nhà nước có sơ sở ăn sâu, bám rễ trong quần chúng, tạo nên máu thịt
giữa Đảng với nhân dân, trực tiếp củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng và chế độ.
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng hệ
thống tổ chức bộ máy vững mạnh và phong trào cách mạng quần chúng ở cơ sở.

Đối với hệ thống tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là những trụ
cột, là trung tâm đoàn kết, tổ chức, sắp xếp, tập hợp lực lượng, là linh hồn của các tổ
chức đó. Họ tác động đến năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ cơ sở, đến
năng lực và hiệu quả quản lý của chính quyền, lực lượng vũ trang và hoạt động của các
đoàn thể quần chúng ở cơ sở. Hệ thống tổ chức bộ máy ở cơ sở có hoàn thành được
nhiệm vụ của mình hay không, trước hết là tuỳ thuộc vào đội ngũ cán bộ chủ chốt. Vì thế,
xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở có đủ trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức
cách mạng là góp phần vào việc thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
Đối với phong trào quần chúng tại địa phương, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

Nhà nước và chính quyền tại địa phương. Có như vậy họ mới đáp ứng được yêu cầu thực
tiễn đặt ra hiện nay.
Bước vào thế kỷ XXI, khi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước càng
phát triển một cách toàn diện cả về quy mô, tính chất và chiều sâu thì thực tiễn càng cấp
bách đòi hỏi chúng ta phải lựa chọn một sự đột phá có tính chất quyết định là tạo lập cho
được một đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trong đó có cấp cơ sở, đảm bảo
ngang tầm nhiệm vụ cách mạng mới.
Trong những đòi hỏi gay gắt của công tác cán bộ, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
nổi lên như một nhiệm vụ quan trọng và bức thiết. Xuất phát từ yêu cầu phát triển nóng bỏng
của thực tiễn qua các giai đoạn, đồng thời trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm và truyền thống từ
lịch sử mà ngay từ Đại hội VI,VII,VIII và được cụ thể hoá tại Đại hội IX, Đảng ta xác định
tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: “Xây dựng, chỉnh đốn hệ thống các
học viện, trường và trung tâm chính trị, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, trước hết đối với cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp” [16, tr. 142].
Đào tạo, bồi dưỡng là khâu có ý nghĩa quyết định đến trình độ, chất lượng cán bộ.
Công việc này gồm nhiều hình thức khác nhau, nhưng trong đó việc đào tạo, bồi dưỡng
thế giới quan duy vật biện chứng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng. Bởi vì, thế giới
quan duy vật biện chứng giúp cho người cán bộ có phương pháp nhận thức đúng đắn sự
vật, đề ra kế hoạch, định hướng và biện pháp thực hiện khoa học và hiệu quả.

1.1.4.2. Thế giới quan duy vật biện chứng ảnh hưởng tới phẩm chất đạo đức và
năng lực công tác của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
C.Mác viết: “Giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của
mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình” [35, tr.34].
Triết học mà C.Mác đề cập ở đây chính là triết học duy vật biện chứng của chủ nghĩa
Mác-Lênin. Quan điểm cơ bản trên đây của C.Mác là cơ sở để hiểu rõ vai trò của thế giới
quan duy vật biện chứng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp cơ sở.
- Thế giới quan duy vật biện chứng giúp người cán bộ chủ chốt cấp cơ sở định
hướng đúng đắn trong cuộc sống

hiến sức lực của mình cho đất nước. Từ đó người cán bộ chủ chốt cấp cơ sở sẽ ra sức
học tập, nghiên cứu về lý luận cũng như tổng kết thực tiễn để nâng cao khả năng của
mình về mọi mặt nhằm hoàn thành các nhiệm vụ được giao.
- Thế giới quan duy vật biện chứng rèn luyện khả năng tư duy năng động, sáng tạo
của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
Việc phát triển thế giới quan duy vật biện chứng sẽ góp phần nâng cao năng lực tư
duy lý luận, khắc phục tư duy siêu hình cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, đáp ứng
yêu cầu công cuộc đổi mới. Thật vậy, đặc điểm của công tác lãnh đạo, quản lý của đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở khác với cấp trung ương, tỉnh, huyện, những cấp chiến
lược, trung gian. Cấp cơ sở là cấp chiến thuật, cấp hành động, nên tư duy cán bộ cơ sở
thiên về tư duy hành động, tư duy cụ thể. Tất cả những công việc ở cơ sở hầu hết đều
mang tính cụ thể, từ việc ký tên, đóng dấu, tiếp dân, xử lý các tranh chấp…đến các
công việc chung hơn như ra các nghị quyết, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
cũng như là sự cụ thể hoá các nghị quyết, chính sách của Đảng và nhà nước. Do quá
trình quen với việc giải quyết những sự vụ, sự việc gần như không gắn bó với nhau và
do hạn chế về thế giới quan duy vật biện chứng, nên tư duy cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
dễ rơi vào siêu hình, kinh nghiệm chủ nghĩa, phiến diện…
Cán bộ chủ chốt cấp cơ sở có kinh nghiệm phong phú, đây là mặt mạnh trong
của đội ngũ này, càng quan trọng hơn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội,

trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, đặc biệt là ở cơ sở. Sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội, công cuộc đổi mới ở cơ sở là những công việc hết sức mới mẻ và vô
cùng khó khăn, phức tạp, chúng ta không thể tìm mọi lời giải đáp từ trong sách vở
hoặc trong lý luận có sẵn cho những yêu cầu của thực tiễn cách mạng đặt ra. Chính
phong trào cách mạng của quần chúng ở cơ sở đã đề ra những bài học kinh nghiệm
quý báu cho phong trào cách mạng vượt qua khó khăn và cũng từ đó, Đảng ta có cơ sở
rọi lại lý luận, bổ sung, sửa đổi, điều chỉnh lý luận, tổng kết, khái quát thành lý luận
mới, định hướng, chỉ đạo cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Cán bộ cơ sở nói chung và cán bộ chủ chốt cấp cơ sở nói riêng rất cần tri thức kinh
nghiệm. Kinh nghiệm đã giúp cho cán bộ cơ sở trong thời gian qua giải quyết được nhiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status