luận văn vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho cán bộ, đảng viên ở phú thọ hiện nay - Pdf 15

LUẬN VĂN: Vấn đề bồi dưỡng thế giới quan
duy vật biện chứng cho cán bộ, ĐảNG VIÊN

ở Phú Thọ hiện nay MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới quan khoa học cú vai trũ quan trọng trong nhận thức và cải tạo thực

đất cội nguồn của dân tộc. Đội ngũ cán bộ, đảng viên ở Phú Thọ đó cú vai trũ quan trọng
trong đời sống kinh tế, chính trị, an ninh quốc phũng của tỉnh. Họ đó cú những đóng
góp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, phát huy truyền thống
dựng nước của các vua Hùng, đưa Phú Thọ đang từng bước vươn lên. Tuy nhiên,
trong tỡnh hỡnh cỏch mạng mới, đội ngũ này đó biểu hiện những hạn chế nhất định
về trỡnh độ, năng lực, biểu hiện ở nhiều phương diện, đặc biệt là mặt thế giới quan.
Vỡ sao hiện nay đi vào kinh tế thị trường, cán bộ, đảng viên đi lễ chùa nhiều như
vậy? Vỡ sao hoạt động mê tín dị đoan chưa được khắc phục, thậm chí có nơi cũn gia
tăng? Vỡ sao cỏn bộ, đảng viên không dám mạnh dạn đấu tranh với các hoạt động
này? Trong công tác giáo dục bồi dưỡng cán bộ, đảng viên hiện nay đặt ra vấn đề gỡ,
giỏo dục như thế nào để nõng cao trỡnh độ thế giới quan khoa học cho họ Đây là
tỡnh huống cú vấn đề mà trong quá trỡnh đi lên chỳng ta phải tập trung giải quyết.
Vỡ vậy, việc tỡm hiểu thực trạng thế giới quan và việc bồi dưỡng thế giới quan duy
vật biện chứng cho cán bộ, đảng viên, từ đó đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm
nâng cao hiệu quả việc bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho cán bộ, đảng
viên hiện nay là yêu cầu cần thiết và cấp bách.
Từ những căn cứ trên, nhằm khắc phục những hạn chế và phát huy những thành
quả đó đạt được, góp phần xây dựng con người mới, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng
viên ở Phú Thọ “vừa hồng, vừa chuyên”, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra, tác giả
chọn đề tài: “Vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho cán bộ, đảng
viên ở Phú Thọ hiện nay” làm luận văn thạc sĩ triết học của mỡnh.
2. Tỡnh hỡnh nghiờn cứu liên quan đến đề tài
Việc nghiên cứu thế giới quan duy vật biện chứng đó cú nhiều tỏc giả nghiờn
cứu trước đây như:

- V.T.Li - Xốp - ski và A.V.Mitriép (1974), Nhân cách của người sinh viên",
chương 6: sự hỡnh thành thế giới quan, Nxb Đại học tổng hợp Lêningrát.
- V.I.Vaxilencô (1975), Thế giới quan khoa học và những vấn đề lý luận của
việc xõy dựng thế giới quan trong xó hội xó hội chủ nghĩa, Bản tự lược thuật luận án
Tiến sĩ Triết học, Mátxcơva.

Tất cả các tác giả trên đó đề cập đến một số vấn đề cơ bản như:
- Khái niệm thế giới quan nói chung và thế giới quan duy vật biện chứng núi
riờng, cấu trỳc và vai trũ của chỳng.
- Tầm quan trọng và tính tất yếu của việc giáo dục thế giới quan, bồi dưỡng thế
giới quan duy vật biện chứng cho cán bộ đảng viên, sinh viên, đồng bào dân tộc thiểu số
nói chung trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xó hội.
- Những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan để hỡnh thành, tỏc động,
phát triển thế giới quan duy vật biện chứng. Những nguyên tắc phương pháp luận chung
trong việc xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng cho nhân dân trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xó hội.
- Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những quan điểm và giải pháp cụ thể nhằm bồi
dưỡng và phát triển thế giới quan duy vật biện chứng cho đối tượng nghiên cứu trên cơ
sở đũi hỏi của thực tiễn trong mỗi giai đoạn nhất định.
Tuy nhiên, về "Vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội
ngũ cán bộ đảng viên ở Phú Thọ hiện nay" chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách
có hệ thống dưới góc độ triết học. Đồng thời, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của cán
bộ, đảng viên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước nói chung, phát triển kinh
tế, văn hoá - xó hội Phỳ Thọ núi riờng, do đó, tác giả chọn đề tài này làm luận văn thạc
sĩ triết học, nhằm góp phần nhỏ vào mục tiêu trên.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Trên cơ sở phân tích tầm quan trọng và tỡnh hỡnh bồi dưỡng thế giới quan duy
vật biện chứng cho cán bộ, đảng viên ở Phú Thọ hiện nay, luận văn đưa ra phương

hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm bồi dưỡng có hiệu quả thế giới quan duy vật
biện chứng cho đội ngũ này.
3.2. Nhiệm vụ
- Phân tích tầm quan trọng của việc bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng đối
với đội ngũ cán bộ đảng viên, xác định những nhân tố tác động đến thế giới quan duy vật biện
chứng của cán bộ đảng viên ở Phú Thọ hiện nay.


Chương 1
TẦM QUAN TRỌNG VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN Ở
PHÚ THỌ HIỆN NAY

1.1. THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ TẦM QUAN TRỌNG
CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG CHO
CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN Ở PHÚ THỌ HIỆN NAY
1.1.1. Thế giới quan duy vật biện chứng, bồi dưỡng thế giới quan duy vật
biện chứng
1.1.1.1. Thế giới quan duy vật biện chứng
Để tồn tại và phát triển, con người luôn phải đặt mỡnh trong mối quan hệ tự
nhiờn và xó hội, với thế giới xung quanh. Tỡm hiểu, khỏm phỏ, về thế giới và nhận thức
bản thõn mỡnh là nhu cầu của con người. Khi trả lời được những vấn đề: nguồn gốc,
bản chất của thế giới là gỡ?, thế giới cú tồn tại thực tế hay chỉ là ảo ảnh? Vị trớ và vai
trũ của con người trong thế giới ấy là thế nào? í nghĩa cuộc sống của con người ra sao?
Đó chính là thế giới quan.
Phạm trù thế giới quan xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVIII do Cantơ - nhà triết
học cổ điển Đức nêu ra. Sau đó, phạm trù được sử dụng rộng rói trong cỏc tỏc phẩm
triết học. Với sự ra đời của Chủ nghĩa Mác - Lênin, phạm trù thế giới quan được phát
triển lên một tầm cao mới. Vào khoảng thế kỷ XX, giới triết học ở Liên Xô và các nhà
triết học trên thế giới nghiên cứu, định nghĩa ở nhiều góc độ khác nhau.
Tuy nhiên, thế giới quan nào cũng nhằm giải quyết ba vấn đề sau:
- Thế giới mà con người đang sống là gỡ?
- Trong thế giới đó con người sống vỡ cỏi gỡ và sống như thế nào?
- Khả năng của con người tác động lại thế giới ra sao?
Trả lời những câu hỏi ấy, thế giới quan vạch ra được mối quan hệ giữa thế giới
và con người, xác định vị trí của con người trong thế giới đó. Ở đây cần làm rừ thờm
mấy vấn đề sau:


tắc, quan điểm và niềm tin quy định hướng hoạt động và quan hệ của từng người, của
một tập đoàn xó hội, của một giai cấp hay xó hội núi chung đối với thực tại” [65,
tr.539].
Trên cơ sở đó, có thể hiểu: Thế giới quan là hệ thống những quan điểm của một
chủ thể (một người, một tập đoàn người, một giai cấp hay toàn xó hội) về thế giới, về
mối quan hệ giữa thế giới với con người, xác định vị trí, vai trũ của con người trong thế
giới, nhằm giải đáp vấn đề mục đích và ý nghĩa cuộc sống con người. Trên cơ sở đó, thế
giới quan định hướng, chỉ dẫn cho hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới của con
người, đồng thời là phương thức con người tự ý thức về bản thõn mỡnh.
Thế giới quan cú ý nghĩa khụng chỉ về mặt lý luận và nhận thức mà nú cũn cú ý
nghĩa to lớn về thực tiễn, quyết định thái độ của con người đối với thế giới xung quanh
và định hướng cho hành động của con người.
Thứ hai: Về cấu trúc, thế giới quan được cấu thành bởi ba nhân tố sau:
- Tri thức: Tri thức là điều kiện cần thiết và chủ yếu cho việc hỡnh thành thế giới
quan. Cũng giống như mọi ý thức xó hội, thế giới quan bao gồm những tri thức về tự
nhiờn, xó hội, con người, nhưng không phải bất kỳ tri thức nào về tự nhiên, xó hội, con
người đều là tri thức thế giới quan. Chỉ có những tri thức biểu thị quan điểm chung về
tồn tại và về nhận thức mới là những tri thức của thế giới quan. Tri thức chỉ trở nên bền
vững, sâu sắc, có giá trị định hướng cho hoạt động của con người khi nó nhập vào thế
giới quan duy vật biện chứng. Với tính cách là tri thức khoa học phản ánh các quan
điểm chung nhất về thế giới, những tri thức triết học đóng vai trũ nền tảng của mọi thế
giới quan ở cỏc giai đoạn phát triển của nó.Cần chỳ ý là tri thức khoa học chỉ là điều
kiện cần mà chưa đủ để hỡnh thành niềm tin. Kiến thức, bản thõn nú khụng phải là quan
niệm, khụng phải là thế giới quan, nó chỉ là chất liệu, cần phải làm giàu thêm bằng kinh
nghiệm sống, bằng tính tích cực của tư duy của con người. Người ta có thể trích dẫn
Mác nhưng lại không thể trở thành nhà mác-xít. Thông thường, kiến thức biến thành thế
giới quan khi nú cú tớnh chất của quan niệm. Bởi vỡ, quan niệm, nguyờn tắc là cơ sở tổ
chức hoạt động sống cá nhân. Điều kiện quan trọng nhất của việc biến kiến thức thành


giới “đang có” thành thế giới “phải có.”
Ba nhân tố cơ bản trên có mối quan hệ biện chứng với nhau, cấu thành thế giới
quan, nhằm thể hiện những quan điểm của chủ thể về thế giới, về những hiện tượng của
tự nhiên, xó hội và cỏc quy luật phỏt triển của chỳng, về bản thõn con người và vai trũ
của con người trong thế giới.
Thứ ba: Về mối quan hệ giữa triết học với thế giới quan
Mối quan hệ giữa con người với thế giới là trung tâm của thế giới quan, các giai
đoạn phát triển của thế giới quan đều liên quan đến vấn đề cơ bản của triết học, thậm chí
vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề chính trong kết cấu của thế giới quan. Nhưng xét
về mặt lịch sử, thế giới quan ra đời sớm hơn triết học. Nó ra đời trong thời kỳ bộ tộc,
với hỡnh thức thế giới quan đầu tiên là thế giới quan thần thoại, trên cơ sở phản ánh
thực tế một cách hoang đường. Cũn triết học là khoa học, chỉ xuất hiện khi cú sự tỏch
lao động trí óc khỏi lao động chân tay, gắn liền với sự ra đời của chế độ chiếm hữu nô
lệ.
Triết học hỡnh thành với tư cách là hỡnh thỏi ý thức xó hội, trờn cơ sở phát triển
của những vấn đề thế giới quan xuất hiện trong quá trỡnh nhận thức mang tớnh thần
thoại đối với thế giới, nhằm giải quyết về mặt lý luận đối với những vấn đề về thế giới
quan được nảy sinh và phát triển trong thực tiễn.
Triết học là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới, về vị trớ của
con người trong thế giới đó. Vỡ vậy, triết học là hạt nhõn lý luận của thế giới quan, làm
cho thế giới quan phỏt triển như một quá trỡnh tự giỏc dựa trờn sự tổng kết kinh nghiệm
thực tiễn và tri thức do cỏc nhà khoa học đem lại. Do đó triết học có chức năng thế giới
quan.
Thế giới quan duy vật biện chứng là một hệ thống quan điểm hoàn chỉnh về thế
giới trên cơ sở những tri thức về tự nhiên, xó hội và tư duy, cùng những định hướng giá
trị của con người trong quan hệ với hiện thực dựa trên việc giải quyết một cách duy vật
biện chứng vấn đề cơ bản của triết học. Nó đảm bảo thống nhất giữa tính khoa học và
tính cách mạng triệt để. Thể hiện ở việc nêu cao tính phê phán đối với xó hội cũ, xõy

dựng xó hội mới, đánh giá đúng vị trí của con người trong thế giới hiện thực và vai trũ

giữa dạy và học. Với nghĩa như vậy, bồi dưỡng bao hàm giáo dục ở trong nó, và giáo
dục được xem là hỡnh thức cơ bản có hiệu qủa nhất của quỏ trỡnh bồi dưỡng.
Với quan niệm như vậy thỡ bồi dưỡng là trên cơ sở cái đó cú, làm cho nú phỏt
triển ngày một cao hơn, tốt hơn và sâu sắc hơn. Nó được thực hiện dưới nhiều hỡnh
thức đa dạng và phong phú.
Bản chất của bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng là quỏ trỡnh tỏc động
đồng bộ, tích cực, có định hướng, có kế hoạch vào ý thức của đối tượng bồi dưỡng,
nâng cao khả năng nhận thức, năng lực tư duy và hướng dẫn họ hoạt động thực tiễn theo
một chương trỡnh, mục tiờu cụ thể đó được xác định, nhờ đó sẽ hỡnh thành thế giới
quan khoa học và cỏch mạng, hỡnh thành phương hướng phấn đấu rèn luyện để đạt
được trỡnh độ chính trị, chuyên môn, phẩm chất đạo đức cách mạng.
Việc bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng phải đảm bảo cả ba thành tố
cấu trúc cơ bản. Một là, hệ thống tri thức khoa học cơ bản, toàn diện, hiện đại và
phương pháp tư duy biện chứng; hai là, hệ thống niềm tin vào chân lý những giỏ trị xó
hội nhõn đạo; ba là, hỡnh thành lý tưởng sống cao đẹp, tiến bộ và tích cực, sẵn sàng
hành động vỡ lý tưởng đó.
Bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là
làm cho thế giới quan duy vật biện chứng trở thành nền tảng trong đời sống tinh thần, có
tác dụng định hướng cho họ về nhận thức và hoạt động thực tiễn cũng như trong cuộc
sống. Ở đây, tiến hành đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực đời sống xó hội, từ kinh tế,
chớnh trị, văn hóa- tư tưởng, đạo đức, lối sống…bằng nhiều hỡnh thức tập trung và
khụng tập trung, trực tiếp và giỏn tiếp, giỏo dục và tự giỏo dục…,được thực hiện liên
tục và trải suốt cả quá trỡnh cỏch mạng xó hội chủ nghĩa. Núi rộng ra thỡ cụng tỏc bồi
dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ này ở nước ta hiện nay là
nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, được thực hiện bằng tất cả sức mạnh của hệ thống
chính trị.
Trong tất cả những hỡnh thức và biện phỏp tiến hành bồi dưỡng thế giới quan
thỡ hỡnh thức tập trung và trực tiếp là quan trọng nhất; bởi vỡ, hỡnh thức này trong một

thời gian ngắn, người học lĩnh hội được một khối lượng lớn tri thức và có tính lôgíc

“vấn đề cán bộ là một vấn đề rất trọng yếu, rất cần kíp”. Cán bộ là “chiếc cầu nối giữa Đảng
và nhân dân”, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” và “mọi việc thành công hay thất bại do
cán bộ tốt hay kém” [49, tr.269-273].
Như vậy, nếu cú cỏn bộ tốt, ngang tầm thỡ việc xõy dựng đường lối, chính sách
sẽ đúng đắn và là điều kiện tiên quyết để đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi.
Đường lối chính sách có đúng đắn, sát thực đến đâu nhưng không có đội ngũ cán bộ tốt,
đủ trỡnh độ năng lực thỡ cũng khú trở thành hiện thực, khú đi vào cuộc sống. Muốn
biến đường lối chính sách thành hiện thực phải có những người cán bộ cách mạng thực
sự bằng lý luận và năng lực thực tiễn của mỡnh kết hợp với quần chỳng nhõn dõn để tổ
chức thành công nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó.
Vị trớ, vai trũ của cỏn bộ, đảng viên có tầm quan trọng đặc biệt trong mọi quá
trỡnh cỏch mạng. Cỏn bộ đảng viên là vốn quý của Đảng, của cách mạng. Cán bộ tốt
quyết định tất cả. Muốn vậy phải rèn luyện cán bộ trong đấu tranh hết lũng vỡ nước, vỡ
dõn, diệt trừ chủ nghĩa cỏ nhõn, trau dồi đạo đức cách mạng, phải phát hiện và trọng
dụng nhân tài qua thực tiễn và qua sự tín nhiệm của quần chúng. Trong sự nghiệp xõy dựng
chủ nghĩa xó hội, cú nhiều nhiệm vụ, nhiều cụng việc mới mẻ, đũi hỏi người cán bộ phải có
đủ trí tuệ, tài năng và phẩm chất đạo đức. “Người cán bộ lónh đạo phải thực sự có tài tổ
chức, những người có bộ óc sáng suốt và có bản lĩnh tháo vát trong thực tiễn, những người
vừa trung thành với chủ nghĩa xó hội lại vừa cú năng lực” [33, tr.509]. Ở đây, đũi hỏi người
cán bộ, đảng viên một mặt phải có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, mặt
khác phải có một phương pháp làm việc khoa học để tổng kết thực tiễn, khái quát thành
lý luận. Cụng việc này khụng đơn giản, nó đũi hỏi sự thống nhất trong bản thõn người
cán bộ, với tư cách vừa là một nhà khoa học, vừa là một chiến sỹ cách mạng nhiệt
thành.
Cán bộ phải là người có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với
Tổ quốc, với Đảng, hết lũng phấn đấu vỡ lợi ớch của nhõn dõn, của dõn tộc, cú bản
lĩnh chớnh trị vững vàng, khụng dao động trước những khó khăn, thử thách, có
năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, có nhân cách và lối sống mẫu mực,

trong sỏng, cú ý thức tổ chức kỷ luật cao, tụn trọng tập thể, gắn bú với nhõn dõn

bản thõn mỡnh. Nú là ‘‘thấu kớnh’’mà thụng qua đó, con người xét đoán mọi sự vật, sự
việc trong cuộc sống và tự xem xột bản thõn mỡnh, từ đó mà con người xác định thái
độ, hành vi, cách thức hoạt động và sinh sống thích ứng với hoàn cảnh. Có thể khái quát
tầm quan trọng của việc bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho cán bộ, đảng
viên thể hiện ở những mặt sau:
Thứ nhất: Thế giới quan duy vật biện chứng giúp cho người cán bộ đảng viên
nâng cao năng lực thực tiễn, vận dụng sáng tạo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước trong việc đề ra chủ trương, chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển ở địa
phương, đơn vị.
Thật vậy, thế giới quan duy vật biện chứng giúp người cán bộ, đảng viên có
phương pháp biện chứng trong nhỡn nhận, đánh giá các sự vật hiện tượng. Nó tạo lập
niềm tin vững chắc cho lập trường của người cán bộ, bác bỏ những quan điểm sai lầm
của thế giới quan duy tâm và tôn giáo. Nó giúp cho người cán bộ, đảng viên có khả
năng phát hiện, đi sâu vào các sự vật hiện tượng, nhất là các hiện tượng xó hội, thụng
qua nhiều hiện tượng phức tạp bên ngoài, phát hiện các quy luật, xu hướng và phương
thức vận động biến đổi của các sự vật hiện tượng. Mặt khác, thế giới quan duy vật biện
chứng cũn tạo cho họ có khả năng phân tích và tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá.
Nhờ đó, có thể thấy được cơ cấu bên trong, tính chất, chức năng của các bộ phận, yếu
tố, trên cơ sở đó, người cán bộ có thể liên kết, thống nhất các bộ phận, yếu tố đó phõn
tớch nhằm vạch ra mối liên hệ giữa chúng để nhận thức cái toàn thể trong tính muôn vẻ
của chúng. Bằng phương pháp phân tích và tổng hợp, giúp người cán bộ nắm bắt sâu
sắc bản chất, quy luật của các sự vật hiện tượng, giúp cán bộ, đảng viên có được những
chủ trương, nghị quyết mang tính khoa học, phù hợp với hiện thực khách quan. Năng
lực trừu tượng hoá giúp người cán bộ biết gạt bỏ những mặt, những yếu tố không cơ bản
trong tổng thể phong phú của sự vật để nắm cái bản chất có tính quy luật của nó, tỡm ra
những vấn đề mới, những mâu thuẫn mới nảy sinh cần được giải quyết. Năng lực khái
quát giúp cán bộ, đảng viên nắm được đặc tính chung từ những vấn đề riêng, tỡm ra

nguyờn nhõn cơ bản, chủ yếu. Việc nắm vững lý luận chung sẽ là tiền đề, phương pháp
tốt nhất để giải quyết những vấn đề cụ thể. Lênin đó chỉ ra rằng:

một chế độ xó hội mới tốt đẹp thỡ Lờnin với tài năng vĩ đại của mỡnh, đó phỏt triển và
vận dụng sáng tạo tư tưởng C.Mác, Ph.Ăngghen vào thực tiễn nước Nga, đưa cách
mạng Tháng Mười Nga đến thắng lợi. Sức mạnh và tính ưu việt của Nhà nước công -
nông đầu tiên đó tạo ra những điều kiện khách quan, điểm tựa vững chắc, cổ vũ niềm tin
mạnh mẽ đối với giai cấp vô sản và nhân dân lao động thế giới trên con đường giải phóng
dân tộc và đi lên chủ nghĩa xó hội.
Hệ thống xó hội chủ nghĩa ra đời đó đóng góp to lớn cho công cuộc gỡn giữ hoà
bỡnh, thỳc đẩy tiến bộ xó hội. Điều đó đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
Giống như mặt trời chói lọi, cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm
châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức bóc lột trên trái đất. Trong
lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa
như thế [5, tr.67].
Sau “cơn bóo chớnh trị” xảy ra vào những năm 90 của thế kỷ XX, chủ nghĩa xó
hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào khủng hoảng và sụp đổ, trong khi đó, chủ
nghĩa tư bản có những điều chỉnh nhất định trong phạm vi quan hệ sản xuất tư bản chủ
nghĩa, điều chỉnh về chính sách xó hội, do đó, xét ở những biểu hiện bên ngoài, chúng ta dễ
lầm tưởng rằng chủ nghĩa tư bản là tiến bộ, là tốt đẹp. Những biểu hiện hoang mang, dao
động đó xuất hiện ở những cỏn bộ đảng viên. Nhưng nếu được trang bị một cách toàn diện
và khoa học về thế giới quan duy vật biện chứng sẽ giúp họ có những nhận thức đúng đắn
về tỡnh hỡnh chớnh trị - xó hội trong nước cũng như trên thế giới. Sự khủng hoảng đó là
khủng hoảng trong sự trưởng thành, loài người nhất định sẽ tiến lên chủ nghĩa xó hội, đó là
sự vận động tất yếu của quy luật xó hội. Những thành cụng trong cụng cuộc đổi mới và cải
cách ở Việt Nam và Trung Quốc là những minh chứng thực tiễn sinh động cho xu hướng
phát triển của lịch sử.
Trong tỡnh hỡnh phức tạp hiện nay, việc bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện
chứng cho cán bộ, đảng viên đó giỳp họ có cơ sở để nhận thức sự phát triển tất yếu lịch

sử, đồng thời thấy được bức tranh tổng quát về thế giới, tính quy luật phổ quát của xó
hội - quỏ độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xó hội và chủ nghĩa cộng sản .
Niềm tin tất thắng vào chủ nghĩa xó hội của người cán bộ, đảng viên được biểu

phỏt triển khỏch quan của chủ nghĩa xó hội. Chủ nghĩa Mỏc - Lờnin núi chung, thế giới
quan duy vật biện chứng núi riờng là biểu hiện về mặt lý luận vị trí, lợi ích và nhu cầu
cải tạo cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nó là vũ khí tư tưởng
cho cuộc đấu tranh xây dựng chủ nghĩa xó hội. Mác khẳng định: ‘‘Cũng giống như triết
học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mỡnh, giai cấp vụ sản thấy triết học là vũ
khớ tinh thần của mỡnh’’[38, tr.34 -35]. Và chính niềm tin đó tạo thành động lực to lớn
đối với người cán bộ, đảng viên, nó hỡnh thành ở họ sự năng nổ, nhiệt tỡnh trong cụng
tỏc, sáng tạo trong phương pháp vận động quần chúng, lôi kéo họ vào công cuộc xây
dựng thành công chủ nghĩa xó hội.
Thứ ba: Thế giới quan duy vật biện chứng giúp cho cán bộ, đảng viên nâng cao
năng lực tổng kết thực tiễn, đúc rút bài học kinh nghiệm, định hướng cho hoạt động
nhận thức và hoạt động thực tiễn tiếp theo.
Tổng kết thực tiễn, đánh giá khách quan, đầy đủ nguyên nhân thành công và thất
bại để chỉ đạo hoạt động thực tiễn tiếp theo là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên
của cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ quản lý. Đây là một khõu quan trọng khụng thể
thiếu trong quỏ trỡnh lónh đạo của cán bộ, đảng viên. Tổng kết thực tiễn có kết quả sẽ
giúp cho cán bộ, đảng viên rút ra được những bài học kinh nghiệm để bổ sung hoàn
chỉnh những quyết định của mỡnh, khắc phục được bệnh kinh nghiệm, giáo điều, góp
phần chỉ đạo thực tiễn tiếp theo đạt hiệu quả cao. Hiệu quả tổng kết thực tiễn phụ thuộc
rất lớn vào năng lực tổng kết thực tiễn của cán bộ, đảng viên. Người cán bộ, đảng viên
có khả năng nắm bắt những vấn đề thực tiễn cần tổng kết, khả năng phân tích, tổng hợp,
chọn lọc thông tin, tổ chức lực lượng, rút ra bài học kinh nghiệm và sử dụng các bài học
kinh nghiệm vào tổ chức thực tiễn. Tổng kết thực tiễn là phương thức cơ bản để bổ
sung, hoàn thiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Đảng ta chỉ rừ: “Thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận, giải quyết
đúng đắn những vấn đề do cuộc sống đặt ra làm rừ cơ sở lý luận và thực tiễn đường

lối, chính sách của Đảng trong thời kỳ mới” [19, tr.131]. Ở đây, mỗi cán bộ, đảng viên
cần phải không ngừng đổi mới tư duy, không ngừng nâng cao trỡnh độ, năng lực tư duy
lý luận mà cơ sở của tư duy khoa học chính là thế giới quan duy vật biện chứng. Bởi vỡ,

lực thúc đẩy sự phát triển xó hội, hoàn thiện con người, mà trước hết, nó là mục tiêu và
động lực xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Đạo đức cách mạng không chỉ là cái “gốc” của người cách mạng mà cũn là
động lực mạnh mẽ để người cán bộ, đảng viên “đi đến cái trí” và khi đó cú “cỏi
trớ” (hiểu biết về khoa học, về chủ nghĩa Mác-Lênin, về phương pháp cách mạng)
thỡ cỏi được chính là cái đảm bảo cho người cách mạng giữ vững được lý tưởng
cao đẹp của mỡnh. Đạo đức cách mạng giúp người cán bộ, đảng viên vững tin trên
con đường đi đến mục tiêu, lý tưởng mà mỡnh đó lựa chọn. Cú đạo đức cách mạng
thỡ khi gặp khú khăn, gian khổ sẽ không lùi bước, thậm chí sẵn sàng hy sinh cho sự
nghiệp cách mạng của đất nước.
Đạo đức cách mạng là nguồn sức mạnh vô tận để người cán bộ, đảng viên hoàn
thành nhiệm vụ của mỡnh. Nhưng muốn có đạo đức cách mạng, người cán bộ, đảng
viên phải tu dưỡng, rèn luyện suốt đời. Chủ tịch Hồ Chí Minh đó khẳng định: “đạo đức
cách mạng không phải từ trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng
ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc cài mài càng sáng, vàng càng luyện càng
trong” [49, tr.327]. Những phẩm chất đạo đức mới của người cán bộ, đảng viên được
Người chỉ rừ, đó là: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Ở đây, sự thống nhất giữa
tri thức khoa học và tỡnh cảm cỏch mạng là yờu cầu tất yếu của người cán bộ, đảng
viên. Vỡ thế, người cán bộ, đảng viên phải cần có thế giới quan duy vật đúng đắn và có
phẩm chất đạo đức cách mạng, nó thống nhất và tác động lẫn nhau. Chính việc bồi
dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng tạo điều kiện cho việc hỡnh thành cỏc phẩm
chất đạo đức cách mạng trong sáng.
Như vậy, việc thấm nhuần thế giới quan duy vật biện chứng sẽ giúp người cán
bộ, đảng viên có được những phẩm chất đạo đức cách mạng, giúp họ hiểu biết sâu sắc
sự nghiệp cách mạng của dân, do dân và vỡ dõn. Mặt khỏc, đối với người cán bộ, đảng
viên yêu cầu đạo đức cách mạng phải cao hơn quần chúng. Trước hết là ý thức, niềm tin

và ý chí quyết tâm cao với đường lối chính trị, với mục tiêu độc lập, tự do, dân giàu,
nước mạnh, xó hội cụng bằng, dõn chủ, văn minh. Từ đó giúp họ có thái độ tôn trọng
nhân dân, gần dân, tỡm hiểu, sõu sỏt nhõn dõn, tuyờn truyền vận động nhân dân thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status