LUẬN VĂN: Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên ở Tây Nguyên hiện nay - Pdf 15


V LUẬN VĂN:
Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng
cho sinh viên ở Tây Nguyên hiện nay

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp đổi mới, nhất là trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức nhằm mục tiêu dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, từng bước vững chắc đi lên chủ nghĩa xã
hội, nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, khai thác và sử dụng tốt
nhất mọi tiềm năng về thể chất và trí tuệ, mọi khả năng sáng tạo của từng người và
của toàn thể cộng đồng dân tộc có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đặc biệt là việc bồi
dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực trẻ lại càng có ý nghĩa quan trọng, vì nó sẽ quyết
định mức độ thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ta,
quyết định chúng ta có đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,

cấp bách hiện nay.
Với ý nghĩa đó, tôi chọn đề tài “Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng
cho sinh viên ở Tây Nguyên hiện nay” làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đền đề tài
Vấn đề thế giới quan duy vật biện chứng ở nước ta từ trước đến nay đã có nhiều
tác giả nghiên cứu. Chẳng hạn, Bùi Ngọc có bài viết “Thế giới quan khoa học một tất
yếu lịch sử”, đăng ở Tạp chí thông tin khoa học xã hội, 1981, số 8. Trong bài viết này,
tác giả tập trung phân tích sự hình thành và phát triển của thế giới quan khoa học là một
tất yếu lịch sử.
Ở một góc độ khác, Lê Xuân Vũ khẳng định “Thế giới quan Mác - Lênin trong
đời sống tinh thần của nhân dân ta”, Tạp chí Cộng sản, 186, số 6. Trong đó tác giả đã
có sự lý giải khá thuyết phục tầm quan trọng của thế giới quan Mác - Lênin trong đời
sống xã hội Việt Nam. Hay như tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn đã tiếp cận vấn đề thế giới
từ khía cạnh sinh học, trong bài “Một số khía cạnh về vai trò của sinh học hiện đại đối
với sự hình thành và củng cố thế giới quan khoa học”, đăng ở Tạp chí Triết học 1988,
số 3.

Ngoài một số bài viết trên, còn có một số luận án và luận văn cũng nghiên cứu
vấn đề thế giới quan. Bùi Ỉnh đã nghiên cứu “Vấn đề xây dựng thế giới quan duy vật
biện chứng đối với cán bộ đảng viên là người dân tộc thiểu số trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta”, Luận án PTS Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, 1988. Còn Trần Thước tập trung nghiên cứu thế giới quan của riêng đội ngũ
trí thức: “Sự hình thành thế giới quan xã hội chủ nghĩa ở tầng lớp trí thức ở Việt Nam”,
Luận án PTS Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1993.
Trần Thanh Hà, Trần Viết Quân, Nguyễn Thị Luyến tập trung nghiên cứu thế
giới quan của đội ngũ cán bộ, đảng viên ở một khu vực nhất định. Nếu Trần Thanh Hà
nghiên cứu “Vấn đề giáo dục thế giới quan khoa học cho cán bộ đảng viên người dân
tộc Kh’mer ở Đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ
Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1993, thì Trần Viết Quân lại đi sâu
tìm hiểu vấn đề “Bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán bộ chủ

cho sinh viên ở Tây Nguyên hiện nay, tác giả luận văn đưa ra một số giải pháp chủ yếu
nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho
tầng lớp này.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Luận văn tập trung làm sáng tỏ những nội dung chủ yếu sau:
- Phân tích vai trò, tầm quan trọng của việc giáo dục thế giới quan duy vật biện
chứng; xác định những nhân tố tác động đến thế giới quan và quá trình giáo dục thế giới
quan duy vật biện chứng cho sinh viên.
- Làm rõ thực trạng, những vấn đề đặt ra trong quá trình giáo dục thế giới quan
duy vật biện chứng và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng và
hiệu quả quá trình này cho sinh viên Tây Nguyên.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thực trạng và bước đầu đưa ra một số giải pháp chủ yếu để
nâng cao chất lượng, hiệu quả nhằm giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh
viên ở Tây Nguyên hiện nay.

4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng
cho sinh viên các trường Đại học, Cao Đẳng ở Tây Nguyên trong giai đoạn 10 năm
gần đây (2000 - 2009) từ góc độ triết học.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Từ các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện
của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lĩnh vực giáo dục thế giới quan, nhận thức luận…cho
thế hệ trẻ và sinh viên, tác giả kế thừa những thành tựu lý luận của các tác giả về những vấn
đề có liên quan đến đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử,

này sẽ hình thành ở con người những
quan điểm, quan niệm nhất định về thế giới, về
vị trí con người trong thế giới ấy. Đó là cơ sở để hình thành thế giới quan của con
người.
Thế giới quan xuất hiện từ thời nguyên thuỷ, song với tư cách là một khái niệm
khoa học thì được nghiên cứu và xuất hiện vào thế kỷ XVIII, do Kant - nhà triết học cổ
điển Đức nêu ra. Các nhà triết học người Đức nửa đầu thế kỷ XIX và các nhà triết học
sau này đã tiếp tục sử dụng khái niệm trên trong các học thuyết của mình. Tiếp nối
truyền thống đó, C.Mác và Ph.Ăngghen, đã kế thừa và phát triển thành một thế giới
quan khoa học trên lập trường duy vật biện chứng.
Khái niệm thế giới quan hiện nay đã được nhiều nhà khoa học đương đại nghiên
cứu và tiếp cận ở nhiều cấp độ và đưa ra các định nghĩa khác nhau. Trong Từ điển Triết
học, các nhà khoa học Liên Xô đưa ra định nghĩa thế giới quan là: “toàn bộ những
nguyên tắc, quan điểm và niềm tin quy định hướng hoạt động và quan hệ của từng
người, của tập đoàn xã hội, của một giai cấp hay xã hội nói chung đối với thực tại”[56,
tr.539].

Theo một tác giả khác, thế giới quan là “một hệ thống nhất định những lời giải
đáp những vấn đề cội nguồn của thế giới và nguồn gốc của tri thức, về vị trí của con
người trong thế giới, về ý nghĩa của cuộc sống và đặc trưng của tiến bộ xã hội”[25,
tr.42].
Hay một quan niệm khác:
Thế giới quan là hệ thống những quan điểm của một chủ thể về thế giới,
về những hiện tượng về tự nhiên và xã hội và các quy luật phát triển của
chúng, về bản thân con người, về vị trí, vai trò của con người trước thế giới.
Nói một cách khác, thế giới quan là phản ánh tồn tại vật chất và xã hội của
con người [53, tr.10].
Từ những quan điểm về thế giới quan ở trên chúng tôi quan niệm rằng: Thế
giới quan là hệ thống những quan điểm của một người hoặc một tập đoàn người,
một giai cấp hay toàn xã hội về thế giới và về vị trí, vai trò của con người trong thế

đại diện cho lợi ích của toàn xã hội”. Thế giới quan xã hội do các nhà tư tưởng, các nhà
lý luận xây dựng nên, nó có thể khoa học, có thể không khoa học. Điều này phải được
thực tiễn kiểm nghiệm, chứng minh là khoa học hay không.
Về kết cấu (cấu trúc) của thế giới quan thường bao gồm những yếu tố sau:
- Tri thức: cũng giống như mọi ý thức xã hội, thế giới quan bao gồm những tri
thức về tự nhiên, xã hội và con người nhưng không phải mọi tri thức đều là tri thức về
thế giới quan. Mà chỉ là những tri thức nào biểu thị quan điểm chung về tồn tại và về
nhận thức mới là những tri thức về thế giới quan. Trong nội dung tri thức về thế giới
quan thì những tri thức triết học đóng vai trò nền tảng của mọi thế giới quan ở các giai
đoạn phát triển của nó.
- Niềm tin: niềm tin là một động lực thúc đẩy khát vọng nhận thức và cải tạo hiện
thực của con người, nó được phát triển trên cơ sở tri thức. Niềm tin là một trạng thái
tâm lý, tinh thần đặc biệt, nó có vai trò to lớn trong hoạt động của con người. Nếu
con người làm một việc gì đó, mà không có niềm tin vào sự đúng đắn của tri thức,
của tư tưởng thì con người sẽ bị tước mất những rung động ý chí, khát vọng, nghị
lực, lòng nhiệt tình, sự cổ vũ cần thiết đối với công việc, đặc biệt là đối với những

công việc xã hội rộng lớn. Niềm tin giúp con người có nghị lực để có thể vượt qua
được những giây phút hiểm nghèo và dám hy sinh vì những mục đích cao cả. Như
vậy, niềm tin được xác lập trên cơ sở của tri thức khoa học sẽ thúc đẩy sự tiến bộ của
xã hội.
- Lý tưởng: đó là sự kết hợp niềm tin và tri thức vào một tiêu chí, hình mẫu, sự
hoàn thiện, mục tiêu tối cao của ý nguyện và hoạt động thực tiễn, mô hình tuyệt vời
trong thực tế đối với một cá nhân, một nhóm người hay một xã hội. Lý tưởng giúp con
người định hình được cuộc sống, sống có mục đích, có khát vọng.
Như vậy, trong ba yếu tố cấu thành thế giới quan, tri thức là cơ sở trực tiếp cho
sự hình thành thế giới quan, nhưng tri thức chỉ gia nhập vào thế giới quan khi đã trở
thành niềm tin của con người qua sự thể nghiệm lâu dài trong cuộc sống của họ và sự
hình thành lý tưởng là sự phát triển ở trình độ cao của thế giới quan.
Trong lịch sử phát triển của xã hội, thế giới quan được thể hiện dưới nhiều hình

nó đòi hỏi kiểm nghiệm những hoài nghi; các vị doạ dẫm, triết học an ủi. Và,
thật thế, triết học biết cuộc sống khá đầy đủ để hiểu rằng những kết luận của
nó không bao dung sự khao khát hưởng lạc và lòng vị kỷ - của cả thiên giới
lẫn thế giới trần tục [32, tr.416].
Có thể chia thế giới quan triết học thành thế quan duy vật và thế giới quan duy
tâm.
Thế giới quan duy tâm thừa nhận bản chất của thế giới là tinh thần, vai trò quyết
định của các yếu tố tinh thần đối với thế giới nói chung, bao gồm tự nhiên, xã hội và
con người. Thế giới quan duy tâm bao gồm thế giới quan duy tâm khách quan và thế
giới quan duy tâm chủ quan. Thế giới quan duy tâm khách quan coi cơ sở của thế giới
vật chất là thế giới tinh thần đã có trước và sinh ra thế giới các sự vật, hiện tượng. Còn
thế giới quan duy tâm chủ quan thì tuyệt đối hoá vai trò của cảm giác, coi nó là cơ sở để
tạo nên mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới.
Thế giới quan duy vật thừa nhận bản chất thế giới là vật chất, thừa nhận vai trò
quyết định của vật chất đối với các biểu hiện của đời sống tinh thần và thừa nhận vị trí

của con người trong cuộc sống hiện thực. Thế giới quan duy vật gồm thế giới quan duy
vật thời cổ đại, thế giới quan siêu hình và đỉnh cao là thế giới quan duy vật biện chứng.
Như vậy, thế giới quan triết học là thế giới quan có trình độ cao nhất trong các
nấc thang của thế giới quan. Bởi tri thức triết học mang tính khái quát cao và triết học là
hệ thống những quan điểm chung nhất của con người về thế giới và về vị trí vai trò của
con người trong thế giới đó.
1.1.2. Thế giới quan duy vật biện chứng
Thế giới quan duy vật biện chứng là đỉnh cao của thế giới quan triết học và cũng
là đỉnh cao của thế giới quan đã có trong lịch sử. Có thể khẳng định rằng: Thế giới quan
duy vật biện chứng là hệ thống những quan niệm khoa học chung nhất về tự nhiên, xã
hội và con người cùng những định hướng giá trị của con người mang giá trị hiện thực
trong mối quan hệ, vận động, biến đổi và phát triển.
Thế giới quan duy vật biện chứng là thế giới quan của giai cấp công nhân, đó là thế
giới quan có sự thống nhất giữa tính cách mạng và tính khoa học.

cách giản đơn lên nó mà điều quan trọng là phản ánh trong quá trình con người cải tạo,
biến đổi hiện thực. Đây là quan hệ tác động hai chiều trên cơ sở thực tiễn. Cái vật chất
muốn được “di chuyển và cải biến trong bộ óc” phải thông qua hoạt động thực tiễn. Trái
lại, ý thức muốn tác động vào thế giới vật chất để làm biến đổi nó thì cũng phải thông
qua hoạt động thực tiễn. Nhờ có hoạt động thực tiễn mới biến những chương trình, kế
hoạch của con người thành hiện thực vật chất. Bằng hoạt động thực tiễn con người cải
biến sự vật trong hiện thực, từ đó cải biến sự vật trong tư tưởng. Như vậy, thực tiễn trở
thành khâu trung gian giữa cái vật chất và cái tinh thần.
- Triết học Mác - Lênin là sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương
pháp biện chứng. Bởi triết học trước Mác, chủ nghĩa duy vật thường tách rời phép
biện chứng. Điều này thể hiện rõ nhất ở chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII. Mặt
khác, phép biện chứng lại được chủ nghĩa duy tâm phát triển, nhất là trong triết học
Hêghen. Vì vậy để xây dựng triết học duy vật biện chứng, Mác đã phải cải tạo chủ
nghĩa duy vật cũ và phép biện chứng duy tâm, từ đó tạo nên sự thống nhất hữu cơ
giữa thế giới quan và phương pháp luận, giữa lý luận và phương pháp, giữa thế giới

quan duy vật và phương pháp biện chứng. Như vậy, chủ nghĩa duy vật mác-xít là chủ
nghĩa duy vật biện chứng, còn phép biện chứng mác-xít là phép biện chứng duy vật.
- Triết học Mác - Lênin là chủ nghĩa duy vật triệt để. Bởi thiếu sót lớn nhất của
chủ nghĩa duy vật trước Mác là tính chất duy vật không triệt để, tức duy vật trong tự
nhiên nhưng lại duy tâm trong xã hội. Khi nghiên cứu và phát triển chủ nghĩa duy vật,
Mác đã mở rộng học thuyết nhận thức tự nhiên đến nhận thức xã hội loài người, và ông
đã khắc phục được thiếu sót trên, làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để, sáng tạo ra
chủ nghĩa duy vật lịch sử là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học. Với quan niệm
duy vật về lịch sử của Mác, loài người tiến bộ đã có một công cụ vĩ đại trong hoạt động
nhận thức và cải tạo thế giới.
- Triết học Mác - Lênin là thế giới quan của giai cấp công nhân, nhưng lợi ích
của giai cấp công nhân lại phù hợp với lợi ích của nhân dân lao động. Cho nên sự ra đời
của triết học Mác, lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân lao động có được một thế giới
quan thực sự của mình. Đó là thế giới quan cách mạng và khoa học, là vũ khí tư tưởng

lý tưởng. Sống có lý tưởng, có hoài bão ước mơ, con người sẽ nhân đôi ý nghĩa cuộc
sống của chính mình, giúp con người vươn lên làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm
chủ bản thân.
1.2. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC THẾ GIỚI QUAN DUY
VẬT BIỆN CHỨNG CHO SINH VIÊN Ở TÂY NGUYÊN HIỆN NAY
1.2.1. Sự cần thiết phải giáo dục giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng
cho sinh viên
Sinh viên hay còn gọi là “thanh niên sinh viên”, là thuật ngữ dùng để chỉ những
người đang học tập tại các trường Đại học, Cao Đẳng. Độ tuổi trung bình từ 18 đến 25.
Việc xác định độ tuổi của sinh viên được các nhà khoa học thống nhất lấy mốc bắt đầu
từ sau tuổi phổ thông trung học và kết thúc vào khoảng 25 tuổi, vì ở độ tuổi này con
người đã hoàn thành sự phát triển về thể chất.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đặc biệt quan tâm đến thế hệ này
và đánh giá rất cao vai trò, vị trí của họ trong sự nghiệp cách mạng. C.Mác cho rằng:

thanh niên là cội nguồn sức sống của dân tộc, còn Ph.Ăngghen đề xuất tư tưởng: thanh
niên không thể đứng ngoài chính trị, chính hiện thực của đời sống đã, đang và sẽ cuốn
hút lớp trẻ vào đời sống chính trị. Ông nhấn mạnh rằng, thanh niên không bao giờ thoả
mãn với lý tưởng trước đây, họ muốn được tự do hơn trong hành động, họ khao khát lập
chiến công và vì sự đổi mới, họ sẵn sàng hiến dâng cả máu và cuộc đời mình. Thanh
niên sẽ có đủ sức lực và tài năng để giải quyết những mâu thuẫn đang nảy sinh trong đời
sống của đất nước. Phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin cho rằng:
“Thanh niên là nguồn sinh lực chiến đấu của cách mạng”.
Khi khẳng định vị trí, vai trò của thanh niên, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác -
Lênin đã chú ý rất nhiều đến nhiệm vụ giáo dục thanh niên, coi đó là biện pháp hàng
đầu để đào tạo con người mới với tư cách là chủ thể sáng tạo có ý thức của xã hội mới -
xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
Những quan điểm của C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I.Lênin về vị trí, vai trò của
thanh niên là yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc hình thành những quan điểm của Hồ
Chí Minh về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong xã hội có giai cấp, giáo dục cũng mang tính giai cấp nhằm đào tạo ra lớp
người phục vụ và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị xã hội và của chế độ xã hội mà họ
xây dựng. Tính giai cấp được bộc lộ rất đa dạng trong nền giáo dục của mỗi quốc gia
khác nhau, mỗi chế độ khác nhau.
Giáo dục theo quan điểm phong kiến nhằm đào tạo ra những con người trung
hiếu. Còn giáo dục theo quan điểm tư bản chủ nghĩa nhằm tạo ra con người thạo việc và
tích cực, những nhà buôn, những nhà công nghiệp để phục vụ lợi ích cho giai cấp tư
sản… Giáo dục theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm tạo ra những con
người phát triển toàn diện: “Biết thấm nhuần tổng số những kiến thức của nhân loại mà
chủ nghĩa cộng sản là kết quả bởi vì tương lai của loài người hoàn toàn phụ thuộc vào
việc giáo dục thế hệ công nhân đang lớn lên”[33, tr.262].
Ở nước ta, giáo dục trước hết là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, trách nhiệm
của các ngành và mọi người trong xã hội. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con
người xã hội chủ nghĩa. Đó là những con người được phát triển toàn diện, có phẩm chất

chính trị, đạo đức, tri thức khoa học, có năng lực tư duy lý luận, có một nền học vấn
hiện đại. V.I.Lênin từng nhấn mạnh: “Họ phải hiểu rằng, điều đó chỉ có thể thực hiện
được trên cơ sở một nền học vấn hiện đại, và họ không có nền học vấn đó thì chủ nghĩa
cộng sản chỉ là một nguyện vọng mà thôi”[29, tr.175].
Giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng nhằm làm cho sinh viên nắm được
những nội dung cơ bản của thế giới quan duy vật biện chứng và hướng cho sinh viên
vận dụng lý luận đó vào thực tiễn một cách sáng tạo. Từ đó, sinh viên sẽ phát triển nhân
cách một cách hài hoà: biết lĩnh hội tri thức đã học, biết biến tri thức đó thành niềm tin
và lý tưởng cao cả của mình, tức là vận dụng tri thức đó vào cải tạo hiện thực.
Bản chất của giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng là quá trình tác động
đồng bộ, tích cực, có định hướng, có kế hoạch vào ý thức của sinh viên, nâng cao khả
năng nhận thức, năng lực tư duy và hướng dẫn sinh viên hoạt động thực tiễn theo một
chương trình, mục tiêu cụ thể xác định nào đó. Như vậy, giáo dục thế giới quan duy vật
biện chứng là một bộ phận của giáo dục xã hội nhằm phát triển con người toàn diện.
Con đường trực tiếp, năng động và sáng tạo nhất để hình thành thế giới quan

những vận động, biến đổi của những điều kiện kinh tế. Vì vậy, những kiến thức về lịch
sử, xã hội học, chính trị học… cũng đều là cơ sở để hình thành thế giới quan duy vật.
Tri thức triết học: trong việc xây dựng thế giới quan cho con người, triết học
luôn giữ vai trò chủ đạo, với tư cách là kinh nghiệm hàng thế kỷ trong việc suy tư một
cách có phê phán - phản tư về những vấn đề định hướng cuộc sống của từng người cũng
như của toàn thể loài người. Các nhà triết học dù ở thời đại nào cũng đều cố gắng làm rõ
những vấn đề tồn tại của con người, đặt ra và giải quyết những câu hỏi như: con người
là gì? Nó có hy vọng và định hướng vào cái gì? Có thể nói, tri thức triết học là hạt
nhân của thế giới quan. Triết học Mác - Lênin là sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, là toàn bộ những quan điểm của con người về
thế giới, nghiên cứu vị trí của con người trong vũ trụ nói chung và trong xã hội nói
riêng. Đó chính là cơ sở để con người nhìn nhận thế giới một cách toàn diện, cung cấp
cho con người những tri thức tổng hợp, khái quát về thế giới.

Thứ hai, giáo dục hệ thống niềm tin vào chân lý những giá trị xã hội nhân đạo.
Đó là giáo dục cho sinh viên niềm tin vào tính chất của thời đại, vào tính tất yếu của chế
độ xã hội chủ nghĩa, vào sự giải phóng con người và xã hội loài người trong tương lai.
Tin vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và cuối
cùng là tin vào chính bản thân mình. Bởi vì, giáo dục niềm tin khoa học, nhất là quan
điểm và niềm tin triết học Mác - Lênin tạo nên nền tảng- hạt nhân của toàn bộ thế giới
quan duy vật biện chứng. Nó giúp cho sinh viên nhận thức được quy luật chung nhất
của thế giới, hiểu được bản chất của con người, sự năng động sáng tạo của ý thức của
con người trong việc cải tạo thế giới, khả năng của con người tác động trở lại hoàn cảnh
trên nhiều phương diện như hoạt động thực tiễn, quan hệ ứng xử, sự phát triển của
phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy…Từ đó giúp sinh viên từng bước có niềm tin vào
chính bản thân mình trong học tập, rèn luyện, hình thành những phẩm chất nhân ái, vượt
khó, tin vào những giá trị tốt đẹp của con người.
Thứ ba, giáo dục lý tưởng sống cao đẹp, tiến bộ và tích cực, sẵn sàng hành động
vì lý tưởng đó. Lý tưởng sống cao đẹp của sinh viên ngày nay là độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội, là học tập, rèn luyện vì ngày mai lập thân, lập nghiệp, vì tương lai của bản

mới đi đến khẳng định chắc chắn rằng: chủ nghĩa tư bản nhất định bị phủ định bởi chủ
nghĩa xã hội là xu thế tất yếu của lịch sử xã hội loài người.
Thứ hai, nguyên tắc khách quan. Đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong việc giáo
dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên. Việc phản ánh một cách khách quan,
trung thực như tự nó có; nhìn thẳng vào sự thật với những thành tựu và thiếu sót, khuyết
điểm, cả những thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức trong chặng đường đầu của
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta sẽ là việc làm có ý nghĩa quan trọng cho việc
hoạt động thực tiễn của lớp trẻ nhất là sinh viên, phát huy những ưu điểm, khắc phục những
hạn chế, khó khăn, tranh thủ thời cơ vượt qua trở ngại để vươn lên trong học tập và cuộc
sống.
Sinh viên là những người có trình độ học vấn cao, do đó trong giáo dục nói
chung, giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng nói riêng không thể dùng cách nói vòng
vo để che đậy những khuyết điểm, sai lầm mà chúng ta đã mắc phải. Nếu sự không trung

thực bị phát hiện thì sự phản kháng và sự hoài nghi trong sinh viên sẽ diễn ra vô cùng phức
tạp, nó sẽ tác động tiêu cực tới công tác giáo dục tư tưởng, chính trị. Việc phản ánh, đánh
giá khách quan những vấn đề chính trị - xã hội của đất nước sẽ giúp cho sinh viên hiểu rõ
hơn vai trò, trách nhiệm của mình đối với cộng đồng, dân tộc từ đó xác định mục tiêu phấn
đấu cho mình một cách đúng đắn, hình thành một thế giới quan khoa học.
Thứ ba, nguyên tắc lịch sử - cụ thể. Trong giáo dục nguyên tắc lịch sử - cụ thể là
một nguyên tắc rất quan trọng, phép biện chứng duy vật đã chỉ rõ mỗi sự vật, hiện tượng
đều tồn tại trong không gian và thời gian xác định, đồng thời nó không tách khỏi với sự
ràng buộc của thế giới xung quanh. Bản thân hoàn cảnh ra đời và tồn tại quyết định bản
chất của sự vật, quy định sự vận động và biến đổi của nó. Thực chất quan điểm này yêu
cầu khi xem xét bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào cũng phải tính đến điều kiện ra đời,
tồn tại và biến đổi của chính nó. Do đó, khi giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng
cho sinh viên ở Tây Nguyên, ngoài các chuẩn mực chung cần phải chú ý đến những đặc
điểm đặc thù của khu vực Tây Nguyên.
Thứ tư, nguyên tắc thực tiễn. Đây là nguyên tắc có tính quyết định trong việc
hiện thực hoá thế giới quan duy vật biện chứng. Hoạt động giáo dục tư tưởng sẽ không

Một là, giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng góp phần xây dựng niềm tin,
lý tưởng sống cao đẹp cho sinh viên
Giáo dục cho sinh viên nắm vững những nguyên tắc phương pháp luận được
rút ra từ thế giới quan khoa học, giúp họ nhận thức đúng đắn hiện thực khách quan
của thời đại của đất nước, với tất cả những mối quan hệ giai cấp, dân tộc. Trong thế
giới quan duy vật biện chứng mà triết học (bao gồm cả chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử) cùng với các khoa học khác đã khẳng định sự phát triển
của lịch sử xã hội loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên với những quy luật
nhất định của nó. Từ đó, nó luận chứng về sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản
và sự ra đời của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Vì vậy, khi sinh viên được
thấm nhuần sâu sắc thế giới quan duy vật biện chứng, sẽ tạo ra ở họ niềm tin về sự

thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và họ sẽ hành động vì lý tưởng cao đẹp đó - lý tưởng
xã hội chủ nghĩa.
Hai là, giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng góp phần xây dựng phẩm chất
đạo đức và lối sống lành mạnh
Giáo dục đạo đức cho sinh viên ngày nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong
công tác giáo dục đào tạo ở các trường Đại học, Cao Đẳng, bởi vì nó là cơ sở nền tảng
hình thành con người mới, những lực lượng quan trọng trong sự nghiệp thực hiện thắng
lợi công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong khi ấy trên thực tế đã xuất hiện một
bộ phận không nhỏ sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở Tây Nguyên, có lối sống
thực dụng, suy thoái đạo đức. Trước thực trạng đó, thì việc xây dựng phẩm chất đạo đức
và lối sống lành mạnh cho sinh viên ở Tây Nguyên hiện nay là một trong những vấn đề
cấp bách. Nhưng vấn đề là làm thế nào để xây dựng phẩm chất đạo đức và lối sống lành
mạnh cho sinh viên trong điều kiện khó khăn, những tác động khách quan của cơ chế thị
trường và các thế lực thù địch đang thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, chống chủ
nghĩa xã hội ở nước ta. Trong thời gian qua, chúng đã tìm mọi cách gieo rắc trong sinh
viên lối sống thực dụng, ích kỷ, chủ nghĩa cá nhân, sùng bái đồng tiền. Vì vậy, vấn đề
cốt lõi hiện nay là phải trang bị cho sinh viên thế giới quan duy vật biện chứng một cách
toàn diện và vững chắc, khi đó sẽ hình thành ở sinh viên nhân sinh quan cộng sản chủ

lối, chính sách của Đảng, họ sẽ có khả năng khắc phục được những sai lầm trong nhận
thức, chống lại những tư tưởng phản khoa học và cách mạng, chống lại thế giới quan
duy tâm, tôn giáo.
Như vậy, giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng cho sinh viên ngày nay để
bản thân họ có một thế giới quan khoa học, hình thành ở họ một phương pháp luận khoa
học để giúp họ tránh khỏi những vấp váp, sai lầm trong suy nghĩ và hành động.
Bốn là, giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng giúp sinh viên có phương
pháp nhận thức và hành động đúng đắn, trở thành những người có ích cho xã hội, thực
sự là những người chủ tương lai của công cuộc xây dựng đất nước ta ngày càng to đẹp,
hùng cường hơn.

Trích đoạn Những “tình huống có vấn đề” trong mối quan hệ nhà trường và xã hội khi giáo dục thế giới quan Vấn đề con người: Đội ngũ giảng viên giảng dạy các môn khoa học Mác Lênin và cán bộ làm công tác Đoàn thanh niên, Hội sinh viên còn nhiều bất Tạo môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho sinh viên Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ giảng dạy đặc biệt là đội ngũ cán bộ giảng dạy các môn khoa học Mác Lênin Đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác Lênin
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status