Header Page 1 of 126.
LUẬN VĂN:
Vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện
chứng cho học viên trường chính trị Hà Nam
hiện nay
Footer Page 1 of 126.
Header Page 2 of 126.
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới quan khoa học là cơ sở cho việc hoạch định đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng và định hướng đúng đắn cho hoạt động thực tiễn. Hay nói cách
khác, thế giới quan khoa học có vai trò quan trọng trong nhận thức và cải tạo thực tiễn.
Do đó, việc giáo dục, bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng - thế giới quan khoa
học cho đội ngũ cán bộ của Đảng không chỉ là việc làm thường xuyên, lâu dài mà còn là
vấn đề cấp thiết trong công cuộc đổi mới hiện nay của nước ta.
Trước diễn biến đa dạng phức tạp trên thế giới và trong nước đòi hỏi người cán
bộ phải có bản lĩnh chính trị, tri thức khoa học vững vàng để nhận thức và hoạt động
đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan của đất nước và xu thế của thời đại.
Hà Nam là một tỉnh nằm phía Nam của Thủ đô Hà Nội, chủ yếu dọc hai bên
đường quốc lộ 1A, mới được tái lập tháng 1/1997, có vị trí chiến lược an ninh - quốc
phòng, có điều kiện địa - chính trị thuận lợi. Song, trong những năm qua, tốc độ phát
triển kinh tế - xã hội, văn hóa chưa thật tương xứng với tiềm năng vốn có của nó.
Trường Chính trị Hà Nam là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong hệ thống
chính trị từ tỉnh đến cơ sở (trừ cán bộ chủ chốt cấp huyện và cấp tỉnh). ở đó, cán bộ có
- Trần Thanh Hà: "Vấn đề giáo dục thế giới quan khoa học cho cán bộ, đảng viên
người dân tộc Khơmer ở đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn cách mạng hiện
nay", Luận án Thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1993.
- Trần Phước: "Sự hình thành thế giới quan xã hội chủ nghĩa ở tầng lớp trí thức
Việt Nam", Luận án PTS triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1993.
- Trần Viết Quân: "Bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp huyện ở Tây Nguyên", Luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh, 2002.
Các tác giả trên đã đề cập đến một số vấn đề cơ bản như sau:
Footer Page 3 of 126.
Header Page 4 of 126.
+ Khái niệm thế giới quan nói chung và thế giới quan duy vật biện chứng nói
riêng, vấn đề cấu trúc, vai trò của chúng.
+ Tầm quan trọng và tính tất yếu của việc giáo dục bồi dưỡng thế giới quan duy
vật biện chứng cho các đối tượng như sinh viên, cán bộ nói chung trong công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội.
+ Nêu ra những nhân tố cơ bản trong việc hình thành, tác động phát triển thế giới
quan duy vật biện chứng.
+ Từ đó, tác giả đưa ra một số những phương hướng chung và các giải pháp cụ
thể cho mỗi đối tượng nghiên cứu trên cơ sở đòi hỏi của thực tiễn trong mỗi giai đoạn
nhất định.
Tuy nhiên về " Vấn đề bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng cho học
viên trường chính trị Hà Nam hiện nay " chưa có tác giả nào nghiên cứu. Dựa trên
thực tế giáo dục, bồi dưỡng thế giới quan Mác - Lênin của Trường Chính trị Hà Nam trong
những năm qua cho đội ngũ cán bộ trong tỉnh và thông qua việc giảng dạy môn triết học,
Đảng, Nghị quyết trung ương, các tài liệu của các cấp ủy Đảng và chính quyền ở tỉnh và
Trường Chính trị Hà Nam.
- Luận văn sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử, kết hợp lịch sử và lôgíc, điều tra xã hội học…
6. Đóng góp của luận văn
Làm rõ thực trạng thế giới quan của cán bộ tỉnh Hà Nam trên cơ sở đó đề ra một
số giải pháp chủ yếu để củng cố và nâng cao thế giới quan duy vật biện chứng cho đội
ngũ cán bộ này.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch định chiến lược, kế
hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ ở tỉnh Hà Nam.
- Luận văn cũng có thể làm tài liệu tham khảo nghiên cứu giảng dạy và học tập ở
trường chính trị nói chung và Trường Chính trị Hà Nam nói riêng.
văn
Footer Page 5 of 126.
7. Kết cấu của luận
Header Page 6 of 126.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
gồm 2 chương, 5 tiết.
Footer Page 6 of 126.
Header Page 7 of 126.
Thứ nhất: Thế giới quan là một nhân tố của ý thức cá nhân, giữ vai trò chỉ dẫn
cách thức tư duy và hành động của cá nhân, đó là thế giới quan cá nhân. Thế giới quan cá
nhân thường là sự tích lũy và thu thập kinh nghiệm sống của mọi người. Nó nằm trong
suy nghĩ và hành vi của họ mà chính họ cũng không biết rằng cái được gọi là kinh
nghiệm sống hay sự hiểu biết về bức tranh chung của thế giới đó là thế giới quan cá nhân.
Nó chính là mức độ thấp trong nhận thức thế giới. Tuy nhiên, không nên đánh giá thấp
tác dụng của nó với tính cách là một nhân tố điều chỉnh hành động của con người. Tác
động của giáo dục, ảnh hưởng của truyền thống, của các quan hệ xã hội, các điều kiện và
hoàn cảnh môi trường sống là nhân tố quan trọng hình thành các quan điểm và nguyên
tắc thế giới quan cá nhân.
Thứ hai: Thế giới quan là sự thể hiện dưới hình thức lý luận khái quát hóa các
quan điểm và hoạt động của một nhóm xã hội, một giai cấp hay toàn xã hội. Đó là thế
giới quan xã hội. Các nhà triết học, kinh tế học, xã hội học hay các nhà tư tưởng, chính
trị... luôn suy nghĩ, cân nhắc để xây dựng thế giới quan xã hội. Nhiệm vụ của họ là phải
làm thế nào để thể hiện một cách đầy đủ nhất những nguyên lý tư tưởng lý luận, nguyên
lý triết học nhằm chỉ dẫn suy nghĩ và hành động của con người, của một nhóm xã hội,
một giai cấp hay toàn xã hội.
Hai loại thế giới quan trên luôn nằm trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau.
Mỗi cá nhân đều luôn mong muốn làm phong phú tri thức của mình bằng cách tiếp nhận
những lý luận chung để làm sáng tỏ vị trí của mình trong thế giới, trong đời sống xã hội.
Ngược lại, những quan điểm thế giới quan xã hội, lý luận chung ấy trở thành một bộ phận
trong ý thức và niềm tin của các cá nhân, thẩm thấu vào ý thức cá nhân, được hình thành
một cách tự phát rồi tác động và chỉ dẫn nó.
Dù ở trình độ phát triển nào các quan điểm về thế giới quan cũng đều mang tính
khái quát. Thế giới quan là sự phản ảnh chủ quan những điều kiện sinh hoạt vật chất của
con người. Tuy nhiên, thế giới quan không chỉ dừng lại ở sự phản ánh thụ động đó, mà
nó còn là nhân tố tích cực của con người, sự thông thái về cuộc sống để chỉ dẫn cho nhận
thức lẫn hành động của con người. Bởi vì, chính hành vi và hoạt động của con người đã
Footer Page 8 of 126.
người.
Về cấu trúc của thế giới quan bao gồm một số nhân tố cơ bản sau đây:
Footer Page 9 of 126.
Header Page 10 of 126.
Tri thức:
Cũng giống ở mọi ý thức xã hội, thế giới quan bao gồm những tri thức về tự
nhiên, xã hội, con người. Những tri thức mang tính khái quát về các hiện tượng tự nhiên,
về mối quan hệ nền tảng, bản chất của tự nhiên, tạo thành quan điểm về tự nhiên của thế
giới quan. Các tri thức tự nhiên đó quy định lập trường của con người trong thế giới, chỉ
rõ người theo chủ nghĩa vô thần hay duy tâm, tôn giáo; biện chứng hay siêu hình.
Những tri thức về cuộc sống của con người, về sự phát triển xã hội, về quan hệ
của con người đối với xã hội tạo thành quan điểm xã hội của thế giới quan.
Những tri thức hệ thống khái quát về bản chất của quá trình hoạt động nhận thức
của con người tạo thành quan điểm nhận thức luận của thế giới quan.
Rõ ràng, việc xác định bản chất của thế giới quan cần dựa trên phương diện bản
thể luận lẫn phương diện nhận thức luận. Tri thức là điều kiện cần thiết cơ bản cho việc
hình thành thế giới quan, nhưng không phải bất kỳ tri thức nào về tự nhiên, xã hội, về con
người đều là tri thức thế giới quan. Chỉ có những tri thức biểu thị quan điểm chung về tồn
tại và về nhận thức mới là những tri thức của thế giới quan.
Trong nội dung tri thức của thế giới quan, các quan điểm của triết học đóng vai
trò là nền tảng của mọi thế giới quan ở các giai đoạn phát triển của nó vì triết học phản
ánh các quan điểm chung nhất về thế giới.
Niềm tin:
Niềm tin là một trạng thái tâm lý, tinh thần đặc biệt được phát triển trên cơ sở của
tri thức. Nó là động lực thúc đẩy khát vọng nhận thức và cải tạo hiện thực của con người.
Niềm tin là những tư tưởng chi phối chặt chẽ tư tưởng, chỉ dẫn hành động của
Như trên đã trình bày, thế giới quan đã chỉ ra mối quan hệ giữa con người với thế
giới, cái chủ quan và cái khách quan đã bao hàm trong mình vấn đề cơ bản của triết học,
thậm chí vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề chính trong kết cấu của thế giới quan.
Nhưng xét về mặt lịch sử, thế giới quan ra đời sớm hơn triết học. Nó ra đời trong thời kỳ
bộ tộc, trên cơ sở sự phản ánh hoang đường về thực tế. Và hình thức thế giới quan đầu
tiên ấy gọi là thế giới quan thần thoại. Còn triết học là khoa học chỉ xuất hiện khi có sự
tách lao động trí óc ra khỏi lao động chân tay, gắn liền với sự ra đời của chế độ chiếm
hữu nô lệ. Triết học là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới, về vị trí
của con người trong thế giới đó. Vì vậy, triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan
Footer Page 11 of 126.
Header Page 12 of 126.
làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh
nghiệm thực tiễn và tri thức do các nhà khoa học đem lại. Đó là chức năng thế giới quan
của triết học.
Trong những bước chuyển biến của đời sống xã hội của thực tiễn đặt ra đã kéo
theo sự tiến hóa của thế giới triết học, mà đỉnh cao nhất nó đạt được là thế giới duy vật
biện chứng.
Thế giới quan duy vật biện chứng là hệ thống chỉnh thể những tri thức về tự
nhiên, xã hội và con người. Nó được tạo thành trên cơ sở phê phán có chọn lọc những tư
tưởng tiến bộ của các trào lưu triết học từ sự khái quát kinh nghiệm lịch sử có những
thành tựu của khoa học.
Vai trò thế giới quan duy vật biện chứng trong thực tiễn cách mạng được quy
định bởi bản chất cách mạng của chính phép biện chứng duy vật. Vì vậy, thế giới quan
duy vật biện chứng là một loại thế giới quan mang tính khoa học và cách mạng triệt để
nhất. Nó không chỉ dừng lại ở việc lý giải về thế giới mà hơn thế nữa, trên cơ sở sự lý
giải đúng, nó trở thành cái định hướng cho con người trong hành động, khẳng định vị trí
ương; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; huyện, quận; xã, phường, thị trấn. Nhưng
khi nói đến hết cơ cấu bộ máy chính quyền nhà nước thì được phân thành hai cấp: trung
ương và địa phương (về đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những người cán bộ lãnh
đạo, quản lý từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở, trừ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh và cán bộ chủ chốt cấp
huyện).
Theo cách hiểu thông thường và khá phổ biến ở nước ta hiện nay, khái niệm cán
bộ lãnh đạo còn gắn liền với khái niệm cán bộ quản lý, được hiểu là những người có chức
vụ và trách nhiệm điều hành, cầm đầu trong các cơ quan, các tổ chức sự nghiệp, kinh
doanh. Nội hàm cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý có những điểm giống nhau: Cả cán bộ
lãnh đạo và cán bộ quản lý đều là chủ thể ra quyết định, điều khiển hoạt động của một tổ
chức, người cán bộ lãnh đạo cũng phải thực hiện chức năng quản lý và người quản lý
cũng phải thực hiện chức năng lãnh đạo, nên khó có thể phân biệt một cách rạch ròi đâu
là người lãnh đạo và đâu là người quản lý.
Tuy nhiên, khái niệm lãnh đạo và quản lý không hoàn toàn thống nhất với nhau.
Trong quá trình lãnh đạo, hoạt động chủ yếu là định hướng cho khách thể thông qua hệ
thống cơ chế, đường lối, chủ trương, chính sách "làm thức tỉnh" hành vi của đối tượng,
định hướng hoạt động của đối tượng và xã hội. Trong Từ điển tiếng Việt ghi: "Lãnh đạo
Footer Page 13 of 126.
Header Page 14 of 126.
bằng đề ra đường lối chủ trương và tổ chức, động viên thực hiện" [39, tr. 720]. Còn hoạt
động quản lý mang tính chất điều khiển vận hành thông qua những thiết chế có tính pháp
lệnh, quy định từ trước.
ở cả hai cương vị, người cán bộ lãnh đạo và người cán bộ quản lý đều phải là người
giỏi nghiệp vụ chuyên môn, phải có đủ năng lực và phẩm chất để định hướng điều khiển
chỉ huy, tổ chức công việc và đoàn kết cộng đồng.
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, cán bộ phải là những người "có nhiều trí tuệ hơn
của đời sống xã hội, xây dựng chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch,
vững mạnh; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chăm lo đời sống vật chất và tinh
thần, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân... đến những công việc cụ thể của quá
trình lãnh đạo như: nắm bắt và cụ thể hóa các đường lối chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước cho phù hợp với tình hình thực tiễn ở từng địa phương, từng sở, ban ngành;
đề ra kế hoạch, lãnh đạo quản lý để mọi người thực hiện. Đồng thời, người lãnh đạo,
quản lý phải biết uốn nắn những sai lệch trong quá trình thực hiện thuộc phạm vi, quyền
hạn của mình, tổng kết phong trào, phản hồi lại các cơ quan đơn vị (nếu cần), đảm bảo sự
lãnh đạo thông suốt từ trung ương đến cơ sở.
Đặc biệt, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một
nội dung quan trọng, tất yếu khách quan của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, đang đặt ra nhiều thử thách, đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải có những phẩm chất, tri
thức mới đáp ứng nhiệm vụ cách mạng: từ việc thực hiện chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh
tế theo hướng công - nông nghiệp - dịch vụ hiện đại, tiếp thu và áp dụng phương thức quản
lý tiên tiến, thành tựu khoa học - công nghệ mới, kết hợp công nghệ truyền thống và công
nghệ hiện đại đến việc cải tạo và nâng cấp kết cấu hạ tầng, quy hoạch dân cư và vùng
lãnh thổ, phát triển công tác giáo dục, đào tạo...
Để có được những phẩm chất và năng lực đó, người cán bộ không những thông
qua hoạt động thực tiễn "lăn lộn" trong phong trào cách mạng đồng thời còn là kết quả
của công tác cán bộ của Đảng. Sự phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có thể tạo ra
những cán bộ giỏi có tài có đức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Đảng. Chủ tịch
Hồ Chí Minh khẳng định: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì nhất định phải có học
thức, cần phải học văn hóa, chính trị, kỹ thuật, cần phải học lý luận Mác - Lênin kết hợp
với đấu tranh công tác hàng ngày" [33, tr. 461].
Đào tạo, bồi dưỡng là khâu có ý nghĩa quyết định đến trình độ, chất lượng cán
bộ. Công việc này gồm nhiều hình thức khác nhau, nhưng trong đó việc đào tạo, bồi
dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng. Bởi vì, thế
Footer Page 16 of 126.
quyết những vấn đề chung, thì kẻ đó trên mỗi bước đi sẽ không sao tránh khỏi,
Footer Page 17 of 126.
Header Page 18 of 126.
vấp phải những vấn đề chung một cách không tự giác mà mù quáng vấp phải
những vấn đề đó trong từng trường hợp riêng, thì có nghĩa là đưa chính sách
của mình đến chỗ có những dao động tồi tệ nhất và mất tính nguyên tắc [25, tr.
427].
Thế giới quan duy vật biện chứng cũng nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội
ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý. Người cán bộ mà dừng lại ở tư duy kinh nghiệm, tuyệt đối
hóa tri thức kinh nghiệm sẽ rơi vào bệnh kinh nghiệm, như vậy sẽ không thể không rơi vào
thế giới quan duy vật và phương pháp tư duy siêu hình, tuyệt đối hóa cái cụ thể, cái đơn
nhất đem áp dụng nó vào cái phổ biến cái đa dạng, cái toàn thể. Chỉ có trên cơ sở trang bị
thế giới quan duy vật biện chứng, người cán bộ mới nâng cao được trình độ, năng lực tư
duy của mình từ kinh nghiệm phát triển lên lý luận khoa học, mới có đủ điều kiện đảm
bảo để khám phá, đi sâu vào bản chất sự vật, quy luật vận động phát triển của nó.
Đồng thời, nâng cao tư duy lý luận sẽ giúp người cán bộ quản lý tránh khỏi lúng
túng, bất lực, nắm bắt được tình hình nhanh chóng, ra được quyết định nhanh đúng và
trúng.
Trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay với những diễn biến phức tạp, khó khăn
và thuận lợi đan xen nhau, càng đòi hỏi không ngừng nâng cao trình độ lý luận, vận dụng
sáng tạo đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước vào thực tiễn, tình huống cụ thể.
Đồng thời, đòi hỏi người cán bộ phải nhạy bén, linh hoạt, tinh thần dám nghĩ dám làm,
đấu tranh với những hủ tục, lạc hậu tạo điều kiện cho cái mới, cái tiến bộ phát triển.
Thứ hai: Thế giới quan duy vật biện chứng giúp cho người cán bộ lãnh đạo,
quản lý có được niềm tin vào sự tất thắng của chủ nghĩa xã hội, tin vào đường lối chính
trị của Đảng, tin vào quần chúng nhân dân.
vào thoái trào, nhưng đó chỉ là sự khủng hoảng trong sự trưởng thành, nhất định loài
người vẫn tiến lên chủ nghĩa xã hội, đó là qui luật phù hợp với dòng chảy lịch sử.
Sự kiên định và phát triển con đường xã hội chủ nghĩa đã lựa chọn cùng với
những thành công trong công cuộc đổi mới, cải cách ở Việt Nam và Trung Quốc đã càng
củng cố lòng tin của nhân loại đối với tính ưu việt và trường tồn của chủ nghĩa xã hội.
Trong những thập kỷ gần đây, chủ nghĩa tư bản đã có những điều chỉnh nào đó, do cuộc
đấu tranh của nhân dân lao động, do phải tồn tại bên cạnh hệ thống xã hội chủ nghĩa hiện
thực, do tác động cuộc cách mạng khoa học, công nghệ... song xã hội đó vẫn không làm
Footer Page 19 of 126.
Header Page 20 of 126.
thay đổi cơ bản mối quan hệ giữa tư bản và lao động, giữa người bóc lột và người bị bóc
lột. ở đó, năng suất lao động càng cao thì bóc lột càng nhiều, đó là một sự thật hiển nhiên.
Việc thấm nhuần sâu sắc thế giới quan duy vật biện chứng sẽ giúp người cán bộ
nhận thức đúng bản chất của chủ nghĩa tư bản, các quy luật vận động khách quan của lịch
sử để có niềm tin vững chắc, lãnh đạo toàn dân đi lên chủ nghĩa xã hội.
Niềm tin tất thắng vào chủ nghĩa xã hội của người cán bộ lãnh đạo, quản lý được
biểu hiện ở sự tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng cộng sản. Tính khoa học và
cách mạng của thế giới quan duy vật biện chứng là cơ sở để hình thành và luận chứng
cho đường lối chính trị của Đảng. Từ đó người cán bộ lãnh đạo quản lý tiếp thu vạch ra
đường lối chiến lược và sách lược nhằm đạt mục đích là cải tạo thực hiện. Nó đối lập
hoàn toàn với bệnh bảo thủ, giáo điều, kinh viện…. Vì vậy, Mác viết: "Các nhà triết học
trước kia chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách hiểu khác nhau, song vấn đề là cải tạo
thế giới" [29, tr. 258].
Những thành tựu của sự nghiệp đổi mới gần 20 năm qua ở nước ta từng bước
nâng cao đời sống xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, làm cho con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta càng rõ hơn. Một trong những nguyên nhân của
trong thời gian qua giải quyết được nhiều vấn đề cụ thể, đơn giản đặc biệt là đối với đội
ngũ cán bộ cơ sở. Nhưng chỉ dừng lại ở tri thức kinh nghiệm thì sẽ lại khó tránh khỏi
lúng túng, bất lực thậm chí sai lầm khi giải quyết những vấn đề phức tạp trước yêu cầu
của thời kỳ mới. Muốn vậy, người cán bộ lãnh đạo, quản lý khi giải quyết công việc phối
kết hợp nhuần nhuyễn, hợp lý giữa kinh nghiệm với lý luận khoa học, phải nắm vững
nguyên lý, yêu cầu của thế giới khách quan, phải nắm bắt thực tiễn những vấn đề cần
tổng kết, phân tích, tổng hợp, chắt lọc những thông tin cơ bản, chủ yếu để đút rút ra bài
học kinh nghiệm kết hợp với tri thức lý luận khoa học nhằm giải quyết công việc có hiệu
quả. Đó là nhiệm vụ thường xuyên mà người cán bộ lãnh đạo quản lý cần làm. Chỉ trên
cơ sở thế giới quan duy vật biện chứng người cán bộ mới tổng kết thực tiễn đút rút kinh
nghiệm một cách khoa học, kịp thời phát hiện ra cái mới, cái tiến bộ và tạo điều kiện cho
chúng phát triển. Những kinh nghiệm được rút ra đó không chỉ phù hợp với thực tế khách
quan phong phú và đa dạng mà nó còn có tác dụng mạnh mẽ điều chỉnh bổ sung cho các
đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước nói chung và những chiến lược,
sách lược cho địa phương mình phụ trách nói riêng.
Footer Page 21 of 126.
Header Page 22 of 126.
Thứ tư: Thế giới quan duy vật biện chứng giúp cho người cán bộ lãnh đạo, quản
lý trau dồi và nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng.
Thế giới quan duy tâm và phản động phản ánh sau lệch hiện thực khách quan, bảo vệ
lợi ích giai cấp bóc lột và đánh lạc hướng nhằm ngăn cản nhân dân lao động đấu tranh tự
giải phóng mình. Ngược lại, thế giới quan duy vật biện chứng phản ánh đúng đắn hiện thực
khách quan và bảo vệ lợi ích căn bản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nó là
vũ khí lý luận sắc bén, là kim chỉ nam soi đường cho giai cấp công nhân lãnh đạo nhân
dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới đấu tranh giải phóng khỏi bị bóc lột và
nô dịch, tiến lên xây dựng một xã hội văn minh và nhân đạo hơn: Xã hội cộng sản chủ
Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư.
Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề đạo đức phải đặc biệt quan tâm, nhất là đối với
cán bộ, đảng viên. Chúng ta vui mừng trước những thành tựu đạt được trong công cuộc
đổi mới, tuy nhiên nền kinh tế thị trường, giao lưu mở cửa với bên ngoài thì mặt trái của
nó đang đặt ra những vấn đề đạo đức bức xúc, cần giải quyết. Nền văn minh hiện cũng
cần đạo đức tương ứng. Đạo đức ấy không tìm ở đâu khác, mà nền tảng của nó chính là là
học tập thế giới quan duy vật biện chứng và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đẩy lùi chủ
nghĩa cá nhân, bệnh kiêu ngạo, quan liêu, óc địa phương hẹp hòi, tham ô lãng phí, hiếu
danh, chạy theo đồng tiền, bất chấp nhân phẩm con người... phải có trách nhiệm với nhân
dân, với Tổ quốc, có như vậy mới được dân tin và lôi kéo họ vào sự nghiệp cách mạng.
Yêu cầu của thời kỳ mới ở nước ta đòi hỏi người cán bộ phải có phẩm chất đạo
đức và trình độ năng lực tương ứng. Việc giáo dục, bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện
chứng sẽ giúp cho người cán bộ tin tưởng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, tin
vào sự nghiệp lãnh đạo của Đảng, của giai cấp công nhân và sức mạnh của toàn dân, giúp
họ nâng cao năng lực nhận thức, hoạt động thực tiễn, đồng thời cũng hình thành ở họ
những phẩm chất đạo đức mới, nhằm thực hiện thắng lợi giai đoạn cách mạng mới đặt ra.
Muốn vậy, người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải học tập, nghiên cứu nguyên tắc, phương
pháp luận khoa học của thế giới quan duy vật biện chứng, đồng thời Đảng phải tăng
cường công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ.
1.2. Đặc điểm của thế giới quan của đội ngũ cán bộ tỉnh Hà Nam
1.2.1. Những nhân tố ảnh hưởng đến thế giới quan của đội ngũ cán bộ ở Hà
Nam
Footer Page 23 of 126.
Header Page 24 of 126.
1.2.1.1. ảnh hưởng của điều kiện địa lý, tự nhiên
Tự nhiên theo nghĩa rộng là toàn bộ thế giới vật chất khách quan. Xét về mặt tiến
Bên phía tả ngạn sông Đáy đến giáp sông Hồng là vùng đồng bằng, trong đó 2/3
diện tích là đồng chiêm trũng, có nơi chỉ cao 0,3 m so với mặt nước biển.
Do điều kiện tự nhiên được chia làm hai vùng rõ rệt như vậy, làm cho lối sống và
tư duy của người dân có sự khác biệt, không tương đồng. Sống giữa núi non hùng vĩ bao la,
với phương thức sản xuất lạc hậu, thiếu áp dụng của khoa học kỹ thuật làm cho lối sống
của người dân ở vùng núi giản đơn, mộc mạc, phóng khoáng cùng với lối suy nghĩ thần
bí, duy tâm, thiếu cơ sở khoa học. Còn đối với người dân sống ở đồng chiêm trũng với
phương thức sản xuất nhỏ manh mún, cuộc sống bon chen đã tạo ra ở họ lối sống vị kỷ, cục
bộ địa phương gắn với tư duy bảo thủ, trì trệ, tư tuy kinh nghiệm phát triển... tất cả những
điều đó đã tác động không nhỏ đến việc hình thành, phát triển của thế giới quan của
người dân Hà Nam từ ngày xưa cho đến ngày nay.
1.2.1.2. ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội
Theo quan điểm triết học Mác - Lênin, điều kiện địa lý và môi trường tự nhiên mới
chỉ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến đời sống con người, còn yếu tố cơ bản quyết định là
phương thức sản xuất, hoạt động kinh tế của con người. Do vậy, việc nghiên cứu sự phát
triển kinh tế mà trước hết là trình độ của lực lượng sản xuất, trình độ phân công lao động
sẽ cho ta chìa khóa để hiểu được ý thức xã hội nói chung và thế giới quan ở người cán bộ
Hà Nam nói riêng.
Có thể nói, hàng trăm năm trước đây người dân Hà Nam chủ yếu làm nông
nghiệp, mặc dù có kết hợp đáng kể nghề thủ công và buôn bán nhỏ trong vùng. Đất nông
nghiệp được gọi là đồng chiêm trũng ấy chiếm khoảng 2/3% diện tích tự nhiên của tỉnh.
Đồng ruộng ở Hà Nam nằm sâu trong đất bùn, do các đồi núi và hệ thống đê đập che chở
nước phù sa ít nên những vùng đất này bị úng triền miên, màu đất thường đen hoặc nâu
nhạt, độ phì nhiêu kém, độ PH cao không thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp.
Vì vậy, vùng đất này được mệnh danh là "Sống ngâm da, chết ngâm xương". ở
mấy đình chùa ở Hà Nam người ta đã bắt gặp mấy câu thơ nói về vị trí quan trọng của
nghề nông: "Dĩ nông vi bản" (nông nghiệp là cái gốc bền vững của mỗi quốc gia và mọi
nhà).