1
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Năng lực t duy biện chứng (NLTDBC) biểu hiện sức mạnh trí tuệ
của con ngời, là công cụ sắc bén để nhận thức và cải tạo hiện thực. Trong
thời đại ngày nay, dới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa
học - công nghệ và sự phát triển của kinh tế tri thức, vai trò của NLTDBC
lại càng tăng lên.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ học tập, rèn luyện, sinh viên s phạm
(SVSP) cần đợc trang bị về mọi mặt, đặc biệt là NLTDBC - điều kiện thiết
yếu đảm bảo cho sinh viên chiếm lĩnh tri thức khoa học, rèn luyện chuyên
môn nghiệp vụ s phạm để rồi sau này truyền thụ kiến thức cho học sinh,
giáo dục họ trở thành những chủ nhân tơng lai của đất nớc. Trong nhà
trờng phổ thông, đội ngũ giáo viên giữ một vị trí, vai trò rất quan trọng. Họ
không chỉ là ngời truyền thụ tri thức khoa học, giáo dục t tởng, đạo đức,
lối sống mà còn là ngời giáo dục phơng pháp suy nghĩ, phơng pháp
suy luận, rèn luyện trí thông minh cho học sinh. Tuy nhiên, chất lợng của
đội ngũ này cha cao, còn yếu kém về chuyên môn nghiệp vụ s phạm cũng
nh NLTDBC. Do đó, bên cạnh nhiệm vụ đào tạo con ngời có phẩm chất
chính trị, đạo đức, tâm huyết với nghề, có kiến thức và nghiệp vụ s phạm,
các cơ sở đào tạo cần chú trọng bồi dỡng, rèn luyện cho sinh viên
NLTDBC.
Sự hình thành và phát triển NLTDBC
của sinh viên phụ thuộc vào
nhiều yếu tố khác nhau nh yếu tố di truyền, yếu tố truyền thống, quá
trình học tập và rèn luyện, môi trờng xã hội , trong đó, giảng dạy triết
Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2003, v.v Các công trình nghiên cứu này đề
cập đến những vấn đề cốt lõi của triết học duy vật biện chứng, nh vấn đề
phép biện chứng, vấn đề nhận thức luận, vấn đề lôgíc học, v.v Đây là cơ sở
lý luận và phơng pháp luận cơ bản để nghiên cứu vấn đề NLTDBC.
Những năm đầu của thời kỳ đổi mới đất nớc, chúng ta tìm thấy nhiều
bài viết, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà
nớc, các nhà khoa học đã bàn đến vấn đề bản chất t duy, năng lực t duy
cũng nh tính tất yếu và định hớng chủ yếu trong đổi mới t duy ở nớc ta,
tiêu biểu nh cuốn Đổi mới t duy và phong cách t duy của Nguyễn
Văn Linh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987; "Năng lực t duy lý luận trong quá
trình đổi mới t duy" của Nguyễn Ngọc Long, Tạp chí Cộng sản, số
10/1987; "Quán triệt t duy biện chứng duy vật và nội dung quan trọng của
đổi mới t duy" của Dơng Phú Hiệp, Tạp chí Triết học, số 2/1987; "Mấy
vấn đề cấp bách về đổi mới t duy lý luận" của Học viện Nguyễn ái Quốc,
1988, v.v
Khắc phục các căn bệnh thờng thấy ở đội ngũ cán bộ nớc ta nh
bệnh giáo điều, bệnh kinh nghiệm là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết trong
quá trình đổi mới t duy, nâng cao năng lực, trình độ t duy. Hớng 3
nghiên cứu này chúng ta tìm thấy ở các luận án tiến sĩ Triết học, các bài
viết trên các tạp chí, tiêu biểu nh luận án Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa ở
đội ngũ cán bộ nớc ta trong quá trình xây dựng chủ nghĩa x hội của
Trần Văn Phòng, Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội,
1994; Lê Hữu Nghĩa: Một số căn bệnh trong phơng pháp t duy của
cán bộ ta, Tạp chí Triết học, số 2/1988, v.v Các tác giả đã chỉ ra thực
4
năng lực t duy biện chứng cho sinh viên các trờng đại học, Luận văn
thạc sĩ Triết học, Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội,
2004, v.v Trong các công trình này, một số tác giả phân tích sự cần thiết,
yêu cầu rèn luyện t duy cho học sinh và sinh viên, một số khác lại tập
trung làm rõ vai trò của triết học và các khoa học cụ thể trong việc rèn
luyện t duy cho ngời học.
Vấn đề nghiên cứu và giảng dạy triết học nói riêng và lý luận Mác -
Lênin, t tởng Hồ Chí Minh nói chung đợc nhiều tác giả đề cập đến.
Chẳng hạn, Phạm Ngọc Quang: Triết học mácxít với việc phát huy vai
trò của trí tuệ nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở
nớc ta hiện nay, Tạp chí Triết học, số 1/1996; Lê Xuân Nam, Lê Thanh
Sinh, Nguyễn Thanh, Lơng Minh Cừ, Hoàng Trung (Đồng chủ biên):
Một số ý kiến trao đổi về phơng pháp giảng dạy các môn khoa học Mác
- Lênin ở đại học và cao đẳng, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 2002; Lơng Gia
Ban: Góp phần nâng cao chất lợng giảng dạy và đổi mới nội dung
chơng trình các môn khoa học Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Dơng Phú Hiệp: Tiếp tục đổi mới
nghiên cứu và giảng dạy triết học ở nớc ta, Tạp chí Triết học, số
2/2007, v.v Vấn đề giảng dạy triết học cũng đợc đề cập đến trong các
báo cáo, các bài viết tham gia các hội thảo khoa học. Các báo cáo và các
bài viết này đều khẳng định sự cần thiết, đồng thời đề xuất những giải
pháp đổi mới, nâng cao chất lợng giảng dạy các môn lý luận Mác -
Lênin, t tởng Hồ Chí Minh nói chung và triết học nói riêng trong các
trờng đại học, cao đẳng.
Tuy nhiên, vấn đề bồi dỡng, rèn luyện NLTDBC cho SVSP thông
qua giảng dạy triết học chỉ mới đợc đề cập từng mặt, cho đến nay cha
đợc học ở các trờng đại học, cao đẳng.
- Luận án tập trung khảo sát thực tế ở một số trờng đại học, cao
đẳng.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
- Luận án đợc thực hiện trên cơ sở lý luận và phơng pháp luận của
triết học Mác - Lênin, đặc biệt là những nguyên lý của nhận thức luận và
lôgíc biện chứng mácxít. Luận án dựa trên nền tảng t tởng Hồ Chí
Minh, kế thừa những công trình khoa học đã công bố.
- Luận án sử dụng các phơng pháp phân tích và tổng hợp, lôgíc và
lịch sử, điều tra xã hội học và thống kê, v.v
6. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Góp phần chỉ ra vai trò của NLTDBC đối với SVSP trong học tập,
rèn luyện để trở thành ngời giáo viên.
- Làm rõ vai trò của giảng dạy triết học đối với việc bồi dỡng, rèn
luyện NLTDBC cho SVSP. 6
- Chỉ rõ thực chất tình hình giảng dạy triết học với việc bồi dỡng, rèn
luyện NLTDBC cho SVSP ở các trờng đại học và cao đẳng hiện nay.
- Góp phần đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò
của giảng dạy triết học trong việc bồi dỡng, rèn luyện NLTDBC cho
SVSP.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Những luận điểm và kết luận trong luận án có ý nghĩa thiết thực đối
với việc nghiên cứu vấn đề t duy biện chứng và năng lực t duy biện
siêu hình. Lịch sử triết học là lịch sử phát triển của nhận thức, của t duy
qua các giai đoạn phát triển của xã hội.
T duy biện chứng đợc thể hiện trong triết học Mác - Lênin là sự đúc
kết
những t tởng biện chứng trong lịch sử, sản phẩm của sự kết tinh t
duy nhân loại, đồng thời đợc bổ sung, phát triển trên cơ sở khoa học và
thực tiễn mới, do đó là đỉnh cao của t duy biện chứng. T duy biện chứng
đợc thể hiện trong triết học Mác - Lênin là t duy biện chứng duy vật;
tuân thủ các nguyên tắc phơng pháp luận biện chứng duy vật. Nó yêu
cầu xem xét các sự vật, hiện tợng trong mối liên hệ tác động qua lại lẫn
nhau giữa chúng, trong sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của
chúng; đi sâu phân tích bản chất, vạch ra nguồn gốc, cách thức cũng nh
xu hớng vận động và phát triển của sự vật; xem xét các sự vật trong tính
thống nhất giữa lịch sử và lôgíc, v.v
1.1.1.2. Năng lực t duy biện chứng
Sau khi tham khảo các công trình nghiên cứu về năng lực t duy,
chúng tôi cho rằng năng lực t duy là tổng hợp những phẩm chất tâm, sinh
lý, trí tuệ đáp ứng yêu cầu nhận thức và cải tạo thế giới, đảm bảo cho hoạt
động của con ngời phù hợp với quy luật, đạt hiệu quả. Nó biểu hiện ở
khả năng nắm bắt và vận dụng một cách chủ động, nhuần nhuyễn, sáng
tạo những tri thức, phơng pháp, khả năng tiếp nhận và xử lý những thông
tin, hình thành tri thức mới về sự vật, từ đó lựa chọn phơng án, ra quyết
định đúng cho hành động.
Từ phạm trù năng lực t duy, luận án trình bày phạm trù NLTDBC.
Cũng nh mọi hoạt động khác, hoạt động t duy bị chi phối bởi phơng
pháp luận chung nhất định với chức năng định hớng, gợi mở cho quá
trình hoạt động. Khi nói t duy biện chứng hay phơng pháp t duy biện
chứng, t duy siêu hình hay phơng pháp t duy siêu hình là nói đến các
loại hình t duy đợc định hớng bởi phơng pháp luận biện chứng hay
phơng pháp luận siêu hình. T duy biện chứng đợc định hớng bởi
sinh mà còn phải giáo dục cho học sinh phơng pháp suy nghĩ, phơng
pháp suy luận, phơng pháp nghiên cứu. ở nhà trờng, điều chủ yếu là
rèn luyện trí thông minh cho học sinh. Dạy học phải gắn với việc rèn
luyện, phát triển những phẩm chất trí tuệ của học sinh nh tính tích cực,
độc lập, khả năng t duy sáng tạo, biện chứng.
1.1.2.2. Vai trò của năng lực t duy biện chứng đối với sinh viên s phạm
Đối với hoạt động học tập của sinh viên nói chung, vai trò của
NLTDBC thể hiện trên nhiều mặt nh: nhận thức, nắm vững nội dung các
môn học; trau dồi nghề nghiệp; học tập để không ngừng nâng cao trình độ
văn hóa, khoa học; rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, tác phong nghề 9
nghiệp; tham gia nghiên cứu khoa học; tìm hiểu và tham gia giải quyết
các vấn đề thực tiễn xã hội, v.v Bên cạnh đó, do mục tiêu đào tạo của các
trờng, các khoa s phạm và tính đặc thù của lao động s phạm nên
NLTDBC có một vai trò quan trọng nhng lại hết sức cụ thể đối với SVSP
trong quá trình học tập, rèn luyện.
- NLTDBC đảm bảo cho SVSP học tập, nắm vững chuyên môn nghiệp
vụ s phạm: giúp SVSP nhận thức sâu sắc mục tiêu, nguyên lý giáo dục; là
cơ sở quan trọng để sinh viên
nắm vững phơng pháp luận dạy học, tiếp
nhận, rèn luyện phơng pháp dạy học; rèn luyện khả năng phát hiện, phân
tích và giải quyết những tình huống, những mâu thuẫn nảy sinh trong quá
trình dạy học.
- NLTDBC là điều kiện thiết yếu của ngời giáo viên để thực hiện
nhiệm vụ rèn luyện, phát triển NLTDBC cho học sinh. Để thực hiện đợc
tụy với nghề, song chất lợng nhìn chung cha cao, còn có sự yếu kém về
NLTDBC. Nhiều giáo viên thiếu tính linh hoạt, sáng tạo trong t duy; suy
nghĩ còn rập khuôn máy móc, cha biết tìm ra phơng pháp dạy học cho
phù hợp với từng đối tợng, tình huống cụ thể; khả năng phát hiện vấn đề,
phân tích mâu thuẫn nảy sinh trong dạy học còn hạn chế; mắc bệnh cực
đoan phiến diện, lúc thì đề cao phơng pháp thuyết trình, lúc lại đề cao
phơng pháp nêu vấn đề, lúc thì tuyệt đối hóa hình thức tự luận, lúc lại
tuyệt đối hóa hình thức trắc nghiệm khách quan, v.v
Quá trình đổi mới mạnh mẽ, cơ bản và toàn diện nền giáo dục nớc
nhà đòi hỏi phải xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên, nâng cao chất
lợng đào tạo giáo viên, chú trọng việc bồi dỡng, rèn luyện NLTDBC
cho những ngời giáo viên tơng lai.
1.2. Vai trò của giảng dạy triết học trong việc bồi dỡng, rèn
luyện năng lực t duy biện chứng cho sinh viên s phạm
1.2.1. Những yếu tố ảnh hởng đến sự hình thành, phát triển
năng lực t duy biện chứng của sinh viên
Tiền đề sinh học, mà trớc hết và chủ yếu là bộ não ngời, là yếu tố
ảnh hởng trực tiếp đến năng lực t duy, đến chiều hớng phát triển cũng
nh kết quả rèn luyện năng lực t duy. Dĩ nhiên, đặc tính bẩm sinh chỉ là
một khả năng bắt nguồn từ năng lực phản ánh của con ngời, nó cần đợc
phát triển, rèn luyện. Sự phát triển NLTDBC của sinh viên còn chịu ảnh
hởng của nhiều yếu tố khác nh: quá trình học tập, rèn luyện; yếu tố
kinh tế - xã hội truyền thống; yếu tố thời đại; nhu cầu, lợi ích của sinh
viên trong học tập, rèn luyện và hoạt động xã hội. Trong đó, quá trình
học tập, rèn luyện có ảnh hởng trực tiếp nhất.
1.2.2. Tầm quan trọng của giảng dạy triết học trong việc bồi
dỡng, rèn luyện năng lực t duy biện chứng cho sinh viên s phạm 11
hình. Theo nhận xét của Ph.Ăngghen, nghiên cứu các lĩnh vực khác nhau
của thế giới vật chất cũng giúp con ngời phát triển khả năng t duy biện
chứng. Song quá trình này diễn ra một cách chậm chạp, tự phát, thiếu sự
chỉ đạo và không thể vạch ra đợc con đờng tổng quát của t duy biện
chứng. Nghiên cứu nắm vững triết học Mác - Lênin giúp con ngời chủ
động, linh hoạt trong quá trình vận dụng lý luận và phơng pháp luận biện
chứng duy vật. 12
Liên quan tới việc nâng cao NLTDBC cho SVSP, giảng dạy triết học,
đặc biệt triết học Mác - Lênin có tác động trực tiếp, mạnh mẽ, hiệu quả
nhất. Bởi lẽ:
- Giảng dạy triết học Mác - Lênin trang bị cho sinh viên một cách có
hệ thống lý luận và phơng pháp luận biện chứng duy vật, đặc biệt là các
nguyên tắc phơng pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy vật. Thông
qua giảng dạy, giảng viên giúp sinh viên nắm đợc các quan điểm lý luận
có tác dụng gợi mở, chỉ đạo, định hớng cho hoạt động nhận thức và thực
tiễn, các nguyên tắc phơng pháp luận cơ bản của phép biện chứng duy
vật (nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc phát triển, nguyên tắc lịch sử - cụ
thể), đồng thời rèn luyện cho sinh viên khả năng vận dụng kiến thức triết
học vào học tập chuyên môn nghiệp vụ s phạm.
- Thực chất của t duy biện chứng là quá trình vận dụng các hình thức
t duy, các khái niệm, phạm trù một cách mềm dẻo, linh hoạt, biện chứng.
Giảng dạy triết học Mác - Lênin giúp sinh viên nắm đợc bản chất của
khái niệm, biện chứng của khái niệm, cũng nh biện chứng của các hình
thức t duy và của nhận thức nói chung, qua đó nâng cao năng lực vận
khoa học, và qua đó, giúp họ giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá
trình học các môn chuyên ngành. Giảng dạy triết học đã giúp cho nhiều
sinh viên nắm đợc nội dung, ý nghĩa phơng pháp luận của phép biện
chứng duy vật; các nguyên tắc cơ bản của phơng pháp biện chứng vận
dụng trong nhận thức khoa học, đồng thời, bớc đầu thực hiện đợc yêu
cầu giúp sinh viên vận dụng phơng pháp luận biện chứng duy vật vào học
tập, nghiên cứu khoa học chuyên ngành và rèn luyện nghiệp vụ s phạm.
Trong các kỳ kiến tập và thực tập s phạm, nhiều sinh viên chủ động vận
dụng phơng pháp dạy học tùy theo từng nội dung bài học, từng đối tợng
học sinh và tùy theo từng điều kiện dạy và học cụ thể của từng trờng,
từng địa phơng; biết dẫn dắt ngời học đi qua các giai đoạn của sự phát
triển nhận thức trong lịch sử để hiểu và nắm vững khái niệm, phạm trù,
quy luật; vận dụng mối liên hệ nhân - quả khi dạy các tác phẩm văn học
dân gian, v.v
2.1.2. Những hạn chế trong giảng dạy triết học đối với việc bồi
dỡng, rèn luyện năng lực t duy biện chứng cho sinh viên s phạm
Việc phát huy vai trò giảng dạy triết học trong bồi dỡng, rèn luyện
NLTDBC cho sinh viên, bên cạnh những mặt tích cực vẫn còn có những
hạn chế nhất định. Giảng dạy triết học nhìn chung cha hiện tốt yêu cầu
giúp sinh viên nắm vững nội dung và ý nghĩa phơng pháp luận của các
nguyên lý, quy luật để vận dụng vào học tập, rèn luyện. Từ chỗ cha hiểu
đợc một cách thấu đáo, thậm chí hiểu sai nội dung các nguyên lý, phạm
trù, quy luật nên nhiều sinh viên không thể nắm đợc ý nghĩa phơng
pháp luận và do đó, không thể vận dụng vào học tập, rèn luyện chuyên
môn nghiệp vụ. Giảng dạy triết học cha hiện đợc yêu cầu rèn luyện 14
trình cha gắn với mục đích, yêu cầu đào tạo của ngành s phạm. Sinh
viên tất cả các trờng đều dùng chung một giáo trình, thậm chí nhiều 15
trờng ghép nhiều khoa, nhiều chuyên ngành lại thành một lớp lớn để
cùng nghe giảng. Sự kết hợp giữa môn triết học và các môn chuyên ngành
còn rất hạn chế; triết học đợc dạy nh một môn khoa học riêng biệt,
không liên quan nhiều đến chuyên ngành đào tạo.
2.1.3.2. Về phơng pháp giảng dạy của giảng viên
Thời gian qua, cùng với việc đổi mới nội dung chơng trình, Bộ Giáo
dục và Đào tạo, các trờng đại học và cao đẳng chú trọng đổi mới phơng
pháp giảng dạy triết học. Tuy nhiên, phơng pháp giảng dạy của giảng
viên các trờng đại học, cao đẳng, từ khâu giảng bài đến khâu hớng dẫn
sinh viên thảo luận, tự học, đánh giá kết quả nhìn chung còn chậm cải
tiến, do đó, giảng dạy triết học cha phát huy đợc vai trò của mình vào
việc bồi dỡng, rèn luyện NLTDBC cho sinh viên.
2.1.3.3. Về ý thức và phơng pháp học tập của sinh viên
Những hạn chế về nội dung chơng trình, phơng pháp giảng dạy cũng
nh thái độ của một số cán bộ quản lý và giảng viên làm cho sinh viên nhận
thức cha đúng vai trò của NLTDBC đối với SVSP trong học tập, rèn luyện
chuyên môn nghiệp vụ s phạm, cũng nh vai trò của học tập, nghiên cứu triết
học trong việc bồi dỡng, rèn luyện NLTDBC. Hạn chế về phơng pháp học
tập cũng là nguyên nhân làm cho kết quả học tập cha cao (chủ yếu ở mức
trung bình và trung bình khá), khiến cho giảng dạy triết học cha phát huy đợc
vai trò của mình trong việc bồi dỡng, rèn luyện NLTDBC cho sinh viên.
2.2. Những vấn đề đặt ra trong giảng dạy triết học với việc bồi
của đội ngũ giảng viên triết học vẫn cha đáp ứng kịp so với yêu cầu của
sự phát triển giáo dục và đào tạo trong tình hình mới. Những hạn chế nhất
định về nhận thức cũng nh về năng lực, trình độ chuyên môn khiến cho
đội ngũ giảng viên triết học cha phát huy đợc vai trò của mình trong
việc bồi dỡng, rèn luyện NLTDBC cho sinh viên.
Theo Công văn số 2488/BGDĐT-ĐH & SĐH, từ năm học 2008 -
2009 trở đi, sinh viên khối không chuyên ngành Mác - Lênin, T tởng
Hồ Chí Minh sẽ học tập, nghiên cứu triết học qua môn Những nguyên lý
cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Dung lợng kiến thức triết học rất
lớn nhng thời gian dành cho lý thuyết, thảo luận, tự học lại rất ít (5 tín
chỉ đối với cả môn học). Đối với giảng viên, bên cạnh giảng dạy triết học
còn phải giảng dạy kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học. Trong
các trờng có khoa Giáo dục chính trị, giảng viên còn phải dạy các môn
khác nh Lịch sử triết học, Tác phẩm kinh điển, Chuyên đề triết học,
Lôgíc học, Đạo đức học, Mỹ học, Lý luận tôn giáo, v,v Có thể thấy,
nhiệm vụ của giảng viên rất nặng nề, khối lợng công việc mà giảng viên
phải thực hiện rất lớn trong khi năng lực, trình độ của đội ngũ giảng viên
lại có những hạn chế nhất định. Vấn đề đặt ra là làm sao để phát huy vai 17
trò của đội ngũ giảng viên trong việc bồi dỡng, rèn luyện NLTDBC cho
sinh viên?
2.2.3. Việc bồi dỡng, rèn luyện NLTDBC cho sinh viên đòi hỏi phải
có sự kết hợp giữa giảng dạy triết học với giảng dạy các môn chuyên
ngành trong khi khả năng kết hợp giữa các môn học còn hạn chế
Thiếu sự kết hợp giữa giảng dạy triết học với giảng dạy các môn
chất nhà giáo, tham gia các hoạt động xã hội trong khi đó, quỹ thời gian
dành cho học tập và rèn luyện lại có hạn.
Chơng 3
những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò giảng
dạy triết học trong việc bồi dỡng, rèn luyện năng
lực t duy biện chứng cho Sinh viên s phạm
3.1. Thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò của triết học trong hệ
thống các môn học
Nhằm phát huy vai trò giảng dạy triết học trong việc bồi dỡng, rèn
luyện NLTDBC cho SVSP, trớc hết cần thống nhất nhận thức của mọi
ngời trong toàn ngành và xã hội.
Cần làm cho giảng viên và sinh viên,
cũng nh các cán bộ lãnh đạo, quản lý đào tạo nhận thức sâu sắc về vị
trí, vai trò của triết học trong hệ thống các môn học cũng nh tính tất yếu
phát huy vai trò giảng dạy triết học trong việc bồi dỡng, rèn luyện
NLTDBC cho ngời học.
3.2. Đổi mới nội dung chơng trình và phơng pháp giảng dạy triết học
3.2.1. Đổi mới nội dung chơng trình triết học
Nội dung chơng trình cần chú trọng chức năng phơng pháp luận,
sự vận dụng phơng pháp luận biện chứng duy vật vào nhận thức và thực
tiễn. Cần làm cho sinh viên nắm đợc tính khoa học và cách mạng hết sức
sâu sắc, triệt để của lý luận biện chứng duy vật; sự thống nhất giữa phép
biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc biện chứng. Từ việc trình bày nội
dung các nguyên lý, quy luật, cần tập trung phân tích những yêu cầu, ý
nghĩa và cách thức vận dụng các nguyên tắc phơng pháp luận cơ bản. Từ
việc nghiên cứu các phạm trù lịch sử và lôgíc, cụ thể và trừu tợng, cần đi
sâu tìm hiểu các phơng pháp nhận thức khoa học, nh phơng pháp lịch
của sinh viên.
Giảng dạy triết học Mác - Lênin phải gắn với việc trình bày lịch sử
hình thành và phát triển của bản thân nó, cũng nh lịch sử t tởng triết
học nói chung, qua đó giúp sinh viên hiểu bản chất của t duy biện chứng
một cách đầy đủ, sâu sắc hơn, tiếp thu đợc những t tởng biện chứng có
giá trị trong lịch sử, hiểu đợc nguyên nhân và hạn chế của các quan điểm
duy tâm, siêu hình, v.v
Nội dung chơng trình cần đổi mới theo hớng tinh gọn, dễ tiếp thu,
gắn với cuộc sống, thiết thực với ngời học, phù hợp với đối tợng đào
tạo. Đây là xu hớng chung trong đổi mới nội dung chơng trình các môn
học ở các trờng đại học và cao đẳng hiện nay.
3.2.2. Đổi mới phơng pháp giảng dạy triết học
Phơng pháp giảng dạy triết học tất yếu phải tuân thủ những yêu cầu
chung của phơng pháp s phạm. Đồng thời, với tính cách là phơng pháp 20
giảng dạy bộ môn, nó có những đặc trng riêng phụ thuộc vào đối tợng
dạy học, mục đích, yêu cầu của môn học, v.v
Nhằm bồi dỡng, rèn luyện NLTDBC cho sinh viên, cần đổi mới
phơng pháp giảng dạy theo hớng: gắn giảng dạy với việc rèn luyện cho
sinh viên khả năng vận dụng tri thức, biến tri thức thành phơng pháp,
nguyên tắc chỉ đạo hành động; vận dụng tri thức liên môn; tuân thủ
nguyên tắc tính thực tiễn. Nguyên tắc tính vừa sức cần đợc chú trọng
trong giảng dạy triết học, vì rằng, tri thức triết học mang tính trừu tợng,
khái quát cao, trong khi trình độ t duy, trình độ học vấn và vốn sống thực
tế của sinh viên lại có những hạn chế nhất định. Giảng viên cần có nghệ
dạy, đáp ứng yêu cầu bồi dỡng, rèn luyện NLTDBC cho sinh viên. Bên
cạnh những phẩm chất cơ bản về chính trị và đạo đức, khả năng s phạm,
giảng viên triết học phải là ngời có t duy biện chứng ở trình độ cao. Để
xây dựng đội ngũ giảng viên đủ về số lợng và bảo đảm về chất lợng,
cần tập trung vào những nội dung chủ yếu nh:
Một là, đẩy mạnh công tác đào tạo và tuyển dụng giảng viên. Các cơ
sở đào tạo cần có chính sách tuyển sinh phù hợp nhằm tuyển chọn đúng
đối tợng đào tạo. Ngoài việc trang bị tri thức khoa học và giáo dục phẩm
chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, cần chú trọng rèn luyện cho giảng viên
triết học tơng lai phơng pháp t duy, phơng pháp giải quyết vấn đề,
năng lực vận dụng tri thức để giải quyết các vấn đề nhận thức và thực tiễn;
trang bị kỹ năng s phạm, phơng pháp giảng dạy triết học. Cần đổi mới
chơng trình đào tạo theo hớng khoa học, hiện đại nhằm trang bị cho
giảng viên những tri thức mang tính toàn diện, bao gồm cả tri thức về
khoa học xã hội và nhân văn, cả tri thức về khoa học tự nhiên và kỹ thuật.
Mở rộng quy mô đào tạo sau đại học đi đôi với nâng cao chất lợng đào
tạo. Khâu tuyển dụng giảng viên cần tiến hành một cách khách quan, khoa
học, theo một quy trình chặt chẽ và đặt trong kế hoạch phát triển của mỗi
khoa, mỗi trờng và chiến lợc chung của ngành giáo dục - đào tạo.
Hai là, thờng xuyên chú trọng công tác bồi dỡng đội ngũ giảng
viên. Cần tăng cờng bồi dỡng về chuyên môn, nghiệp vụ cho giảng viên
thông qua các lớp tập huấn; tổ chức và phối hợp tổ chức các hội thảo khoa
học về đổi mới phơng pháp giảng dạy triết học; quan tâm và tạo điều
kiện cho giảng viên thâm nhập thực tế tại cơ sở, học tập kinh nghiệm,
tham quan, thực tế tại các trờng, các địa phơng trong và ngoài nớc;
chú trọng bồi dỡng giảng viên trẻ. Bên cạnh đó, cần quan tâm tới chế độ,
chính sách đối với giảng viên nhằm góp phần làm ổn định đời sống vật
chất, tạo động lực thúc đẩy giảng viên toàn tâm, toàn lực với nghề, ra sức
học tập, bồi dỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
3.4. Kết hợp giữa giảng dạy triết học với giảng dạy các môn học
lại với một số kết luận đợc rút ra nh sau:
1. Với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và của
kinh tế tri thức, với xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra vô cùng mạmh mẽ,
cha bao giờ nhân tố con ngời lại đợc mọi quốc gia chú trọng nh hiện
nay. Phát huy vai trò con ngời thực chất là bồi dỡng, phát triển và khai
thác những tiềm năng vô tận, sáng tạo của con ngời. NLTDBC với những
đặc trng của nó biểu hiện sức mạnh trí tuệ của con ngời, là công cụ sắc
bén để nhận thức và cải tạo hiện thực, do đó, nó có vai trò hết sức quan
trọng và vai trò ấy ngày càng tăng lên trong thời đại ngày nay.
2. Đối với hoạt động học tập, rèn luyện của ngời giáo viên tơng lai,
NLTDBC có vai trò quan trọng, giúp họ lĩnh hội tri thức khoa học cơ bản,
khoa học giáo dục và rèn luyện chuyên môn nghiệp vụ s phạm. NLTDBC 23
là điều kiện thiết yếu của ngời giáo viên để thực hiện nhiệm vụ rèn
luyện, phát triển NLTDBC cho học sinh. Tuy nhiên, SVSP cũng nh giáo
viên phổ thông hiện nay đang còn có sự hạn chế, yếu kém về NLTDBC.
Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, cần nâng cao chất lợng đào
tạo giáo viên, chú trọng việc bồi dỡng, rèn luyện NLTDBC cho SVSP.
3. Sự hình thành và phát triển NLTDBC của SVSP phụ thuộc vào
nhiều yếu tố khác nhau, trong đó, giảng dạy triết học có tác động trực tiếp,
mạnh mẽ và hiệu quả nhất; là con đờng, phơng thức cơ bản để đào tạo
ra những ngời giáo viên có NLTDBC.
4. Trong quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo, giảng dạy triết học đã
có những chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào việc bồi dỡng,
rèn luyện NLTDBC cho sinh viên. Bên cạnh những mặt tích cực, giảng
theo hớng rèn luyện cho sinh viên khả năng vận dụng phơng pháp luận
biện chứng duy vật vào học tập, rèn luyện chuyên môn nghiệp vụ s
phạm; rèn luyện khả năng vận dụng tri thức, biến lý luận thành phơng
pháp, thành nguyên tắc chỉ đạo hành động, giúp ngời học t duy một
cách mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo. Cần chú trọng phơng pháp vận dụng
tri thức liên môn, tuân thủ nguyên tắc tính thực tiễn và vận dụng phơng
pháp triết học trong giảng dạy triết học. Đổi mới phơng pháp giảng dạy
phải gắn với đổi mới phơng pháp học tập và phải đổi mới một cách mạnh
mẽ, toàn diện, đồng bộ ở tất cả các khâu: lý thuyết, thảo luận, tự nghiên
cứu, ôn thi, v.v
Thứ ba, đẩy mạnh công tác đào tạo và tuyển dụng giảng viên, thờng
xuyên chú trọng việc bồi dỡng đội ngũ giảng viên, đồng thời, cần quan
tâm tới chế độ, chính sách đối với giảng viên. Để có đợc đội ngũ giảng
viên đủ về số lợng, bảo đảm về chất lợng đáp ứng yêu phát triển của
giáo dục và đào tạo, các trờng phải coi trọng và có chiến lợc cụ thể
trong công tác đào tạo, bồi dỡng, xây dựng đội ngũ, đồng thời, mỗi giảng
viên cần phải nỗ lực phấn đấu, thờng xuyên rèn luyện đạo đức, phẩm
chất, tác phong nhà giáo, ra sức học tập nâng cao năng lực, trình độ
chuyên môn, cũng nh NLTDBC. Bên cạnh xây dựng đội ngũ giảng viên,
các trờng đại học và cao đẳng cần tăng cờng đầu t, tạo điều kiện cơ sở
vật chất cho hoạt động giảng dạy và học tập các môn học nói chung và
triết học nói riêng.
Thứ t, cần kết hợp giữa giảng dạy triết học với giảng dạy các môn
học khác và rèn luyện nghiệp vụ s phạm. Bồi dỡng, rèn luyện NLTDBC
và đào tạo nghiệp vụ s phạm cho sinh viên là hai mảng cơ bản, gắn bó
chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau, hớng vào mục tiêu hình thành, phát
triển ở ngời học năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Những giải pháp trên đây cha phải là tất cả, song đó là những giải
pháp chủ yếu và cần đợc thực hiện một cách đồng bộ, toàn diện. Có nh
vậy mới phát huy đợc vai trò giảng dạy triết học trong việc bồi dỡng,