HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
HC VIN CHNH TR KHU VC I
NGUYN TH HNG
bồi dỡng năng lực t duy biện
chứng
cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản
lý
huyện an dơng - hải phòng hiện
nay
LUN VN THC S
Chuyờn ngnh: Trit hc
1
Hà Nội, tháng 6 năm 2015
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Năng lực tư duy biện chứng biểu hiện sức mạnh trí tuệ của con người,
là công cụ sắc bén để nhận thức và cải tạo hiện thực. Trong thời đại ngày nay,
dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và sự
phát triển của kinh tế tri thức, vai trò của năng lực tư duy biện chứng lại càng
được tăng lên.
Thực tiễn Việt Nam trong những năm vừa qua đã khảng định rằng cán
bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng, là khâu then
chốt trong công tác xây dựng Đảng. Hiện nay, công cuộc đổi mới ở nước ta
chỉ có thể thắng lợi khi cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực cần thiết, có trình
độ tư duy cao cấp đáp ứng được nhiệm vụ mới - đó là năng lực tư duy biện
chứng Mác-xít.
Nhận thức rõ điều đó, Nghị quyết các Đại hội Đảng lần thứ VI, VII,
VIII, IX, X, XI cũng như các Nghị quyết 3, 4 của Ban chấp hành Trung ương
Đảng, các Nghị quyết 01, 09 của Bộ Chính trị (Khóa VII) và gần đây nhất là
các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương khóa XI đặc biệt nhấn mạnh
tầm quan trọng của tư duy, trí tuệ đối với cán bộ lãnh đạo quản lý.
3
Chúng ta từng biết đến các tác giả nổi tiếng của Liên xô trước đây với
những công trình nghiên cứu tầm cỡ, có giá trị khoa học. Chẳng hạn,
I.X.Narxki, Gorxki: “Phép biện chứng của nhận thức khoa học”, Mátxcơva,
1978; M.M.Rôdentan: “Nguyên lý lôgíc biện chứng”, Trường Đảng cao cấp
Nguyễn Ái Quốc, 1979; I.D.Anđriep: “Lôgíc biện chứng”, Mátxcơva, 1985;
A.P.Séptulin: “Phương pháp nhận thức biện chứng”, Nxb Sách giáo khoa Mác
- Lênin, Hà Nội, 1978; E.V.Ilencôv: “Lôgíc học biện chứng”, Nxb.Văn hóa -
Thông tin, Hà Nội, 2003.v.v Các công trình nghiên cứu này đề cập đến
những vấn đề cốt lõi của triết học duy vật biện chứng, như vấn đề phép
biện chứng, vấn đề nhận thức luận, vấn đề lôgíc học.v.v Đây là cơ sở lý
luận và phương pháp luận cơ bản để nghiên cứu vấn đề năng lực tư duy
biện chứng.
Vấn đề tư duy được đề cập đến trong những công trình nghiên cứu
của các tác giả nước ta: “Tư duy khoa học trong giai đoạn cách mạng khoa
học - công nghệ” của các tác giả Lê Hữu Nghĩa, Phạm Duy Hải, Nxb.Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 1998. Các tác giả đã nghiên cứu vấn đề tư duy, bản
chất và đặc điểm chủ yếu của tư duy khoa học, cũng như một số nét đặc
trưng của tư duy khoa học trong giai đoạn mới của cách mạng khoa học -
công nghệ; “Vấn đề tư duy trong triết học của Hêghen” của các tác giả
Nguyễn Trọng Chuẩn, Đỗ Minh Hợp, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1999. Công trình này đã phân tích một cách cụ thể, có phê phán quan điểm
của Hê ghen về tư duy, qua đó chỉ ra những giá trị khoa học, những “hạt
nhân hợp lý” trong quan điểm của ông về vấn đề này; “Thông tin và vấn đề
tiếp nhận, xử lý thông tin của tư duy người Việt Nam”, Luận án tiến sĩ
Triết học của Lê Thị Duy Hoa, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội, 2002. Tác giả luận án đã phân tích quá trình tiếp nhận và xử lý
thông tin diễn ra trong tư duy, khái quát những đặc điểm cơ bản của quá
trình tiếp nhận và xử lý thông tin trong tư duy người Việt nam, từ đó đề
4
triển năng lực tư duy lý luận cho sinh viên thông qua giảng dạy triết học Mác
– Lê nin ở nước ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1996; Nguyễn Thanh Hưng: “Góp phần rèn
luyện và phát triển tư duy biện chứng cho học sinh thông qua dạy học hình
học ở trường trung học phổ thông”, Luận văn thạc sĩ Khoa học Giáo dục,
Trường Đại học Vinh, 2003; Hoàng Thúc Lân: “Giảng dạy triết học Mác – Lê
nin với việc nâng cao năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên các trường
đại học”, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội. 2004,v.v
Trong các công trình nên trên, một số tác giả phân tích sự cần thiết,
yêu cầu rèn luyện tư duy cho học sinh và sinh viên, một số khác lại tập trung
làm rõ vai trò của triết học và các khoa học cụ thể trong việc rèn luyện tư duy
cho người học.
Vấn đề nâng cao năng lực, trình độ tư duy cho cán bộ lãnh đạo, quản
lý, cán bộ giảng dạy lý luận chính trị có nhiều công trình nghiên cứu. Chẳng
hạn, Hồ Bá Thâm: “Nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo
chủ chốt cấp xã hiện nay”, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1994; Nguyễn Đình Trãi: “Nâng cao năng lực tư
duy lý luận cho cán bộ giảng viên lý luận Mác – Lênin ở các trường Chính trị
tỉnh”, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà
Nội, 2001; Nguyễn Thị Bích Thủy: “Vai trò của tư duy biện chứng đối với
cán bộ lãnh đạo kinh tế trong quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay”, Luận án
tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001;
Trần Thành: “Tư duy lý luận với hoạt động của người cán bộ lãnh đạo, chỉ
đạo thực tiễn”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003. Các công trình nghiên
cứu đã phân tích vai trò của tư duy đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ
giảng dạy, đánh giá thực trạng và lý giải nguyên nhân của tình trạng yếu kém
6
về tư duy trong đội ngũ cán bộ, từ đó đề xuát những giải pháp nâng cao năng
lực, trình độ tư duy cho đội ngũ này.
pháp phân tích và tổng hợp, qui nạp và diễn dịch, lịch sử và lôgíc, phương
pháp so sánh, phương pháp thống kê…
5. Những đóng góp mới của luận văn
- Góp phần làm rõ vai trò của tư duy biện chứng mác-xít đối với cán bộ
lãnh đạo quản lý nói chung và ở huyện An Dương - Hải Phòng nói riêng.
- Khái quát một số đặc điểm nói lên thực trạng tư duy ở cán bộ lãnh đạo
quản lý ở huyện An Dương - Hải Phòng, từ đó đề xuất một số phương hướng
và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực tư duy biện chứng cho đội ngũ
cán bộ này.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn được kết cấu thành 02 chương, 04 tiết.
Chương 1: Năng lực tư duy biện chứng và sự cần thiết bồi dưỡng năng
lực tư duy biện chứng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý huyện An Dương -
Hải Phòng hiện nay.
Chương 2: Thực trạng, phương hướng và một số giải pháp bồi dưỡng
năng lực tư duy biện chứng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý huyện An
Dương - Hải Phòng hiện nay.
8
9
NỘI DUNG
Chương 1
NĂNG LỰC TƯ DUY BIỆN CHỨNG VÀ SỰ CẦN THIẾT BỒI DƯỠNG
NĂNG LỰC TƯ DUY BIỆN CHỨNG CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ HUYỆN AN DƯƠNG - HẢI PHÒNG HIỆN NAY
1.1. Tư duy biện chứng và năng lực tư duy biện chứng
1.1.1. Tư duy biện chứng
Tư duy nói riêng, nhận thức nói chung là một trong những hoạt động
sống cơ bản nhất của loài người. Vấn đề tư duy chiếm vị trí quan trọng trong
lịch sử tư tưởng triết học, cũng như trong triết học mác-xít.
thao tác tư duy, các hình thức tư duy chỉ có thể được thực hiện, được vận
dụng khi chúng được biểu đạt thông qua cái “vỏ vật chất” là những từ ngữ
hay cấu trúc ngữ pháp cụ thể, tương ứng.
Tư duy của con người mang bản chất sáng tạo. Đó chính là năng lực
đem lại những tri thức mới về các mối liên hệ chung, bản chất, những tính
quy luật của hiện thực vốn rất đa dạng, phong phú và biến đổi không ngừng.
Nhờ “tính sáng tạo” mà tư duy “bóc, tách” được sự vật, nắm bắt được các
thuộc tính, các mối liên hệ bên trong của đối tượng. Với sức mạnh sáng tạo
của tư duy, con người có thể dự báo tương lai, đưa những giả thuyết, những lý
thuyết khoa học
Thế giới vô cùng, vô tận và biến đổi không ngừng, vả lại thực tiễn luôn
luôn mới - điều đó đòi hỏi tư duy phải luôn năng động sáng tạo, phát hiện ra
những cái mới, đưa ra những “lời giải” đáp ứng nhu cầu của nhận thức và
thực tiễn. Do vậy, tư duy là một quá trình vô tận, vận động và phát triển
không ngừng.
11
Con đường tiến tới chân lý khách quan của nhận thức loài người rất lâu
dài, khó khăn và phức tạp. Trong hàng triệu năm của thời kỳ nguyên thủy, tư
duy loài người chỉ dừng lại ở trình độ thấp nhất, sơ khai nhất của nó, biểu
hiện qua các hình thức: tư duy hỗn hợp - nguyên thủy, tư duy hoang đường
-huyền thoại, tư duy đạo đức và thẩm mỹ nguyên thủy Đến thời cổ đại, tư
duy của loài người đạt tới một trình độ mới, cao hơn về chất so với tư duy của
người nguyên thủy; hình thành một phương thức mới của tư duy để nhận thức
thế giới - tư duy triết học
Cũng từ thời cổ đại, khi con người bắt đầu tìm hiểu các sự vật, hiện
tượng của thế giới xung quanh mình và suy xét về chúng đã xuất hiện hai
phương pháp tư duy triết học đối lập nhau: phương pháp biện chứng và
phương pháp siêu hình.
Phương pháp siêu hình, như Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Chỉ nhìn thấy những
sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy,
dĩ sự vật, hiện tượng vận động và phát triển được vì bản thân Đạo là sự thống
nhất của những mặt đối lập
Quan điểm biện chứng thể hiện trong học thuyết của nhiều nhà triết học
Hi Lạp cổ đại như Hêraclít, Xôcrát, Arixtốt Các nhà “biện chứng bẩm sinh”
thời kỳ này đã nhìn thấy các sự vật, hiện tượng của vũ trụ sinh thành, biến hóa
không ngừng trong những sợi dây liên hệ vô cùng vô tận. Ph.Ăngghen cho
rằng trong quan điểm của các nhà triết học Hi Lạp cổ đại, “chúng ta thấy một
bức tranh về sự chằng chịt vô tận của những mối liên hệ và những sự tác động
qua lại, sự vận động và phát triển, trong đó không có cái gì là đứng nguyên,
không thay đổi, mà tất cả đều vận động, biến đổi, phát sinh và mất đi” [52, tr.
35]. Mặc dù quan điểm của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại còn mộc mạc,
13
chất phác nhưng có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tư duy biện chứng của
nhân loại.
Do trình độ và nét đặc trưng của khoa học tự nhiên thời kỳ phục hưng
và cận đại mà triết học thời kỳ này mang tính chất siêu hình, máy móc. Khi
khoa học tự nhiên chuyển từ giai đoạn sưu tập sang giai đoạn chỉnh lý các tài
liệu, đến giai đoạn nghiên cứu về các quá trình, về sự phát sinh và phát triển
của các sự vật, thì phương pháp siêu hình không còn đáp ứng được yêu cầu
của nhận thức khoa học nữa.
Nền triết học cổ điển Đức đã phát triển theo tinh thần biện chứng, được
khởi đầu từ triết học của Cantơ và phát triển đến đỉnh cao trong phép biện
chứng duy tâm của Hêghen. Theo nhận xét của Ph.Ăngghen, công lao to lớn
của Hê ghen là “đã quay trở lại phép biện chứng, coi đó là hình thức cao nhất
của tư duy” [52, tr. 34]. Tuy nhiên, triết học Hêghen có những hạn chế nhất
định, bên cạnh tính chất duy tâm, nó còn bộc lộ mâu thuẫn giữa một bên là tư
tưởng biện chứng, cách mạng và một bên là hệ thống quan điểm duy tâm,
khép kín, bảo thủ.
Kế thừa có chọn lọc những thành quả của các nhà triết học tiền bối, mà
trực tiếp là phép biện chứng của Hêghen, dựa trên việc khái quát những thành
rời nhất định với sự vật, không bị sự vật, hiện tượng chi phối nên có một sự
độc lập tương đối. Do sự độc lập này mà tư duy có một sức mạnh to lớn trong
sự phản ánh thế giới khách quan.
Tư duy phản ánh thế giới khách quan một cách tích cực, sáng tạo. Bản
chất của con người là một thực thể năng động, sáng tạo, luôn muốn vươn tới
nhận thức và cải tạo thế giới. Xuất phát từ cơ sở hoạt động thực tiễn nên tư
duy của con người cũng phản ánh thế giới một cách sáng tạo và tích cực.
V.I.Lênin cho rằng, sự chuyển hóa từ tư duy đến thực tại là rất quan trọng đối
với tiến trình phát triển của lịch sử. Chính bằng tư duy mà con người có thể
15
xây dựng các giả thuyết khoa học, các lý thuyết trừu tượng, các mô hình lý
tưởng cho hiện thực và dự báo tương lai.
Cũng tùy theo cách tiếp cận khác nhau mà người ta có thể có các cách
phân loại tư duy khác nhau. Chẳng hạn, về phương thức tư duy, có tư duy
biện chứng và tư duy siêu hình; về loại tư duy, có tư duy lôgic và tư duy triết
học, tư duy toán học, tư duy chính trị, tư duy văn hóa, tư duy nghệ thuật; về
cấp độ tư duy, có tư duy kinh nghiệm và tư duy lý luận…
Theo từ điển Bách khoa Xô Viết đã nêu khái niệm khá đầy đủ và khẳng
định: Tư duy là trình độ cao của quá trình nhận thức mà con người có được,
của quá trình phản ánh hiện thực khách quan. Nó tạo ra tri thức về các khách
thể, các thuộc tính và quan hệ của thế giới thực tại mà trình độ nhận thức cảm
tính trực tiếp không thể nắm bắt được.
Lịch sử triết học là lịch sử phát triển của nhận thức, của tư duy qua các
giai đoạn phát triển của xã hội. Tư duy biện chứng được thể hiện trong triết
học Mác - Lênin là sự đúc kết những tư tưởng biện chứng trong lịch sử, sản
phẩm của sự kết tinh tư duy nhân loại, đồng thời được bổ sung, phát triển trên
cơ sở khoa học và thực tiễn mới, do đó là đỉnh cao của tư duy biện chứng.
Tư duy biện chứng được thể hiện trong triết học Mác - Lênin là tư duy
biện chứng duy vật. Hêghen đã phê phán triết học siêu hình và ông là người
đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng một quá
chứng giữa sự thay đổi về chất và kiên quyết thực hiện bước nhảy khi điều
kiện về lượng đã được chuẩn bị đầy đủ; nhìn nhận xu hướng phát triển của sự
vật một cách mềm dẻo, sinh động, hiểu phủ định biện chứng là quá trình
khách quan, tự thân, kế thừa cái tích cực đã đạt được từ cái cũ, là một khâu
trong quá trình dẫn tới sự ra đời của cái mới cao hơn, tiến bộ hơn…
Theo V.I.Lênin, nếu coi sự phát triển chỉ như là sự giảm đi và tăng lên
đơn thuần về lượng, như là lặp lại thì “sự tự vận động, động lực của nó, nguồn
17
gốc của nó… là nằm trong bóng tối, là “chết cứng, là nghèo nàn, là khô
khan”. Chỉ có quan niệm sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt
đối lập mới cho ta chìa khóa của “sự vận động” của tất cả thảy mọi cái đang
tồn tại; “chìa khóa của những “bước nhảy vọt”, của sự gián đoạn của tính tiệm
tiến”, của sự “chuyển hóa thành mặt đối lập” của sự tiêu diệt cái cũ và sự nảy
sinh cái mới” [44, tr. 379].
Tư duy biện chứng mác-xít đòi hỏi phải đi sâu vào bản chất, lấy bản
chất soi sáng cho hiện tượng, mặt khác, phải tìm ra bản chất của sự vật ở
trong chính sự vật thông qua nghiên cứu nhiều hiện tượng khác nhau và từ
nhiều góc độ khác nhau. V.I.Lênin viết: “Tư tưởng của người ta đi sâu một
cách vô hạn, từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất cấp một, nếu có thể nói
như vậy, đến bản chất cấp hai… cứ như thế mãi” [44, tr. 268].
Tư duy biện chứng mác-xít đòi hỏi phải xem xét các sự vật trong tính
thống nhất giữa lịch sử và lôgíc; nắm vững và vận dụng một cách chủ động,
sáng tạo phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc. Phương pháp lịch sử và
phương pháp lôgíc là hai phương pháp nghiên cứu khác nhau, nhưng lại thống
nhất biện chứng với nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau. Tùy theo đối tượng
nghiên cứu và yêu cầu cụ thể khác nhau mà người ta có thể sử dụng phương
pháp lịch sử hay phương pháp lôgíc là chủ yếu, song dù trong trường hợp nào
cũng đều phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lịch sử và lôgíc.
Tư duy biện chứng mác-xít đòi hỏi phải tuân thủ nguyên tắc đi từ trừu
tượng đến cụ thể. C.Mác coi đi từ trừu tượng đến cụ thể là phương pháp nhận
biểu hiện trên nhiều dạng khác nhau như: năng lực nghiên cứu khoa học, năng
lực hoạt động nghệ thuật, năng lực cảm giác, năng lực tư duy…
Ngay từ những năm đầu của công cuộc đổi mới đất nước, vấn đề năng
lực được các nhà nghiên cứu đề cập đến từ nhiều khía cạnh khác nhau.
GS.Nguyễn Ngọc Long coi “năng lực tư duy là tổng hợp những phẩm chất trí
19
tuệ đáp ứng yêu cầu nhận thức thế giới và bản thân con người, bảo đảm cho
hành động sáng tạo của mình” [49, tr. 48]. Theo tác giả, năng lực tư duy chính
là khả năng, sức mạnh của con người trong nhận thức và thực tiễn, do đó, việc
rèn luyện, nâng cao năng lực tư duy, trước hết là năng lực tư duy lý luận có
tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình đổi mới tư duy.
Trong luận án tiến sĩ Triết học của mình, tác giả Hồ Bá Thâm cho
rằng: “Năng lực tư duy là tổng hợp những khả năng ghi nhớ, tái hiện, liên
tưởng, trừu tượng hóa, khái quát hóa và xử lý tri thức trong quá trình phản
ánh, tái tạo, phát triển và vận dụng chúng vào những tình huống thực tiễn nhất
định” [75, tr. 18]. Ở đây, tác giả chỉ ra những biểu hiện cụ thể của năng lực tư
duy trong quá trình phản ánh hiện thực, như ghi nhớ, tái hiện, liên tưởng…
cũng như khả năng vận dụng tri thức vào việc giải quyết những vấn đề của
thực tiễn.
Kế thừa những ý kiến trên, chúng tôi cho rằng năng lực tư duy của chủ
thể vừa phụ thuộc vào yếu tố di truyền, vừa là sản phẩm của lịch sử - xã hội;
phụ thuộc vào môi trường xã hội, gắn liền với trình độ phát triển của xã hội,
với hệ thống giáo dục nhất định. Đó là sự thống nhất biện chứng giữa mặt tự
nhiên và mặt xã hội tạo nên sức mạnh trí tuệ ở con người.
Năng lực tư duy là khả năng nhận thức và vận dụng thành thạo các
phương pháp tư duy. Theo lý luận nhận thức mác-xít, nhận thức là một quá
trình biện chứng, trong đó con người tiến hành hàng loạt các thao tác tư duy
như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa… theo một lôgic nhất
định. Những thao tác này có nội dung khác nhau nhưng quan hệ hữu cơ với
nhau, thống nhất biện chứng với nhau. Các thao tác tư duy được tiến hành ra
là việc xác định mục đích, các bước tiến hành, các khâu chủ yếu trong quá
trình tư duy để từ đó xác định rõ cần vận dụng những phương pháp nào,
21
phương pháp nào là chủ yếu cũng như cách thức phối hợp những phương
pháp đó ra sao. Càng có năng lực tư duy phát triển, chủ thể càng có thể hình
dung được rõ ràng kết quả công việc của mình với những cách thức, biện
pháp hoạt động cần thiết.
Năng lực tư duy biểu hiện ở sự tích lũy và vận dụng hiệu quả vốn tri
thức. Cơ sở để xây dựng phương pháp là tri thức về những quy luật của thực
tại khách quan. Từ hệ thống những tri thức về những quy luật của thế giới
khách quan, con người rút ra những nguyên tắc để điều chỉnh hoạt động nhận
thức và thực tiễn nhằm đạt tới mục đích nhất. Đồng thời, quá trình nhận thức
khoa học là quá trình con người tiến hành những thao tác tư duy trên cơ sở
những tri thức sẵn có để tiếp tục hình thành những khái niệm, phạm trù,
những lý thuyết mới làm cơ sở cho việc xây dựng phương pháp. Vốn tri thức
được xem như một nguồn vào để chủ thể thông qua hoạt động tư duy rút ra tri
thức mới. Chính vì vậy, vốn tri thức càng phong phú, hiện đại thì tri thức mới
được hình thành càng phản ánh sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về đối tượng và sự
vận dụng nó vào cuộc sống càng hiệu quả hơn.
Tư duy là một quá trình tiếp nhận và xử lý thông tin một cách đặc biệt
và khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin ở từng chủ thể là khác nhau. Khả
năng tiếp nhận thông tin là tổng hợp của cả hai khả năng: “tiếp” và “nhận”
thông tin. Năng lực xử lý thông tin chính là khả năng tách, chọn, tổng hợp,
khái quát hóa, trừu tượng hóa… các thông tin, hình thành nên tri thức mới về
sự vật. Trên thực tế, có những người tiếp nhận thông tin tốt, nhưng năng lực
xử lý thông tin hạn chế nên lượng thông tin đó chỉ được lưu giữ lại trong trí
nhớ mà không được xử lý để làm tăng thêm sự hiểu biết, làm giàu thêm tri
thức cho họ. Ngược lại, có những người tuy tiếp nhận thông tin kém hơn,
nhưng năng lực xử lý thông tin tốt hơn thì họ cũng có thể làm cho sự biết của
mình tăng lên, vốn tri thức của mình giàu hơn.
nghiệm…
Theo chúng tôi, để xác định phạm trù năng lực tư duy biện chứng, cần
thấy được thực chất của hoạt động tư duy con người. Cũng như mọi hoạt động
khác, hoạt động tư duy bị chi phối bởi phương pháp luận chung nhất định với
chức năng định hướng, gợi mở cho quá trình hoạt động. Khi nói tư duy biện
chứng hay phương pháp tư duy biện chứng, tư duy siêu hình hay phương
pháp tư duy siêu hình là nói đến các loại hình tư duy được định hướng bởi
phương pháp luận biện chứng hay phương pháp luận siêu hình. Tư duy biện
chứng được định hướng bởi phương pháp luận biện chứng duy vật - phương
pháp luận khoa học của nhận thức và thực tiễn.
Phương pháp có vai trò đặc biệt quan trọng, thể hiện sức mạnh trí tuệ
của con người trong sự sáng tạo và theo đuổi các hoạt động sáng tạo. Cái đặc
sắc, cái giá trị căn bản của năng lực sáng tạo là sáng tạo phương pháp. Nhà
triết học biện chứng lỗi lạc Hê ghen từng nói rằng “mọi tri thức của loài người
được kết tinh trong lịch sử tư tưởng triết học, quy đến cùng, đó là vấn đề
phương pháp” [76, tr. 58]. Dĩ nhiên, phương pháp thật sự khoa học và cách
mạng, có khả năng mang lại hiệu quả thiết thực trong mọi lĩnh vực nhận thức
và thực tiễn là phương pháp biện chứng duy vật.
Lý luận là cơ sở của phương pháp, nó chứa đựng những quan điểm,
những nguyên lý phương pháp luận, nhưng bản thân lý luận tự nó chưa phải
là phương pháp. Từ hệ thống tri thức về những quy luật chung nhất của thế
giới, con người phải biết rút ra những nguyên tắc, yêu cầu để điều chỉnh hoạt
động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm đạt được mục đích nhất định.
Nghiên cứu lý luận mác-xít, đòi hỏi phải vận dụng lý luận đó một cách nhuần
nhuyễn, thực sự biến lý luận đó thành hiểu biết của bản thân, thành phương
pháp, công cụ thiết yếu để giải quyết các vấn đề của nhận thức và thực tiễn.
Chính theo tinh thần ấy mà Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, học tập, nghiên
24
cứu chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là thuộc lòng từng câu từng chữ trong
các sách vở kinh điển mà cái chủ yếu, quan trọng nhất là nắm lấy tinh thần và