MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong cách mạng nước ta, cán bộ nói chung và cán bộ lãnh đạo
quản lý nhà nước nói riêng, đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự
phát triển của đất nước. Trong điều kiện hiện nay, trước những biến
động lớn lao đầy phức tạp trên thế giới, cũng như yêu cầu phát triển
của đất nước, vai trò này càng trở nên to lớn hơn bao giờ hết.
Để lãnh đạo quản lý nhà nước thúc đẩy đất nước phát triển theo
mục tiêu Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn, người cán bộ lãnh đạo, quản
lý phải có cả đức lẫn tài trong đó đức là gốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
dạy rằng: "Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức
thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân" [32, 253].
Sau 30 năm đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo số
đông cán bộ lãnh đạo quản lý nhà nước luôn trau dồi và giữ vững
được phẩm chất đạo đức cách mạng: yêu nước, yêu CNXH, chí công
vô tư, có lối sống lành mạnh, giữ gìn được phẩm chất của người cán bộ
cách mạng.
Tuy nhiên, trước những sự tác động tiêu cực của kinh tế thị
trường, không ít cán bộ đã bị thoái hóa, biến chất, sự sa sút về đạo đức
của một bộ phận cán bộ này thể hiện ở chủ nghĩa cá nhân phát triển
mạnh: kèn cựa địa vị, lợi dụng chức quyền trục lợi, tha hóa về lối
sống... Đáng chú ý sự suy thoái về phẩm chất này trong cán bộ đang có
chiều hướng gia tăng, làm xói mòn bản chất cách mạng của đội ngũ cán
bộ, làm suy giảm uy tín của Đảng, suy giảm niềm tin của nhân dân đối
với chế độ.
1
Sự sa sút về phẩm chất đạo đức của người cán bộ lãnh đạo quản
lý, một mặt do sự tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, nhưng
điều kiện hiện nay.
- Để thực hiện mục tiêu đó, đề tài có các nhiệm vụ sau:
+ Vạch ra yêu cầu đạo đức cách mạng của người cán bộ lãnh
đạo, quản lý nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
+ Đánh giá thực trạng đạo đức của đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý nhà nước hiện nay (trên cơ sở khảo sát ở tỉnh Kiên Giang), từ
đó nêu ra những đòi hỏi khách quan của việc nâng cao đạo đức cách
mạng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý nhà nước trong giai đoạn cách
mạng mới.
+ Nêu một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao đạo đức cách
mạng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý nhà nước trong điều kiện hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử,
đạo đức học Mác - Lênin; các quan điểm đạo đức của Đảng Cộng sản
Việt Nam và của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận của nghiên
cứu, thực hiện luận văn này.
- Đề tài kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, lôgíc và lịch
sử, phân tích và tổng hợp, kế thừa có chọn lọc những thành quả nghiên
cứu đã có.
5. Cái mới của luận văn
- Luận văn bước đầu đã xác định được một số yêu cầu cơ bản
về đạo đức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý nhà nước trong tình hình
hiện nay.
3
- Phân tích góp phần làm rõ thêm một số giải pháp cơ bản nhằm
nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ lãnh đạo quản lý nhà nước ở
nước ta nói chung, ở Kiên Giang nói riêng trong điều kiện hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
của mình "Tiên học lễ, hậu học văn". Ông mong muốn xã hội phát triển
bình ổn, gia đình sống hạnh phúc, con người giữ được đạo lý. Để thực
hiện được ý tưởng đó, ông đề ra nguyên tắc vua tôi, ông, bà, cha mẹ,
con cháu đều phải theo luật nước, phép nhà. Tuy không phải là người
đầu tiên bàn đến đạo đức, nhưng công lao chính của ông là đã tổng kết
được kinh nghiệm thực tiễn của đời sống xã hội, trên cơ sở đó xây
dựng nên học thuyết đạo đức, trong đó chứa đựng nhiều nội dung: Đó
là ý thức với bản thân, ý thức với xã hội, đặt các mối quan hệ của con
5
người trong mối tương quan xã hội, cách ứng xử và hành vi của con
người...
Trong xã hội Ấn Độ cổ đại, học thuyết của đạo phật do Thích
Ca Mâu Ni sáng lập cũng đã đề cập nhiều đến vấn đề đạo đức. Cái cốt
lõi nhất trong hệ thống đạo đức Phật giáo là khuyên con người sống
thiện, biết thương yêu nhau, giúp đỡ nhau, tránh điều ác.
Trong xã hội Hy Lạp - La Mã cổ đại, người ta đề cao những giá
trị đạo đức, như tính trung thực, lòng dũng cảm, sự trong sáng và cao
thượng trong tình bạn, tình yêu...
Ở nước ta, vấn đề đạo đức được đề cập rất sớm, từ trong các
truyền thuyết, ca dao, tục ngữ... nhân dân ta đã xây dựng những nguyên
tắc, chuẩn mực giá trị đạo đức nhằm giáo dục con người, chăm làm,
chăm học để nâng cao trí tuệ, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau và có nhân
cách cao đẹp trong cuộc sống.
Theo quan điểm mácxít, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội
đặc biệt, bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, quy
tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội. Nó ra đời tồn tại và biến đổi từ nhu
cầu của xã hội. Nhờ nó, con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình
danh, lười biếng, ăn bám, xa hoa, lãng phí.
Như vậy đạo đức là một hiện tượng phổ biến của xã hội, của
mọi thời đại. Nó tồn tại một cách tất yếu khách quan nhằm điều chỉnh ý
thức, hành vi, quan hệ ứng xử của con người với nhau trong xã hội. Ở
đâu có con người thì ở đó có quan hệ đạo đức, và con người có nhu cầu
hướng tới những giá trị đạo đức, sống thiện, có ích, nhân đạo, làm tròn
các nghĩa vụ đạo đức đối với xã hội. Những giá trị đạo đức khi đã được
7
hình thành ở con người thì có tác động trở lại xã hội theo chiều hướng
tốt đẹp.
Đạo đức còn giúp cho con người hoàn thiện nhân cách của
mình. Những người có nhân cách bao giờ cũng có những phẩm chất
đạo đức cao quý. Trong các tiêu chuẩn giá trị làm nên cái đẹp của con
người, sự lựa chọn của nhân dân cũng hướng đến cái giá trị đạo đức
"Cái nết đánh chết cái đẹp", "Tốt gỗ hơn tốt nước sơn"...
Đạo đức là nhu cầu, là cội nguồn của hạnh phúc. Một xã hội
hạnh phúc chính là ở chỗ xã hội đã tạo ra những con người có ý thức,
có năng lực thực tiễn hành động vì người khác. Một người có lòng vị tha
hay giúp đỡ người khác chính là bản thân anh ta đã "làm phúc" cho mọi
người và chính anh ta cũng cảm thấy hạnh phúc. Những người gặp hoàn
cảnh éo le sẽ hạnh phúc biết nhường nào khi được người khác giúp đỡ
vô tư.
Nhờ có hành vi đạo đức tốt, con người mới đem lại hạnh phúc
cho người khác. Chủ thể đạo đức khi thực hiện hành vi đạo đức cũng
trở nên hạnh phúc. Người giúp đỡ người khác sẽ cảm thấy cuộc sống
của mình trở nên tốt đẹp hơn, có ý nghĩa hơn. Người hạnh phúc nhất là
người biết đem lại niềm vui, hạnh phúc cho người khác.
Đạo đức giúp cho con người sáng tạo ra hạnh phúc. Nếu con
người sinh ra chỉ biết hưởng thụ, sống thụ động, không có trách nhiệm
thì của cải tự nhiên sẽ bị nghèo nàn, khô kiệt và khan hiếm dần đi;
những giá trị văn hóa, vật chất, tinh thần sẽ không nảy sinh, họ luôn
nhìn đời bằng con mắt chán chường, cảm thấy sống thừa, vô vị. Còn
một khi con người đã xác định sống phải có lý tưởng để cống hiến tài
9
năng cho xã hội, thì mọi người sẽ tích cực tự giác làm việc, đem lại
những thành quả có ích cho xã hội, và cũng chính lúc đó con người
tạo ra những giá trị cao cho chính mình. Hạnh phúc chân chính biểu
hiện mối quan hệ hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Mối
quan hệ ấy thúc đẩy lẫn nhau, làm cho con người và xã hội ngày
càng phát triển.
Đạo đức còn làm cho mỗi người biết giữ gìn phẩm giá, danh dự
sống cao cả, biết hòa nhập, gắn bó với tập thể; tránh tư tưởng bè phái,
cục bộ, vị kỷ, cá nhân và những thói đạo đức giả.
Đạo đức đem lại cho con người niềm lạc quan yêu đời, nó phát
huy và khơi dậy ở con người tính tích cực tự giác, kiên trì khắc phục
khó khăn, khát khao vươn tới cuộc sống chân, thiện, mỹ.
Trải qua các quá trình lao động sáng tạo và cải biến xã hội, con
người càng thấy rõ hơn giá trị to lớn của đạo đức. Đạo đức không chỉ
đóng vai trò điều chỉnh ý thức và hành vi của con người mà còn có tác
dụng cảm hóa con người, giúp con người nhận thức và hành động theo
lẽ phải, duy trì mối quan hệ tốt đẹp giữa người và người. Đồng thời,
đạo đức còn làm thức dậy trong mỗi con người những tình cảm tốt đẹp,
đó là lòng nhân ái, tính trung thực thẳng thắn. Cùng với sự tiến lên của
xã hội, đạo đức sẽ có mặt ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nó giúp
giác nhận thức, bảo vệ và kiên trì của toàn Đảng và của toàn dân, thì
cán bộ là nhân tố quyết định.
11
Cán bộ là người định ra đường lối, chủ trương chính sách của
Đảng, Nhà nước và vận động tổ chức nhân dân thực hiện thắng lợi các
mục tiêu đề ra, đưa đất nước ngày càng phát triển và tiến bộ. Trong mỗi
giai đoạn, mỗi thời kỳ cách mạng cần có một đội ngũ cán bộ thích ứng,
vừa có phẩm chất đạo đức, vừa có năng lực để đáp ứng được sự đòi hỏi
của nhiệm vụ cách mạng. Hiện nay đất nước ta đang bước sang thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong bối cảnh có những thời
cơ, thuận lợi mới, nhưng cũng có nhiều khó khăn, thách thức mới.
Nhiệm vụ cách mạng mới rất nặng nề, khó khăn và phức tạp, đòi hỏi
phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ ngang tầm, có đủ bản lĩnh
chính trị, phẩm chất cách mạng cao. Chính vì thế, trong điều kiện cách
mạng hiện nay, đạo đức cần phải được nhấn mạnh trong mỗi con người,
đặc biệt đối với đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước và các tổ chức
đoàn thể quần chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói, làm cách mạng để cải
tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó
cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu
dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người
cán bộ phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được
nhiệm vụ cách mạng vẻ vang. Vì vậy, người cán bộ có đạo đức cách
mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không lùi bước. Vì
lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc người
cán bộ sẽ không ngần ngại hy sinh lợi ích của cá nhân mình. Khi cần họ
sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Trong mọi
hoàn cảnh khi thuận lợi, thành công cũng như lúc gặp khó khăn gian
đạo đức cách mạng và chính Người là một kiểu mẫu về đạo đức cách
13
mạng. Khi đã trở thành người Cộng sản, Hồ Chí Minh thấy có trách
nhiệm tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng cứu
nước đúng đắn cho người cách mạng Việt Nam. Đồng thời, người
truyền thụ đạo đức cách mạng cho họ. Trong tác phẩm Đường cách
mệnh, ở chương đầu tiên, Người nêu: "Về tư cách người cách mệnh".
Tháng 10 năm 1947, khi Người viết cuốn Sửa đổi lối làm việc, Người
nhấn mạnh đến đạo đức mới, vì chỉ có thực hiện đạo đức mới thì người
cán bộ mới nhận thức đầy đủ ý thức trách nhiệm của mình và hoàn
thành nhiệm vụ của tập thể, của dân tộc, của giai cấp và của loài người.
Người nói: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có
nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người
cách mạng không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo
được nhân dân" [34, 252-253].
Trong sự nghiệp cách mạng, một trong những vấn đề Hồ Chí
Minh quan tâm hàng đầu là đạo đức. Suốt đời, Hồ Chí Minh luôn luôn
quan tâm đến việc giáo dục lý tưởng cách mạng và đạo đức cách mạng
cho những người yêu nước, cho thanh niên, cho quần chúng, đặc biệt là
cho cán bộ đảng viên. Phải khẳng định rằng, Hồ Chí Minh không chỉ là
người giáo dục đạo đức cách mạng, mà còn là hiện thân của đạo đức
cách mạng đã nêu gương cho toàn Đảng, toàn dân ta.
Trong quá trình cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh
luôn quan tâm, lo lắng đến đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý của Đảng
bởi vai trò của họ đối với quần chúng, đối với sự nghiệp cách mạng là
rất lớn. Người cho rằng, người cán bộ cách mạng phải có nhiều ưu
điểm, nhiều đức tính tốt, khái quát lại là phải có đạo đức cách mạng và
mặt nào đó chữ "nhân" của Nho giáo cũng như quan niệm về đạo đức
của Khổng Tử dễ gần với chủ nghĩa nhân đạo mácxít. Nho giáo đề ra
"cần, kiệm, liêm, chính". Hồ Chí Minh cũng nói tới: Cần, kiệm, liêm,
chính, nhưng với một nội dung khác về cơ bản. Quan điểm Nho giáo đề
ra "cần, kiệm, liêm, chính" là chỉ để người khác thực hiện chứ không
phải cho vua, chúa, quan lại phong kiến thực hiện, như Hồ Chí Minh đã
từng có nhận xét. Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà đạo đức học mà
đúng hơn phải nói Người là nhà cách mạng về đạo đức. Người tiếp thu
tất cả những cái hay, cái đúng của Nho giáo về quan điểm đạo đức,
song về cơ bản, Người đã có sự cải tạo lại phát triển lên khiến nó trở
thành những giá trị phù hợp với thực tế Việt Nam, với đường lối cách
mạng nước ta. Từ đó ở Người hình thành một hệ thống quan điểm riêng
về đạo đức bổ sung cho quan điểm đạo đức của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tạo thành một triết lý phát triển lấy đạo đức cách mạng làm nền tảng
cho cách mạng nước ta. Triết lý đạo đức Hồ Chí Minh là triết lý phát
triển hướng về con người, thực hiện sự nghiệp cách mạng để giải phóng
con người, nhất là người lao động bị áp bức, bóc lột. Đó cũng là triết lý
về đạo đức thể hiện sự đoàn kết tất cả mọi người cần lao trên thế giới
để thực hiện sứ mệnh cách mạng cao cả là giải phóng con người khỏi
áp bức bóc lột, khỏi sự nghèo nàn, lạc hậu, để xây dựng một xã hội
phồn vinh, bình đẳng, dân chủ, văn minh.
Phải chăng, cũng từ bài học của bản thân là nhờ có tấm lòng yêu
nước, thương dân được xem như một động lực lớn, Hồ Chí Minh mới
xem đạo đức là cái gốc của người cách mạng, để từ đó Người đặt vấn
đề đạo đức có tầm quan trọng như một triết lý phát triển của xã hội nói
chung, của sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói riêng. Ở đây còn có ý
16
một quan điểm mới về triết lý phát triển mà không phải ai cũng thấy,
cũng quán triệt được trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cách mạng của
mình. Đây là một nội dung đạo đức hết sức quan trọng hầu như chúng
ta chỉ thấy rõ trong tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi lẽ, Hồ Chí Minh không
chỉ nói mà chính Người đã làm như vậy. Bản thân người là một hình
ảnh sinh động của triết lý xem đạo đức như một động lực của phát triển
xã hội nói chung, của sự nghiệp cách mạng nước ta nói riêng.
Nhìn lại thực tế lịch sử của dân tộc, chúng ta có thể thấy rõ chỉ
những triều đại nào biết dựa vào dân, coi dân thực sự là gốc của nước,
dân mới là sức mạnh "vừa có khả năng đẩy thuyền vừa có khả năng lật
thuyền", thì triều đại đó sẽ chẳng những đứng vững được mà còn vượt
qua được những sóng gió, giữ cho đất nước được độc lập, thịnh vượng,
nhân dân được tự do. Đó là những tấm gương của Trần Hưng Đạo, Lê
Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung và nhiều vị vua hiền, tôi giỏi khác.
Đương nhiên, không chỉ có đạo đức mà phải nói đến tài năng vốn được
xem là một điều kiện cũng có vai trò quyết định trong sự nghiệp xây
dựng và phát triển đất nước. Song, như Hồ Chí Minh đã từng nói giữa
đức và tài thì đức cần có trước, bởi lẽ, nếu không có đức thì dù có tài
cũng không thể làm gì, thậm chí có tài mà không có đức có khi còn trở
thành tai họa cho dân, cho cách mạng.
Nhìn lại sự nghiệp cách mạng nước ta từ sau Cách mạng tháng
Tám đến nay, chúng ta càng thấy rõ quan điểm xem "đạo đức là gốc
của người cách mạng" của Hồ Chí Minh quan trọng và đúng đắn như
thế nào. Có thể trước đây khi nói đến quan điểm xem đạo đức là gốc
của người cách mạng, có người còn e ngại nghĩ rằng chắc Hồ Chí Minh
chịu ảnh hưởng của Nho giáo nên mới đề cao vai trò của đạo đức như
18
vậy. Nhưng đến nay, sau những thực tiễn sinh động, nhất là sau thời kỳ
trong chủ nghĩa xã hội. Nhưng trên thực tế, thực hiện đầy đủ nguyên
tắc này lại là một quá trình lịch sử lâu dài, đòi hỏi quần chúng nhân dân
phải có một mặt bằng dân trí cao và có một trình độ phát triển kinh tế,
văn hóa cao. Lúc đó việc quản lý nhà nước sẽ không còn là "chức năng
đặc biệt của lớp người đặc biệt" nữa. Trong tình hình hiện nay, nhất
là ở nước ta còn rất cần thiết phải có một bộ máy quản lý chuyên
nghiệp bao gồm một đội ngũ cán bộ, viên chức thành thạo chuyên môn
nghiệp vụ quản lý, tận tâm tận lực phục vụ lợi ích chung của nhân dân,
của xã hội.
Như vậy cán bộ lãnh đạo, quản lý nhà nước vẫn là một tầng lớp
đặc biệt được trao cho những quyền hạn và quyền lực nhất định, nhưng
quyết họ không phải là tầng lớp đặc biệt "có đặc quyền đặc lợi". Sử
dụng chức quyền và việc lợi dụng, lạm dụng chức quyền là hai vấn đề
hoàn toàn khác nhau.
Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, là Nhà
nước mà tất cả quyền lực của nó đều thuộc về nhân dân. Khi nói về bản
chất của Nhà nước ta Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Nước ta là
nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều
của dân. Công việc đổi mới xây dựng là trách nhiệm của dân, sự nghiệp
kháng chiến kiến quốc là công việc của dân. Quyền hành và lực lượng
đều ở dân" [34, 199].
22
Để thể hiện và thực hiện được bản chất của Nhà nước, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đòi hỏi người cán bộ Nhà nước phải là "công bộc", là
"người đầy tớ thật trung thành của nhân dân".
Được nhân dân "ủy quyền", "trao cho" do đó Nhà nước, cũng
như cán bộ lãnh đạo, quản lý nhà nước là những người có chức vụ,
quyền hạn, có quyền lực trong xã hội và do đó cũng rất dễ dẫn tới sự
kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện
có hiệu quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
- Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, không tham nhũng và
kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, có ý thức tổ chức kỷ luật,
trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân
tín nhiệm.
- Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan
điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có
trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm việc có
hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Trong điều kiện kinh tế thị trường và mở cửa, trước sự cám dỗ
của tiền tài, vật chất, trước những đòn tiến công hiểm độc của các thế
lực thù địch, nhiều cán bộ lơi lỏng tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu, bị
thoái hóa biến chất về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống... thì việc
tiếp tục nhấn mạnh đức là gốc là hoàn toàn đúng đắn và cần thiết.
Từ đại hội toàn quốc lần thứ VI Đảng ta đã khẳng định quan
điểm, đường lối của Đảng là lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng
Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách
24
mạng. Đạo đức cách mạng được hình thành và phát triển trên cơ sở chủ
nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời kế thừa truyền
thống đạo đức của dân tộc. Đó là sự kết hợp giữa bản chất cách mạng
của giai cấp vô sản, những tinh hoa của văn hóa, văn minh nhân loại và
những nét ưu việt trong truyền thống đạo đức của dân tộc. Sự kết hợp
đó tạo nên một nền đạo đức mới, đạo đức cách mạng Việt Nam. Muốn
xây dựng được nền đạo đức mới cho toàn xã hội thì trước hết đội ngũ
cán bộ của Đảng và Nhà nước phải là lực lượng tiên phong, là tấm