NÂNG CAO NĂNG LỰC TỔ CHỨC THỰC TIỄN CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TRẠI GIAM KHU VỰC TÂY NAM BỘ HIỆN NAY - Pdf 56

1

NÂNG CAO NĂNG LỰC TỔ CHỨC THỰC TIỄN
CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
TRẠI GIAM KHU VỰC TÂY NAM BỘ HIỆN NAY

1

1


2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

2

2


3

1. Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2010, Luật thi hành án hình sự được Quốc hội thông qua và co
hiệu từ ngày 01/7/2011, công tác thi hành án phạt tù tại các trại giam thuộc
Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp (Tổng cục VIII)
thuộc Bộ Công an không ngừng được hoàn thiện, gop phần quan trọng trong
sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộc
sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân. Lực lượng Cảnh sát thi hành án

mục đích cuối cùng, vừa là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ chủ yếu trong hoạt động
của trại giam; và nhân tố quyết định sự thành công trong công tác giáo dục
phạm nhân không ai khác đo chính là người cán bộ trại giam.
Bên cạnh đo, là người chiến sỹ Cảnh sát thi hành án hình sự, phải luôn
nhận thức đúng về tầm quan trọng của công việc đang thực hiện, phải co tâm
huyết với nghề; vẫn còn một bộ phận cán bộ chiến sỹ chưa nhận thức hết vai
trò, trách nhiệm của bản thân trong thực hiện nhiệm vụ; chưa phát huy tinh
thần tự giác, tính năng động, sáng tạo trong công tác. Việc học tập, rèn luyện
nâng cao năng lực công tác, trình độ lý luận, đạo đức cách mạng còn diễn ra
chưa đồng đều. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ chiến sĩ đôi
lúc còn chưa thực sự làm cho họ hiểu sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật
của Nhà nước, những quy định của ngành công an. Khả năng tổ chức, giải
quyết các mâu thuẫn, việc xử lý các tình huống của một số không ít cán bộ
lãnh đạo, chỉ huy chưa hiệu quả, hoạt động của các bộ phận còn tách biệt,
đơn lẻ, chưa co sự phối hợp, thống nhất, việc chỉ đạo đôi khi còn chồng chéo.
Hiện tượng noi chưa đi đôi với làm, hoặc yếu về nội dung hay phương pháp,
tác phong công tác vẫn còn ở một số cán bộ lãnh đạo, quản lý. Việc tổ chức
thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các nghị quyết,
chỉ thị, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở một số nơi chưa đến nơi đến
chốn; kỷ cương, kỷ luật không nghiêm, noi không đi đôi với làm, hoặc làm
chiếu lệ.
Công tác giáo dục phạm nhân chưa phát huy hết được hiệu quả của no,
vẫn còn tình trạng phạm nhân chưa an tâm tư tưởng trong quá trình chấp
hành bản án phạt tù, vi phạm nội quy trại giam, co hành vi chống đối lại các

4

4



5

5


6

công việc cụ thể, hay điều hành cả một cơ quan, tổ chức. Vì vậy, khi đánh giá
năng lực của một cán bộ cần phải căn cứ vào hiệu quả công việc là chính,
đồng thời cũng cần biết được trình độ học vấn và quá trình công tác; ngoài ra
cũng cần phân tích rõ những yếu tố đã làm cho cá nhân hoàn thành công việc,
người ta không chỉ xem cá nhân đo làm gì, kết quả ra sao mà còn xem làm
như thế nào. Năng lực của người lãnh đạo, quản lý được thực hiện bởi cơ chế
thực tại của trí tuệ đã được lĩnh hội trong hoạt động thực tiễn, cộng với tư
duy sáng tạo và khả năng thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Vấn đề nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn cho đội ngũ cán bộ cấp cơ
sở cũng được đề cập tới trong hai luận văn Thạc sĩ triết học: 1) Nâng cao
năng lực tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở (qua thực
tế Long An), 1997 của Phạm Văn Hai. 2) Vấn đề tổ chức thực tiễn của cán bộ
lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở ở Ninh Thuận hiện nay (2002) của Phạm Văn
Liên. Cả hai tác giả luận văn đã noi trên đã đề cập đến nhiều vấn đề về công
tác cán bộ, về tổ chức thực tiễn và nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn của
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Long An và Ninh Thuận một cách co hệ
thống và mang tính đúc kết thực tiễn cao, nêu lên các vấn đề về tồn tại và hạn
chế trong công tác cán bộ, cũng như đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ, công tác cán bộ. Tuy nhiên, các công trình này
phạm vi chỉ giới hạn ở cán bộ cấp cơ sở ở tỉnh Long An và Ninh Thuận.
Trong Luận văn thạc sĩ Triết học (2003) "Nâng cao năng lực tổ chức
thực tiễn của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện miền núi ở Lâm Đồng hiện

nữa, trong bối cảnh toàn cầu hoa và hội nhập quốc tế hiện nay, người cán bộ
phải học tập không ngừng, làm chủ khoa học công nghệ và ngoại ngữ để xử lý
các tình huống liên quan đến nước ngoài, mang tầm quốc tế.
Triết học và tâm lý học, xã hội học cũng đã co nhiều công trình lớn, các
công trình này đã bàn sâu về năng lực công tác, năng lực hoạt động lao động
sáng tạo; năng lực nghiên cứu khoa học; năng lực quản lý cơ quan, năng lực
lãnh đạo của Đảng và Nhà nước của các nhà chính trị, nhà quản lý kinh tế,
văn hoa, khoa học. Đo là tác phẩm của nhom tác giả do Tô Huy Rứa, Trần
Khắc Viện đồng chủ biên: “Làm người cộng sản trong giai đoạn hiện nay”
(Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003). Theo các tác giả, giai đoạn hiện nay
yêu cầu người cộng sản phải chỉ co đủ phẩm chất cách mạng cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư mà còn phải co tư duy biện chứng, năng động, linh hoạt,
xử lý nhanh mọi tình huống phức tạp của đời sống đa dạng, phức tạp hiện đại.
Cùng một ý kiến tương tự như vậy, tác giả Phạm Hữu Dật trong cuốn

8

8


9

“Phương sách dùng người của ông cha ta trong lịch sử” (Nxb. Chính trị quốc
gia, 1994) đã nêu lên một số kinh nghiệm của cha ông trong lịch sử về thuật
dùng người cán bộ trên nguyên tắc tôn trọng người tài như nhà nho Thân
Nhân Trung đã noi: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”.
Thứ ba, nhóm các công trình nghiên cứu về hoạt động của phạm nhân,
công tác giáo dục phạm nhân tại các trại giam của Bộ Công an.
Đây là nhom đề tài nghiên cứu những vấn đề liên quan đến thực tiễn
công tác quản lý trại giam khu vực Tây Nam Bộ, co thể kể một số công trình

(2017), Nỗi niềm tết sau cổng trại giam: hơn 31 năm đón tết xa nhà, Báo
“Thanh Niên” điện tử, cập nhật 11/01/2017. 5) Thanh Thảo (2017), Trại giam
Châu Bình tổ chức xếp sách Nghệ thuật, Báo “Đồng Khởi” điện tử, cập nhật
04/01/2017.
Trong các bài báo và phong sự, các tác giả đã phản ánh sự quan tâm của
Đảng ủy các cấp chính quyền, đặc biệt là của các giám thị trại giam Tây Nam
Bộ đến các phạm nhân đang thực hiện quá trình cải tạo tại đây. Qua các
phong sự, điều tra, phỏng vấn, người đọc hình dung một không khí sinh hoạt
dân chủ, bình đẳng trên tinh thần nhân ái, lấy mục đích chính là cải tạo phạm
nhân, đưa họ trở về tái hòa nhập cộng đồng. Trong số 11 trại giam ở Tây Nam
Bộ, thì trại giam Châu Bình luôn là ngọn cờ đầu, là tấm gương trong các hoạt
động nhằm khuyến khích, động viên các phạm nhân co tinh thần lạc quan
phấn đấu cải tạo tốt để sớm hòa nhập cộng đồng, trở thành những công dân
tốt sau này. Các bài báo đồng thời cung cấp những tư liệu, bức ảnh sinh động
giúp cho xã hội nhận thức đúng về cuộc sống trong trại gam, về chính sách
khoan hồng của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong vấn đề giáo dục, cải tạo
những người đã từng lầm lỡ.
Nội dung các bài báo, các quyển sách và luận án trên đã gop phần giúp
tác giả co thêm kiến thức để nhận thức đầy đủ hơn về năng lực, năng lực tổ
chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ hiện nay, cùng những giải pháp co ý nghĩa
thiết thực; là cơ sở và là nguồn tài liệu quan trọng để tác giả tham khảo trong
việc triển khai luận văn của mình. Với các goc độ nghiên cứu khác nhau của
mình, các tác giả đã đề cập đến vấn đề năng lực, năng lực tổ chức thực tiễn,
giải pháp nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn cho cán bộ... điều đo co ý nghĩa

10

10




11


12

Năng lực của cán bộ hiện nay, nhất là năng lực tổ chức thực tiễn chưa
được quan tâm đúng mức, chưa xác định rõ tầm quan trọng và mối quan hệ
giữa lý luận và thực tiễn trong công tác cán bộ cũng như trong hoạt động thực
tiễn của đội ngũ cán bộ. Nếu nghiên cứu thành công, đề tài sẽ gop phần nâng
cao năng lực tổ chức thực tiễn cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trại giam
trong giai đoạn hiện nay.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, đề tài tập trung đi vào giải quyết các
nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Làm rõ những vấn đề lý luận chung của đề tài.
- Đánh giá thực trạng nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn cho đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý trại giam khu vực Tây Nam Bộ.
- Đề xuất giải pháp gop phần nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn và hiệu
quả công tác nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý trại giam trong thời gian tới.
7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn
của cán bộ lãnh đạo, quản lý tại các trại giam khu vực Tây Nam Bộ từ năm
2011 đến nay.
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp chung
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm, chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước ta về công tác cán bộ; đồng thời sử dụng

giam ở Việt Nam hiện nay.
Về thực tiễn: Đưa ra các giải pháp gop phần nâng cao năng lực tổ chức
thực tiễn và hiệu quả công tác nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn trong thời
gian tới.

13

13


14

Luận văn sau khi hoàn thành và nghiệm thu sẽ là tài liệu nghiên cứu cho
cán bộ lãnh đạo, quản lý tại các trại giam khu vực Miền Tây Nam Bộ hiện nay
và những người giảng dạy, học tập, nghiên cứu triết học.
10. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 02 chương và 06 tiết.

14

14


15

Chương 1 NĂNG LỰC TỔ CHỨC THỰC TIỄN VÀ VAI TRÒ CỦA
NÓ ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TRẠI
GIAM KHU VỰC TÂY NAM BỘ HIỆN NAY
1.1. Một số khái niệm cơ bản

những thuật ngữ chung nhất là “thứ” mà một cá nhân phải thể hiện và chứng
minh nó có hiệu quả trong công việc, vai trò, chức năng hoặc nhiệm vụ của
bản thân” [26, tr.2] Với quan điểm này, năng lực là ám chỉ trực tiếp về tác
nghiệp hay hành nghề khi diễn giải “thứ” này là bao gồm hành vi phù hợp với
việc làm, đo là những gì mà một người noi hay tạo ra kết quả bằng việc thực
hiện tốt hay không tốt; co với động cơ, đo là một người cảm thấy thế nào về
công việc, tổ chức hoặc vị trí địa lý; và kiến thức hay kỹ năng kỹ thuật, đo là sự
am hiểu về công nghệ, quy trình thủ tục, tổ chức, việc làm,… Năng lực được
xác định thông qua các nghiên cứu về việc làm và vai trò trong công việc.
Khi một người co năng lực tương ứng với một hành động hay một công
việc nào đo thì người đo được công nhận là co năng lực, được quyền giải
quyết và mang lại hiệu quả đối với công việc đo. Ngược lại, người nào muốn
giải quyết được một công việc và muốn được người khác thừa nhận là co
năng lực giải quyết công việc đo thì họ phải chứng minh và thể hiện được
rằng bản thân mình co đủ năng lực để thực hiện công việc ấy.
Theo “Từ điển tiếng Việt” do Nxb Đà Nẵng phát hành năm 1997: “Năng
lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên có sẵn để thực hiện một
hoạt động nào đó ở mức độ cao; hoặc năng lực được hiểu là phẩm chất của
con người tạo cho người đó có khả năng hoàn thành có kết quả một quá trình
hoạt động nhất định” [44, tr.639]. Năng lực được hiểu là tổng hợp những
thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một
hoạt động nhất định nhằm đảm bảo hoàn thành và đạt kết quả tốt trong lĩnh
vực hoạt động ấy.

16

16


17


17


18

Tổ chức thực tiễn chủ yếu là liên quan đến các hoạt động của con người,
là hoạt động cơ bản, co tính đặc thù của con người nhằm cải tạo, biến đổi đối
tượng phục vụ con người cùng với sự phát triển của xã hội. Co thể cho rằng,
tổ chức thực tiễn là một dạng hoạt động của con người nhằm hoàn thành một
nhiệm vụ nào đo trong quá trình thực hiện mục đích của mình.
Khi bàn về vấn đề thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “bao nhiêu
cách tổ chức, cách làm việc đều vì lợi ích của quần chúng. Vì vậy, cách tổ
chức và cách làm việc không phù hợp với quần chúng thì ta phải co đề nghị
lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại” [39, tr.246]. Hồ Chí Minh đã chỉ ra vai trò
của người cán bộ, đảng viên trong hoạt động tổ chức thực tiễn, no như cái dây
chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù
tốt, dù chạy toàn bộ bộ máy cũng bị tê liệt. Cán bộ chính là những người đem
chính sách của chính phủ, các đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ
dở thì dù chính sách hay cũng không thể thực hiện được [38, tr.275].
Với quan điểm trên ta thấy rằng, mục tiêu cơ bản của tổ chức thực tiễn là
đưa những vấn đề đã được nhận thức, đã được đề cập trong đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước thành hành động thực tế và tạo nên những biến
đổi trong hiện thực cuộc sống xã hội. Điều này không co nghĩa là tổ chức thực
tiễn không cần đến nghiên cứu khoa học công phu hay những suy nghĩ mang
tính sáng tạo, đột phá… Tổ chức thực tiễn không xem nhẹ lý luận, tổ chức
thực tiễn luôn khẳng định vai trò quan trọng là thực hiện các mục tiêu đã đề
ra. Vì vậy, tổ chức thực tiễn được xem xét trước hết dưới goc độ hoạt động
vật chất mang tính lịch sử cụ thể của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã
hội. Nhằm thực hiện những mục tiêu đã được con người nhận thức cũng như

một chỉnh thể hoạt động nhịp nhàng cân đối, co hiệu quả nhằm đạt được mục
tiêu xác định [42, tr.64].
Qua các quan điểm của các nhà kinh điển học, các nhà nghiên cứu trong
nước, ta thấy co nhiều điểm tương đồng nhau như đã đề cập được những nội
dung cơ bản của tổ chức thực tiễn, mục đích của các hoạt động thực tiễn…
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả đưa ra quan điểm về năng
lực tổ chức thực tiễn cụ thể như sau: Năng lực tổ chức thực tiễn là tổng hợp
những khả năng và điều kiện cùng những hiểu biết, những kỹ năng và phẩm

19

19


20

chất tâm sinh lý ở mỗi người, nhằm hiện thực hóa các văn bản, nghị quyết
trong thực tiễn đạt hiệu quả cao, theo mục tiêu đã xác định.
Năng lực tổ chức thực tiễn là noi đến năng lực của một chủ thể nào đo
trong việc tổ chức thực tiễn (hoạt động vật chất của con người). Trong phạm
vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả tập trung phân tích năng lực tổ chức
thực tiễn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trại giam ở Tây Nam Bộ.
Những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước được đi vào
cuộc sống, cụ thể hoa bằng những việc làm, hoạt động xã hội đo là thước đo,
tiêu chuẩn để đánh giá năng lực tổ chức thực tiễn của cán bộ, nhất là cán bộ
lãnh đạo, quản lý trong tất cả các lĩnh vực, các Bộ, Ngành mà cụ thể là lực
lượng công an nhân dân, trong đo co cán bộ lãnh đạo, quản lý trại giam.
Năng lực tổ chức thực tiễn được thể hiện cụ thể trong bốn nội dung cơ
bản sau:
Thứ nhất, năng lực tổ chức thực tiễn là khả năng lựa chọn phương án tối

Cho nên việc nắm bắt, xử lý thông tin chính xác nhất quyết định chất lượng
lãnh đạo, quản lý.
Vì thế, đối với bất kỳ người lãnh đạo, quản lý trong cơ quan, tổ chức phải
nắm được thông tin một cách đầy đủ, kịp thời, chính xác về nội dung co liên
quan đến công tác của mình trước khi ban hành quyết định. Phải luôn nắm bắt
và hiểu vấn đề mới đi đến việc ra quyết định như chủ tịch Hồ Chí Minh đã noi
“phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng”. Một quyết định sai lầm khi
đưa và thực tiễn thực hiện no mang đế một hậu quả kho lường.
Thứ hai, năng lực tổ chức thực hiện quyết định
Người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy muốn tổ chức thực hiện quyết định cần
phải tổ chức bộ máy cán bộ và bố trí sử dụng con người trong bộ máy đo. Noi
đến bộ máy là noi đến con người, con người đong vai trò chủ thể trong mọi
hoạt động của bộ máy đo. Tổ chức bộ máy tinh giản, gọn nhẹ, thể hiện sự linh
hoạt và sáng tạo thì khả năng tổ chức thực hiện quyết định đạt tỷ lệ thành
công và hiệu quả càng cao. Bên cạnh đo, năng lực tổ chức thực tiễn còn đòi
hỏi người cán bộ lãnh đạo chỉ huy phải co khả năng, nhạy bén trong việc lựa
chọn người co đức, tài; bồi dưỡng và bố trí con người đúng việc, đúng chỗ…
phát huy được thế mạnh, sở trường của mỗi cá nhân, phù hợp từng vị trí công

21

21


22

việc, để từ đo hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Thực tế cho thấy, nếu
không co bộ máy, không co con người tổ chức thực hiện thì sẽ không co quá
trình tổ chức thực tiễn.
Thực hiện quyết định là nội dung quan trọng, cốt lõi của tổ chức thực


rõ ràng rồi mới kết luận. Kết luận đo sẽ là cái chìa khoa phát triển công việc
và để giúp cho cán bộ tiến tới” [36, tr.256]. Bên cạnh khả năng lãnh đạo, quản
lý của người lãnh đạo chỉ huy thì việc tổng kết, đánh giá cũng chính là bước
cuối cùng của chu trình tổ chức thực tiễn, đồng thời no cũng mở ra một chu
trình mới cho hoạt động này. Từ tổng kết, đánh giá việc tổ chức thực hiện các
quyết định lãnh đạo của mình, người lãnh đạo co cái nhìn bao quát, toàn diện
về quá trình lãnh đạo, qua phân tích, đánh giá, so sánh giúp ta thấy được
những thuận lợi, kho khăn khi tổ chức thực hiện, để đưa ra những phương
pháp phù hợp trong thời gian tiếp theo. Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá việc
thực hiện các quyết định lãnh đạo, quản lý còn giúp người lãnh đạo quản lý
đánh giá một cách khách quan, toàn diện về năng lực, trình độ, phẩm chất của
đội ngũ cán bộ của mình để từ đo co hướng đào tạo, bồi dưỡng và bố trí, sắp
xếp một cách hợp lý.
Từ ý nghĩa quan trọng của tổng kết, đánh giá việc tổ chức thực hiện các
quyết định, để khái quát và rút ra các vấn đề co giá trị cốt lõi, trọng tâm nhằm
bổ sung, hoàn thiện và phát triển lý luận. Tuy nhiên, việc tổng kết, đánh giá
việc thực hiện các quyết định co ý nghĩa hay không, co hiệu quả như thế nào,
co tránh được việc tổng kết chỉ đánh giá ở các hiện tượng đang diễn ra, không
đi vào đánh giá đúng bản chất của vấn đề; tổng kết chỉ liệt kê, mô tả một cách
chung chung; tổng kết dạng “làm báo cáo, báo cáo hay”, khắc phục được
bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí, bệnh kinh nghiệm, không tôn trọng khách
quan, điều đo phụ thuộc rất lớn vào vai trò của người lãnh đạo, quản lý trong
quá trình tổng kết thực tiễn. Người lãnh đạo, quản lý co năng lực sẽ lựa chọn
được vấn đề cần tổng kết, luôn co trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các
vấn đề cấp bách mà thực tiễn đang cần, những vấn đề mà khi tổ chức thực
hiện còn vướng mắc, chưa tháo gỡ hay phát sinh các yêu cầu khác khi thực
hiện. Ngoài việc tổng kết, đánh giá việc thực hiện các quyết định tại cơ quan,

23

hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận,
thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước”.
Với mỗi một cơ quan, tổ chức thì tiêu chuẩn cán bộ co những đặc điểm, yêu

24

24


25

cầu riêng nhưng cũng co nét tương đồng. Cán bộ phải co tiêu chuẩn nhất định
về phẩm chất đạo đức, tiêu chuẩn về chính trị, co kiến thức, trình độ chuyên
môn phù hợp với vị trí mà mình được bầu, bổ nhiệm.
Lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng và dẫn dắt hành vi của cá nhân hay
nhom người nhằm hướng tới mục tiêu của tổ chức [20]. Lãnh đạo là một dạng
hoạt động lâu đời trong xã hội loài người, từ thời nguyên thủy đến xã hội hiện
đại. Lãnh đạo là một nhu cầu thiết yếu của một nhom người, được hình thành
từ sự phối hợp hoạt động của nhiều người, dựa trên sự phân công và hợp tác
trong quá trình lao động. Lãnh đạo được tiếp cận dưới nhiều goc độ, khía
cạnh khác nhau, lãnh đạo co thể là sự điều khiển, hướng dẫn, dẫn dắt, định
hướng cho tập thể, cá nhân hoạt động theo chủ trương, đường lối nhất định
nhằm đạt mục tiêu đã đề ra. Hoạt động lãnh đạo là cả một quá trình phức tạp,
là nghệ thuật; lãnh đạo đưa con người, một nhom người tự nguyện, nhiệt tình
phấn đấu và đạt được mục tiêu đã đề ra.
Cùng với lãnh đạo, quản lý ra đời từ sự phân công lao động trong xã hội
nhằm đạt được hiệu quả cao hơn. Quản lý là một hiện tượng xã hội, tồn tại
trong mọi chế độ xã hội, bất kỳ khi nào con người co nhu cầu kết hợp với
nhau để đạt đến mục tiêu chung. Theo nghĩa Hán Việt, quản lý là bao gồm
“quản” và “lý”, “quản” là sự trông coi, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status