Nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh - Pdf 16


Học viện chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh báo cáo tổng kết
Đề tài khoa học cấp bộ năm 2007

Tên đề tài:
Nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn
của đội ngũ cán bộ lnh đạo chủ chốt
cấp tỉnh vùng đồng bằng Sông Hồng

Mã số: B.07-05

Cơ quan chủ trì: Viện Triết học
Chủ nhiệm đề tài: PGS, TS Trần Văn Phòng
Th ký khoa học: Th.s Đặng Quang Định

6771
28/3/2007

Hà Nội, năm 2007
2
Danh sách cộng tác viên tham gia đề tài


Mục lục
Trang
Mở đầu

4
Chơng 1:
Năng lực tổng kết thực tiễn và vai trò của nó
đối với hoạt động lnh đạo của cán bộ lnh đạo chủ chốt
cấp tỉnh

9
1.1. Năng lực tổng kết thực tiễn và những nhân tố ảnh hởng đến
năng lực tổng kết thực tiễn.
9
1.2. Vai trò của NLTKTT đối với hoạt động lãnh đạo của cán bộ
lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh.
18
Chơng 2:
Năng lực tổng kết thực tiễn của cán bộ lnh
đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng Thực
trạng và vấn đề đặt ra

32
2.1. Đặc điểm đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt vùng đồng bằng
sông Hồng.
32
2.2. Những nhân tố khách quan ảnh hởng tới NLTKTT của
đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt vùng ĐBSH.
36
2.3. Thực trạng NLTKTT của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt


Ch÷ ®−îc viÕt t¾t Ch÷ viÕt t¾t
C«ng nghiÖp ho¸, hiÖn ®¹i ho¸ CNH,H§H
§ång b»ng s«ng Hång §BSH
N¨ng lùc tæng kÕt thùc tiÔn NLTKTT
Tæng kÕt thùc tiÔn TKTT 5
Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài.

Đại hội IX của Đảng đề ra nhiệm vụ: Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và
nghiên cứu lý luận, thảo luận dân chủ, sớm làm rõ và kết luận những vấn đề mới,

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG,H. 2001, tr. 141
2
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, NxbCTQG,H. 2006, tr.131

6
công cuộc đổi mới đang đặt ra nhiều vấn đề mới đòi hỏi phải đợc tổng kết rút
kinh nghiệm kịp thời.
Cấp tỉnh là đơn vị hành chính với những điều kiện về quy mô kinh tế, chính
trị, xã hội, an ninh, quốc phòng, văn hoá, giáo dục v.v.. có đủ điều kiện để có thể
tổng kết nhằm rút ra những vấn đề có tính lý luận góp phần bổ sung, hoàn thiện
chủ trơng, đờng lối của Đảng, chính sách của Nhà nớc cũng nh bổ sung,
hoàn thiện, phát triển lý luận. Các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) có vị
trí chiến lợc quan trọng trong sự phát triển của cả nớc.
Thực tiễn 20 năm đổi mới cho thấy, cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng
ĐBSH không chỉ biết triển khai nghị quyết của cấp trên vào địa bàn vùng mà còn
biết TKTT góp phần khuyến nghị với Trung ơng kịp thời bổ sung, phát triển lý
luận, hoàn thiện chủ trơng, chính sách, pháp luật. Tuy nhiên, có không ít cán bộ
lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng ĐBSH còn cha kịp thời TKTT một số vấn đề
nảy sinh từ thực tế địa bàn vùng. Cho nên họ còn lúng túng, bị động trong xử lý,
giải quyết một số vấn đề của địa phơng. Trong khi đó đòi hỏi của sự nghiệp đổi
mới ở vùng ĐBSH phải kịp thời TKTT góp phần chỉ đạo sự nghiệp đổi mới tiến
lên. Trên thực tế việc TKTT của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng này vẫn
còn chậm và cha đáp ứng yêu cầu. Tình hình này phản ánh NLTKTT của đội
ngũ cán bộ này phần nào còn bị hạn chế, cha đáp ứng yêu cầu đổi mới, đặc biệt
là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH. Do đó, vấn đề Nâng cao năng lực tổng
kết thực tiễn của cán bộ lnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông
Hồng là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Vấn đề NLTKTT của cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung, cán bộ lãnh đạo
chủ chốt cấp tỉnh là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, song

Tuy nhiên, tác giả tập trung chủ yếu vào phân tích năng lực tổ chức thực tiễn.
Tác giả Võ Minh Khang trong luận văn thạc sỹ Nâng cao năng lực tổng kết
thực tiễn cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện đồng bằng sông Cửu Long (qua
thực tế tỉnh Bạc Liêu) đã bớc đầu đa ra đợc quan niệm về NLTKTT cũng
nh kết cấu của nó nh: năng lực lựa chọn vấn đề TKTT; năng lực tiếp nhận, xử

8
lý thông tin cho TKTT, năng lực khái quát kinh nghiệm thực tiễn, năng lực vận
dụng kết quả TKTT vào tổ chức chỉ đạo thực tiễn tiếp theo của đội ngũ cán bộ
này. Tác giả cũng bớc đầu đề xuất đợc một số giải pháp nhằm từng bớc nâng
cao NLTKTT cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện đồng bằng sông Cửu Long.
Tuy nhiên, nhìn chung, NLTKTT vẫn còn là mảng trống cần tiếp tục nghiên
cứu, nhất là xem xét NLTKTT của đối tợng cụ thể là cán bộ lãnh đạo chủ chốt
cấp tỉnh vùng ĐBSH.
3. Mục đích của đề tài.

Trên cơ sở phân tích thực trạng NLTKTT của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp
tỉnh vùng ĐBSH, đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm từng bớc nâng cao
NLTKTT của đội ngũ cán bộ này đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH hiện nay.
4. Nhiệm vụ của đề tài.
- Phân tích NLTKTT và vai trò của nó đối với hoạt động lãnh đạo của cán bộ
chủ chốt cấp tỉnh.
- Chỉ ra thực trạng NLTKTT của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt vùng
ĐBSH cùng những nguyên nhân của thực trạng này.
- Đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp nhằm từng bớc nâng cao
NLTKTT cho đội ngũ cán bộ này.
5. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu.
- Đối tợng nghiên cứu là NLTKTT ở cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh,
gồm các đồng chí là Tỉnh uỷ viên, trong đó có những đồng chí là Trởng, phó
các ban ngành chủ chốt của các tỉnh, Bí th Huyện uỷ.


10
Chơng 1

Năng lực tổng kết thực tiễn
và vai trò của nó đối với hoạt động lnh đạo
của cán bộ lnh đạo chủ chốt cấp tỉnh 1.1.
Năng lực tổng kết thực tiễn và những nhân tố ảnh hởng
đến năng lực tổng kết thực tiễn.

1.1.1. Năng lực tổng kết thực tiễn.
Tổng kết thực tiễn (TKTT) là một mắt khâu không thể thiếu trong quy
trình tổ chức thực tiễn. Nó có vai trò hết sức to lớn trong sự phát triển của lý luận,
khắc phục bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều, góp phần quan trọng vào quán triệt
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. TKTT là phơng thức cơ bản để
bổ sung, hoàn thiện chủ trơng, đờng lối của Đảng, chính sách pháp luật của
Nhà nớc. TKTT vừa là nhiệm vụ, vừa là yêu cầu bắt buộc đối với cán bộ lãnh
đạo, quản lý. TKTT, xét về bản chất là hoạt động trí tuệ; là quá trình bằng t duy

vận dụng những bài học kinh nghiệm rút ra từ TKTT. Những yếu tố này quan hệ
mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung cho nhau, cùng nhau ảnh hởng tới
chất lợng TKTT.
Trong khuôn khổ giới hạn của đề tài này, chúng ta đi sâu tìm hiểu về năng
lực tổng kết thực tiễn. Vậy, năng lực là gì? thế nào là năng lực TKTT?.
Theo Từ điển Tiếng Việt, do Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành năm 2000,
Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một
hoạt động nào đó ở mức độ cao, hoặc năng lực đợc hiểu là những phẩm chất của
con ngời tạo cho con ngời đó khả năng hoàn thành có kết quả một quá trình
hoạt động nhất định
4
. Năng lực còn đợc hiểu là Tổng hợp những thuộc tính
độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu đặc trng của một hoạt động
nhất định nhằm đảm bảo hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy
5
.
Nh vậy, năng lực nói chung thờng đợc hiểu là khả năng của chủ thể trong
việc thực hiện có hiệu quả tối đa một công việc cụ thể, một hoạt động cụ thể nào
đó trong những điều kiện nhất định; là những phẩm chất của con ngời tạo cho
họ có khả năng hoàn thành một công việc nào đó có hiệu quả nhất
6
. Khi nói đến
năng lực là nói đến năng lực của từng con ngời - chủ thể cụ thể. Đó là con ngời 4
Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng 2000, tr. 639
5
Bùi Văn Huệ: Giáo trình tâm lý học, NxbĐHQG, H. 2000, tr. 174
6

cũng nh khắc phục các căn bệnh kinh nghiệm, giáo điều.
Khả năng lập chơng trình, kế hoạch, tổ chức lực lợng TKTT một cách tối
u nhất cũng đóng vai trò rất quan trọng trong TKTT. Nó thể hiện tính chủ động,

13
tính tự giác, tính khoa học trong TKTT của chủ thể. Nếu không có chơng trình,
kế hoạch cụ thể, chi tiết cho TKTT thì rất có thể việc TKTT sẽ bị động, khó mà
đạt hiệu quả mong muốn; vấn đề cần tổng kết có thể bị bỏ qua, còn vấn đề cha
cần tổng kết lại đợc tổ chức tổng kết. Khi ấy những vấn đề có tình huống do
cuộc sống thực tiễn đặt ra sẽ bị cuộc sống vợt qua. Nh vậy, việc TKTT sẽ trở
nên thừa vì nó không đáp ứng về mặt thời gian của vấn đề cần tổng kết. TKTT sẽ
trở nên theo đuôi cuộc sống mà không góp phần chỉ đạo đợc cuộc sống, đợc
hoạt động thực tiễn cũng nh hoạt động lý luận tiếp theo. Đồng thời, việc tổ chức
tốt lực lợng tham gia TKTT cũng hết sức quan trọng, góp phần nâng cao hiệu
quả TKTT, phát huy đợc năng lực của các lực lợng am hiểu chuyên môn, am
hiểu thực tiễn vào TKTT. Nói khác đi, khi ấy sẽ phát huy đợc vai trò trí tuệ tập
thể trong TKTT. Phát huy tốt vai trò của lực lợng TKTT cũng rất quan trọng, nó
góp phần đảm bảo cho TKTT đạt kết quả tối u nhất. Bởi lẽ, chủ thể tiến hành
TKTT không thể có đủ hiểu biết về tất cả những vấn đề của cuộc sống, không đủ
thời gian để thực hiện TKTT. Vì vậy, tổ chức lực lợng tham gia TKTT một cách
hợp lý sẽ tranh thủ đợc khả năng chuyên môn, sự am hiểu thực tiễn của nhiều
ngời, phát huy đợc sức mạnh tập thể. Trên cơ sở đó, TKTT sẽ đạt hiệu quả và
phát huy vai trò đối với hoạt động lãnh đạo của đội ngũ cán bộ lãnh đạo nói
chung.
Khả năng thu thập, phân tích, xử lý thông tin trong TKTT một cách
nhanh nhạy, chính xác, kịp thời đúng đắn đóng vai trò đặc biệt quan trọng để
TKTT có đợc đánh giá chính xác, phản ánh chân thực những gì thực tiễn đang
diễn ra. Nguồn thông tin không kịp thời, không chính xác không chỉ làm sai lệch
kết quả TKTT mà nó còn làm mất đi tính thời sự của vấn đề cần tổng kết, tiếp
cận.

chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn tiếp theo. Nếu chủ thể TKTT
không có khả năng vận dụng các bài học kinh nghiệm vào chỉ đạo thực tiễn và
nhận thức tiếp theo thì TKTT sẽ không phát huy đợc vai trò, ý nghĩa của mình.
Do đó, năng lực vận dụng các bài học kinh nghiệm thực tiễn vào hoạt động nhận
thức và hoạt động thực tiễn tiếp theo là yêu cầu, đòi hỏi ở mỗi ngời cán bộ lãnh
đạo, quản lý. Cũng do vậy, ngời có NLTKTT không thể không có khả năng vận

15
dụng các bài học kinh nghiệm vào chỉ đạo hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận
thức tiếp theo.
Nh vậy, có thể thấy, NLTKTT đóng vai trò hết sức quan trọng trong quy
trình, tổ chức thực hiện TKTT cũng nh hiệu quả TKTT. NLTKTT cũng nh mọi
năng lực khác vừa là sản phẩm của tự nhiên (sinh học) vừa là sản phẩm mang
tính lịch sử xã hội. Tuy nhiên, mặt tự nhiên (sinh học) chỉ thực sự trở thành năng
lực và đợc phát huy khi nó thẩm thấu qua hoạt động thực tiễn, hoạt động tự học
tập, rèn luyện của chủ thể. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: Năng lực của con
ngời không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do
tập luyện mà có
7
.
1.1.2. Những nhân tố ảnh hởng tới NLTKTT.
Trớc hết, NLTKTT phụ thuộc vào các yếu tố sinh học của chủ thể TKTT,
nh hoạt động của t duy, của hệ thần kinh cấp cao, của trí nhớ, của sự thông
minh, của sức khoẻ thể chất, v.v.. Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, con
ngời là thực thể sinh học - xã hội. Mặt sinh học của con ngời phụ thuộc vào
quy luật tự nhiên nh các thuộc tính sinh học, tính di truyền, biến dị, đồng hóa,
dị hóa,v.v.. trong quá trình sinh sản và phát triển. Mỗi con ngời đợc sinh ra và
lớn lên đều mang gen di truyền từ bố mẹ. Sự di truyền theo hớng trội, hớng tốt
sẽ tạo ra thế hệ mới có một cơ thể khoẻ mạnh, t chất thần kinh tốt, có khả năng
phát triển cao về sức khoẻ và trí tuệ. Nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế

ngời đợc hình thành, củng cố, phát triển. Hoàn cảnh kinh tế xã hội nh là
chất men kích thích những năng lực của con ngời nảy sinh, phát triển. Hoàn
cảnh kinh tế xã hội không chỉ là nguồn gốc sâu sa của những năng lực của con
ngời, mà nó còn đặt ra đòi hỏi, yêu cầu con ngời phải có các năng lực khác
nhau, trong đó có NLTKTT.
Các thiết chế chính trị xã hội trong hoàn cảnh kinh tế xã hội cũng ảnh
hởng tới NLTKTT của con ngời. Chẳng hạn, thiết chế - xã hội tiến bộ, dân
chủ, đời sống văn hoá, tinh thần lành mạnh, v.v.. sẽ là những môi trờng thuận
lợi cho mọi năng lực của con ng
ời, trong đó có NLTKTT phát triển. Ngợc lại,
thiết chế chính trị - xã hội không dân chủ, đời sống kinh tế, văn hoá lạc hậu,v.v..
sẽ ảnh hởng tiêu cực tới mọi năng lực của con ngời, trong đó có NLTKTT.
Môi trờng kinh tế xã hội còn bao hàm trong nó môi trờng, điều kiện
làm việc của con ngời - chủ thể tổng kết thực tiễn. Chẳng hạn, điều kiện làm
việc tốt, trang thiết bị máy móc, phơng tiện,v.v..đợc trang bị đầy đủ sẽ giúp
con ngời thu nhận và xử lý thông tin chính xác, nhanh nhạy, kịp thời. Trên cơ sở

17
đó giúp TKTT hiệu quả hơn. Ngợc lại, điều kiện làm việc không thuận lợi, thì
những năng lực của con ngời không có điều kiện để phát triển.
Thứ ba, giáo dục, đào tạo ảnh hởng trực tiếp đến NLTKTT của con
ngời. Có thể nói, NLTKTT của con ngời luôn tỉ lệ thuận với vốn tri thức mà
con ngời thu nhận đợc từ giáo dục, đào tạo; từ việc tự học tập, tự rèn luyện, tự
trau dồi của bản thân con ngời. Giáo dục, đào tạo là con đờng ngắn nhất trang
bị cho chủ thể TKTT những tri thức khoa học, đặc biệt là những nguyên tắc
phơng pháp luận chung của phép biện chứng duy vật. Trên cơ sở đó, con ngời
mới nâng cao đợc năng lực lựa chọn vấn đề TKTT; năng lực xử lý thông tin;
năng lực khái quát hoá để rút ra những bài học kinh nghiệm có tính lý luận cao
và năng lực vận dụng các bài học kinh nghiệm vào chỉ đạo thực tiễn và nhận thức
tiếp theo. Giáo dục, đào tạo còn trang bị cho chủ thể TKTT những nguyên tắc

tiếp, quan trọng tới NLTKTT. Có thể nói, mọi hoạt động của con ngời, trong đó
có hoạt động TKTT, đều nhằm đạt mục đích nhất định để thoả mãn nhu cầu, lợi
ích của mình. Khi lợi ích đợc bảo đảm sẽ là nguồn động viên thúc đẩy chủ thể
trau dồi, rèn luyện, phát triển năng lực nói chung, NLTKTT nói riêng. Ngợc lại,
khi lợi ích không đợc bảo đảm, sẽ ít nhiều ảnh hởng đến NLTKTT của chủ thể.
Do vậy, cái chi phối mục đích hoạt động của con ngời là lợi ích. Nhu cầu và lợi
ích là cái luôn luôn chi phối suy nghĩ, hành động của con ngời. Liên quan đến
TKTT thì tổng kết nh thế nào, có hiệu quả không, các kết luận rút ra có tính
khái quát không, v.v..phụ thuộc nhiều vào năng lực của chủ thể TKTT. Mà chủ
thể TKTT lại bị nhu cầu, lợi ích chi phối. Nói khác đi, động cơ t tởng hay mục
đích đợc hình thành bởi sự tác động của hoàn cảnh thực tiễn đối với con ngời
cũng chính là lợi ích, trong đó bao hàm cả tri thức đợc đúc kết trong hoạt động
thực tiễn, đợc hình thành nhằm thoả mãn những nhu cầu mới đợc hình thành
(tức là những vấn đề thực tiễn mới đang đợc đặt ra). Chính theo nghĩa đó thì lợi
ích của con ngời bao giờ cũng gắn chặt với những kết quả - những bài học kinh
nghiệm đợc tổng kết và rút ra từ trong hoạt động thực tiễn. Cũng chính vì lợi ích
là sự phản ánh trực tiếp mối quan hệ giữa ngời và ngời trong hoạt động thực
tiễn, cho nên những bài học kinh nghiệm đợc rút ra từ trong hoạt động thực tiễn
ấy dù phản ánh quy luật khách quan thì bao giờ cũng mang tính chủ quan tính
lợi ích của chủ thể TKTT và tổ chức thực tiễn. Vì vậy, nếu những lợi ích ấy phản
ánh đợc lợi ích chung của xã hội thì những bài học kinh nghiệm đ
ợc rút ra
càng có tác dụng tích cực trong việc chỉ đạo thực tiễn tiếp theo của toàn xã hội.
Nhu cầu, lợi ích còn ảnh hởng trực tiếp đến thái độ, động cơ TKTT cũng nh
thái độ, ý thức phấn đấu rèn luyện nâng cao NLTKTT của bản thân từng ngời.
Ngời có động cơ không trong sáng vì lợi ích cá nhân,v.v..thì TKTT không thể

19
khách quan, trung thực và cũng khó mà nâng cao đợc NLTKTT. Hoặc nếu nh
có NLTKTT nhng động cơ không đúng thì sẽ chỉ là ngời có tài mà không có

9
.
Hoạt động lãnh đạo có bản chất là sự tác động, định hớng, điều chỉnh
hành vi đối với đối tợng lãnh đạo cũng là con ngời với nhu cầu, lợi ích, tình
cảm,v.v.. - nhằm đạt tới một mục tiêu nhất định. Chính vì vậy, chủ thể lãnh đạo,
một mặt phải am hiểu công việc, mặt khác phải am hiểu con ngời - đối tợng
lãnh đạo. Chỉ trên cơ sở đó hoạt động lãnh đạo mới có kết quả.
Hoạt động lãnh đạo có nhiều khâu, nhiều bớc nh: Thu thập và xử lý
thông tin; ra quyết định; xử dụng cơ quan tham mu, chuyên gia (phòng ban
chuyên môn) tổ chức thực hiện các quyết định; tổ chức việc kiểm tra thực hiện
các quyết định; tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện các quyết định để chuẩn
bị cho việc ra quyết định tiếp theo. Nh vậy, tổng kết rút kinh nghiệm việc thực
hiện các quyết định (thực chất là tổng kết thực tiễn) để chuẩn bị cho việc ra quyết
định tiếp theo là nhiệm vụ không thể thiếu của ngời lãnh đạo nói chung. Hoạt
động của chủ thể lãnh đạo ở các cấp khác nhau có thể khác nhau về hình thức,
quy mô, mức độ, phạm vi và lĩnh vực,v.v..(chẳng hạn lãnh đạo cấp tỉnh khác lãnh
đạo cấp huyện, quận) nhng về bản chất là giống nhau.
Cán bộ lãnh đạo cũng khác với cán bộ quản lý. Quản lý đợc hiểu là Tổ
chức và điều khiển các hoạt động theo những yếu cầu nhất định
10
. Nh vậy,
quản lý cũng là hoạt động có ý thức của con ngời nhằm theo đuổi những mục
đích xác định. Quản lý về cơ bản có những chức năng nh: lập kế hoạch, tổ chức
bộ máy, chỉ đạo, thực hiện sự phối hợp và kiếm soát nguồn lực. ở Việt Nam,
trong nhiều trờng hợp cụ thể, chức năng, nhiệm vụ của cán bộ lãnh đạo và cán
bộ quản lý là thống nhất với nhau, trùng lặp nhau. Sự phân biệt giữa lãnh đạo và
quản lý chỉ có tính tơng đối. Tất nhiên, về bản chất hoạt động lãnh đạo khác
hoạt động quản lý. Sự khác nhau đó đợc thể hiện rõ nhất ở nội dung; mục tiêu;
phơng pháp và phơng tiện. Hoạt động quản lý là nhằm tổ chức, sắp xếp, chỉ
đạo các hoạt động thuộc phạm vi quản lý theo một trật tự, quy trình nhất định.

quyết định phản ánh đúng chủ trơng, đờng lối, chính sách của Trung ơng,
đồng thời phải phù hợp với thực tiễn địa bàn tỉnh mà họ phụ trách.
ở Việt Nam, hoạt động của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh nh thế nào
sẽ ảnh hởng trực tiếp đến bộ mặt quốc gia nh thế ấy. Vì vậy, chất lợng lãnh
đạo của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh có ý nghĩa to lớn đối với việc
tổ chức thực hiện chủ trơng, đờng lối, chính sách của Trung ơng ở cơ sở. Chủ
trơng, đờng lối, chính sách của Trung ơng có triển khai, tổ chức thực hiện
đợc ở cấp dới hay không phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động lãnh đạo của đội

22
ngũ cán bộ này. Hơn nữa, tỉnh là địa bàn TKTT tơng đối có quy mô đủ để phát
hiện những vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn giúp Trung ơng nghiên cứu, bổ
sung, hoàn thiện chủ trơng, đờng lối, chính sách và khái quát thành lý luận cho
phù hợp thực tiễn mới. Cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện cũng phải bao quát
tất cả các mặt kinh tế xã hội, chính trị, an ninh, quốc phòng,v.v..Tuy nhiên,
phạm vi và mức độ bao quát của họ trên địa bàn hẹp hơn, trên quy mô nhỏ hơn
rất nhiều so với cấp tỉnh.
Xung quanh khái niệm cán bộ chủ chốt còn nhiều ý kiến khác nhau,
cha thống nhất. Nhng đa số các ý kiến cho rằng, cán bộ chủ chốt là những
ngời có chức năng lãnh đạo, đợc giao nhiệm vụ đảm nhận những nhiệm vụ
quan trọng trong bộ máy lãnh đạo, quản lý, để điều hành và tổ chức thực hiện các
nhiệm vụ đợc giao. Chúng tôi tán thành với quan điểm cho rằng, cán bộ lãnh
đạo chủ chốt là những ngời đứng đầu quan trọng nhất, có chức vụ cao nhất
trong một tập thể, có quyền ra những quyết định về chủ trơng, có trách nhiệm
và quyền điều hành một tập thể, một đơn vị, một tổ chức để thực hiện những
nhiệm vụ của tập thể hoặc tổ chức ấy, thậm chí có thể chi phối, dẫn dắt toàn bộ
hoạt động của một tổ chức nhất định
11
. Nh vậy, ngời cán bộ lãnh đạo chủ chốt
cấp tỉnh bao gồm toàn bộ Ban chấp hành đảng bộ tỉnh, họ giữ những cơng vị

sống chính trị xã hội trên địa bàn tỉnh. Lênin thờng xuyên nhắc nhở phải: "chú ý
tìm ra và thử thách một cách hết sức nhẫn nại, hết sức thận trọng những ngời
thực sự có tài tổ chức, những ngời có bộ óc sáng suốt và có bản lĩnh tháo vát
trong thực tiễn, những ngời vừa trung thành với CNXH lại vừa có năng lực lặng
lẽ (bất chấp sự hỗn loạn và ồn ào) tổ chức công tác chung vững chắc và nhịp
nhàng của một khối ngời to lớn trong phạm vi tổ chức xô-viết. Chỉ có những
ngời nh thế, chúng ta mới đề bạt lên những chức vụ lãnh đạo lao động của
nhân dân, lên những chức vụ lãnh đạo, quản lý, sau khi đã thử thách họ hàng
chục lần bằng cách cho họ đảm nhận từ những nhiệm vụ đơn giản nhất đến
những nhiệm vụ khó khăn nhất"
12
.
3) Có tinh thần cách mạng sáng tạo, tinh thần dân chủ và tính quyết đoán
chính trị. Với tinh thần trách nhiệm cao, quyết tâm chống độc đoán, chuyên
quyền. Gơng mẫu về đạo đức, lối sống, có trách nhiệm cao trong cuộc sống 12
Lênin toàn tập, tập 36, Nxb TB, M, 1977, tr. 236 - 237. 24
gia đình và với cộng đồng, trung thực với đồng chí, với nhân dân và với chính
bản thân mình, tiêu biểu cho lẽ phải công bằng trong đời sống xã hội.
4) Có tri thức văn hoá nhất định, có phong cách công tác khoa học, có kinh
nghiệm, có nghệ thuật trong hoạt động lãnh đạo, quản lý, có sức truyền cảm
chính trị trong quần chúng và biết dùng ngời. Tức là, họ phải là những con
ngời hành động, có năng lực sáng tạo cao, có bản lĩnh và phong cách của nhà
lãnh đạo, nhà tổ chức. Họ phải thể hiện mình nh là sự phản ánh, sự kết tinh
những tinh hoa của địa phơng, ngời thể hiện và đáp ứng những gì mà dân

là ngời tổ chức tập hợp quần chúng nhân dân thực hiện chủ trơng chính sách
đó. Chức năng cơ bản của ngời cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh là tuyên
truyền, tổ chức, huấn luyện, động viên quần chúng nhân dân, biết khơi dậy đợc
những tiềm năng sáng tạo của họ, khiến họ chủ động tìm kiếm những biện pháp
có hiệu quả nhất để thực hiện có hiệu quả chủ trơng của Đảng, chính sách của
Nhà nớc .
Hai là, hoạt động lãnh đạo của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh phải là
hoạt động tự giác, chủ động, sáng tạo. Ngời cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh
không phải là ngời chỉ biết theo chỉ thị của cấp trên một cách thụ động, máy
móc mà chính họ biết chủ động, tự giác vận động mọi lực lợng thực tiễn để hiện
thực hoá t tởng một cách sáng tạo. Sáng tạo là bản chất của mọi lao động chân
chính, là tổng hợp sự phát triển cao của thể chất và tinh thần, là sản phẩm của
quá trình lao động trí tuệ của cá nhân. Mặt khác, họ còn là ngời có năng lực đề
xuất, phát hiện, có sáng kiến để giải quyết kịp thời những vấn đề do thực tiễn trên
địa bàn tỉnh đặt ra. Họ có khả năng tích luỹ kinh nghiệm của bản thân và của
ngời khác, cho những khám phá mới, đa đến những nhận thức mới.
Ba là, hoạt động lãnh đạo của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh phải biết
khơi dậy tính tích cực xã hội của nhân dân trong tỉnh. Tức là khơi dậy đợc sự
hăng hái, chủ động, sáng tạo trong hoạt động của quần chúng và cán bộ, đảng
viên trong các tổ chức chính trị xã hội nhằm tạo ra những biến đổi xã hội hợp quy
luật. Ngày nay trong quá trình xây dựng CNXH, đòi hỏi ngời cán bộ lãnh đạo
chủ chốt cấp tỉnh phải biết nâng cao tính tích cực chính trị, thắng không kiêu, bại
không nản; giầu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status